Tài liệu Sự thâm nhập của từ địa phương miền Nam vào tiếng Việt toàn dân giai đoạn 1945–1975 - Pdf 10

Sự thâm nhập của từ địa phương miền Nam
vào tiếng Việt toàn dân giai đoạn 1945–1975
(Qua tư liệu văn học đối chiếu với từ điển)
• Nguyễn Tài Thái – Phạm Văn Hảo

1. Vấn đề

Trong sự phát triển của hệ thống từ vựng một ngôn ngữ, vốn từ phương ngữ đóng
một vai trò khá quan trọng trong việc bổ sung từ mới và khái niệm mới. Đây
dường như là một quy luật tất yếu được quy định bởi rất nhiều nhân tố. Bài viết
này sẽ tìm hiểu sự thâm nhập của từ địa phương miền Nam vào tiếng Việt toàn dân
giai đoạn 1945–1975 qua một số tác phẩm văn học có đối chiếu với tư liệu từ điển
để phần nào thấy được sự phát triển cũng như vai trò của tiếng miền Nam trong
vốn từ tiếng Việt.

Chúng ta đều biết, xã hội Việt Nam giai đoạn 1945–1975 có rất nhiều biến động,
đầu tiên đó là sự kiện thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tháng 9 năm
1945, tiếp theo là cuộc kháng chiến diễn ra trên khắp miền Nam chống Pháp trong
9 năm, rồi đến cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ và cuối cùng là sự kiện giải
phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975. Chính điều kiện xã hội có nhiều
biến động như vậy đã ảnh hưởng không chỉ đối với đời sống xã hội mà còn ảnh
hưởng rất nhiều đến ngôn ngữ. Có thể thấy, cả giai đoạn này nền văn học chiến đấu
Việt Nam phát triển khá mạnh mẽ và từ địa phương miền Nam cũng được dùng
trong các tác phẩm văn học khá nhiều. Đây chính là cơ sở để từ địa phương miền
Nam tham gia vào hệ thống của từ phổ thông, bổ sung những từ mới và khái niệm
mới, mặt khác, mở rộng phạm vi khả năng hoạt động và làm phong phú thêm vốn
từ tiếng Việt.


ruột, lục bình, 87 từ là biến thể ngữ âm. Ví dụ: chánh trị, bữa hổm, gởi, tánh
mạng, sanh, tợ, suôi gia, nói trổng, ngưng, thâu, ngoải, nhểu, 221 từ là các biến
thể từ vựng khác. Ví dụ: dưa leo, hớt tóc, đổ thừa, ớt hiểm, nước miếng, sình, rầy,
trái cây, chết xỉu, bông trang, nói dóc, ở trần, tiệm, Hầu hết những từ địa phương
này đều được thu thập trong "Từ điển đối chiếu tiếng địa phương" và có tần số xuất
hiện tương đối nhiều (thường không dưới 3 lần). Chúng không chỉ xuất hiện trong
lời đối thoại của các nhân vật mà còn xuất hiện nhiều trong lời dẫn truyện của tác
giả và rất tự nhiên, khiến người đọc không có cảm giác bị tắc nghẽn khi gặp những
cách nói mang tính địa phương.

3. Sự thâm nhập của từ địa phương miền Nam vào hệ thống từ phổ thông giai
đoạn 1945–1975

Sự thâm nhập của từ địa phương vào ngôn ngữ chung bao giờ cũng là một quá
trình tương đối dài và phức tạp. Có khi để có thể chiếm được vị trí trong hệ thống,
từ địa phương phải trải qua quá trình "đấu tranh giành vị trí" với từ phổ thông. Một
từ địa phương muốn bước ra khỏi hệ thống của nó để nhập vào hệ thống từ toàn
dân được dùng phổ biến thì:

– Trước hết đó phải là những từ có tính phổ biến cao, gần gũi với đời sống xã hội
của người dân trong cả nước và chúng thường có sức sống mạnh mẽ, hoặc;

– Đó là những từ chỉ các khái niệm chưa có trong tiếng phổ thông, được tiếng Việt
toàn dân thu thập để bổ sung khái niệm mới.

Như vậy, chúng ta thấy rằng điều kiện để một từ địa phương thâm nhập vào vốn từ
toàn dân trước hết và cơ bản chính ở là khả năng và sức sống của chúng. Điều này
hoàn toàn khác với việc từ địa phương được sử dụng trong đời sống xã hội bởi lẽ
có rất nhiều từ địa phương mặc dù vẫn được sử dụng nhưng không thể tham gia
được vào hệ thống từ toàn dân do trong ngôn ngữ toàn dân đã có từ tương đương

nghiên cứu trước đây đề cập đến [6:251–266], [16:95]. Tuy nhiên việc chúng "đi
vào" vào hệ thống của ngôn ngữ toàn dân như thế nào thì lại có rất ít người quan
tâm.

3.2. Sự thâm nhập của từ địa phương miền Nam giai đoạn 1945–1975

Có thể khẳng định rằng, văn học là một phương thức để tái hiện cuộc sống. Chính
văn học đã dựa trên những đặc điểm thực tế cuộc sống để khái quát và phản ánh
cuộc sống dưới con mắt nghệ thuật của nhà văn; làm cho cuộc sống trở nên sinh
động và gần gũi hơn trên các trang sách. Để có được giá trị đó, việc sử dụng từ địa
phương có một vai trò không nhỏ. Đây là nguồn bổ sung quan trọng và làm phong
phú thêm vốn từ vựng của ngôn ngữ toàn dân.

Như đã đề cập, trong các tác phẩm văn học ở miền Nam giai đoạn 1945–1975 từ
địa phương được dùng tương đối nhiều với các lớp lang có đặc điểm và giá trị khác
nhau. Trong đó có những lớp rất dễ dàng thâm nhập vào ngôn ngữ toàn dân nhưng
lại cũng có những lớp không thể thâm nhập được bởi rất nhiều nguyên nhân khác
nhau.

Trước hết có thể thấy những từ địa phương mới xuất hiện trong cuộc kháng chiến
chống Mĩ sẽ dễ dàng được thâm nhập vào ngôn ngữ toàn dân. Những bá đỏ, ngựa
trời, mũ tai bèo, chém vè, phá banh, bố, ác ôn, đồng khởi, bưng biền sẽ rất dễ
dàng trở thành ngôn ngữ toàn dân bởi tính mới mẻ và sinh động của chúng, phản
ánh đúng hoàn cảnh chiến đấu của nhân dân miền Nam: "Bữa đó ảnh bắn cây bá
đỏ, tả xông hữu đột với mấy con trực thăng cá nhái, giải thoát cho hành khách"
(Anh Đức, Xôn xao đồng nước, tr. 127) hay "Hỏi ra mới biêt hôm đó nghe tin giắc
bố ngoài sông, chị mướn xuồng chở ít dưa sang cầu lộ bán, tiện dịp thăm dò tình
hình giặc ngoài đó ra sao" (Nguyễn Thi, Người mẹ anh hùng, tr. 6) Chúng tôi đã
so sánh những từ kiểu này với các từ điển xuất bản trước 1945 thì thấy chúng
không hoặc rất ít xuất hiện. Trong từ điển Văn Tân, hầu hết chúng đều đã được thu

khàn: - Thưa tiểu thư, hẳn tiểu thư đang chờ bồ (người yêu)? (Bên những dòng
sông, tr. 54)) là một từ địa phương miền Nam chỉ người yêu hoặc nhân tình nhưng
rất khó để thay thế bồ bằng nhân tình hoặc người yêu (không thể/ hoặc rất ít gặp
cách nói cặp nhân tình/ cặp người yêu). Mặt khác, có lẽ vì bồ có sức gợi cảm và ấn
tượng hơn nên nó dễ dàng được chấp nhận trong vốn từ toàn dân và được sử dụng
rộng rãi khiến cho không ai nghĩ đó là từ địa phương miền Nam nữa.

Từ rùm beng trong tiếng miền Nam có nghĩa gần giống với từ ầm ở miền Bắc. Tuy
nhiên, rùm beng không thể hoàn toàn thay thế cho ầm bởi sắc thái gợi cảm riêng
của nó, vì thế rùm beng của tiếng miền Nam vẫn được sử dụng trong tiếng Việt
bên cạnh sự tồn tại của ầm trong tiếng miền Bắc. Chính cái "sức sống mạnh mẽ"
của rùm beng mà chúng đã được sử dụng rộng rãi không chỉ riêng ở miền Nam mà
còn ở miền Bắc. Chúng tôi vẫn thấy các tác giả miền Bắc sử dụng rất tự nhiên từ
rùm beng. Ví dụ: Trong khi đem nó đi huấn luyện tình báo, bọn phòng nhì tổ chức
ma chay rùm beng cho nó ở Hải Phòng như chúng ta đã biết (Văn Phan, Nhóm rắn
lục, tr. 154) hoặc "Mẹ nó cái thằng Pháp trước đây thuốc lá của ta trồng, người
mình lại chế biến ra, nó in mẹ nó cái thứ Făng xe vào đi tuyên truyền rùm beng thế
mà thế giới cũng khen nức khen nở (Hương mới, Tập truyện ngắn, tr. 51) Ngay
trong từ điển Văn Tân, rùm beng cũng không được chú địa phương, chứng tỏ từ
này đã bước ra khỏi hệ thống của từ địa phương và được dùng như từ toàn dân.

Cũng tương tự như vậy, các từ nhậu, xỉn, quậy trong tiếng miền Nam vẫn được
xem là có nghĩa tương đương với ăn uống, say, phá phách trong tiếng Việt phổ
thông. Tuy nhiên sự có mặt của các từ này dường như là sinh động và ấn tượng
hơn cái bản chất được thể hiện trong ngôn ngữ toàn dân. Chúng ta có thể thấy rõ sự
khác nhau ở mức độ biểu đạt giữa xỉn và say. Xỉn cũng nói về say rượu nhưng với
mức độ cao hơn. Trên thực tế, những cách nói của nhậu, xỉn, quậy gặp phổ biến
hơn là những cách nói ăn uống, say, phá phách bởi tính chất và xu hướng của
người sử dụng, thích sử dụng những từ mới có sắc thái biểu thị tình thái cao và đặc
biệt là dễ gây ấn tượng. Do đó, xét về mặt lí thuyết cũng như thực tiễn, những từ

của từ toàn dân, có phạm vi và chức năng giao tiếp giống như từ toàn dân. Các từ
đặc trưng của giai đoạn chỉ các hoạt động chiến tranh hầu hết đều được thu thập.

Những con số thống kê trên cho chúng ta thấy được một thực tế là đã có sự thay
đổi về xu hướng sử dụng cũng như về phạm vi và chức năng giao tiếp của từ địa
phương ở giai đoạn trước 1945 so với giai đoạn từ 1945 đến 1975. Do tính chất và
đặc điểm hoàn cảnh xã hội, nhiều từ trước đây chưa được dùng hoặc chỉ được xem
là từ địa phương nhưng về sau chúng đã được sử dụng và có phạm vi giao tiếp
giống từ phổ thông. Việc các từ điển không chú sắc thái địa phương cho những từ
kiểu này chứng tỏ rằng chúng đã thâm nhập vào trong hệ thống của từ phổ thông.
Xét về mặt lí thuyết, chúng là những từ chỉ còn "gốc địa phương". Và như thế, "cái
gốc" phương ngữ chỉ là sở cứ cho sự nghiên cứu văn hoá miền mà thôi. Ví dụ: Tôi
bước vô trong hầm thì bàn tu lơ khơ cũng vừa ngưng (Thuỷ Thủ, Ba ngày trên
vành đai diệt Mĩ, tr. 100); Một chiếc M.133 bất thần chạy rồ ngang. Tôi bị kẹt
trong nhà, không ra được (Anh Đức, Truyện của một người cùng quê, tr. 165); Bây
giờ người ta được đi học y tá, mai mốt lên y tướng, nên cái gì người ta cũng rành
(Nguyễn Thi, Những sự tích ở đất thép, tr. 18)

3.3. Những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình thâm nhập của từ địa phương
vào tiếng Việt toàn dân

Chúng ta đều biết, việc thâm nhập của hệ thống từ địa phương vào hệ thống từ
vựng phổ thông là một quy luật dường như tất yếu của sự phát triển xã hội. Quá
trình biến đổi, phát triển và hoàn thiện của từ địa phương là một quá trình diễn ra
liên tục và mạnh mẽ. Tiếng Việt toàn dân là một hệ thống mở, luôn sẵn sàng tiếp
nhận những yếu tố mới để làm giàu thêm cho vốn từ của mình đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tiếng địa phương miền Nam có thể thâm nhập vào hệ thống của bản
thân nó. Tuy nhiên, việc phá vỡ ranh giới của từ địa phương để trở thành từ phổ
thông là một quá trình rất lâu dài và không dễ dàng, bị chi phối bởi rất nhiều
nguyên nhân, trong đó bao gồm cả nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên

năng lấp ô trống trong vốn từ phổ thông chúng sẽ dễ dàng được chấp nhận và đưa
vào hệ thống. Những từ nằm trong lớp cạnh tranh sẽ được lựa chọn qua thời gian
sử dụng.

4. Vài lời kết

Là thứ ngôn ngữ khu vực nhưng được sử dụng rộng rãi với hơn 1/3 dân số cả nước,
tiếng miền Nam (phương ngữ Nam Bộ là hạt nhân) được xem là một phương ngữ
lớn - nơi có sự phát triển kinh tế năng động, văn hoá phong phú, một "phương ngữ
mạnh" và có vai trò đặc biệt đối với tiếng Việt. Có thể thấy, trong giai đoạn 1945–
1975, phương ngữ miền Nam đã có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội nói
chung và trong việc phát triển của ngôn ngữ nói riêng. Đặc điểm của hai cuộc
kháng chiến ở miền Nam những năm 1945–1975 đã tạo cho phương ngữ Nam có
điều kiện trở nên gần gũi với đồng bào cả nước và có một số lượng khá lớn các từ
và khái niệm mới chỉ các hoạt động chiến tranh. Đây là cơ sở để một mảng từ địa
phương xuất hiện và nhanh chóng thâm nhập vào ngôn ngữ toàn dân, bổ sung và
làm phong phú thêm cho vốn từ tiếng Việt.

Mặc dù còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu nhưng qua tư liệu một số tác phẩm văn
học có đối chiếu với từ điển, chúng ta đã phần nào thấy được sự thâm nhập của từ
địa phương miền Nam vào ngôn ngữ toàn dân qua một giai đoạn có nhiều biến
động của hoàn cảnh xã hội cũng như của ngôn ngữ. Đồng thời, qua đó chúng ta
cũng thấy được vị thế của từ địa phương trong mối quan hệ với ngôn ngữ toàn dân:
Luôn vận động và mở rộng phạm vi để thâm nhập vào vốn từ toàn dân. Điều đó
phản ánh đúng xu thế phát triển của ngôn ngữ nói chung và của phương ngữ nói
riêng.

_____________

(*) Khái niệm từ ngữ miền Nam có khác khái niệm từ ngữ Nam Bộ ở chỗ chung

Trương Văn Sinh. Bàn về việc xử lí từ ngữ địa phương trong khi chuẩn hoá tiếng
Việt về mặt từ ngữ (trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ). Nxb
Khoa học Xã hội, 1981.
Trương Văn Sinh, Đặng Ngọc Lệ. Mấy suy nghĩ xung quanh việc thu nạp các yếu
tố địa phương trong quá trình chuẩn hoá (trong Một số vấn đề ngôn ngữ học Việt
Nam). Nxb ĐH và THCN, 1981.
Nguyễn Tài Thái. Nhìn lại việc dùng từ địa phương trong văn học Nam Bộ qua
một thế kỉ, Ngữ học trẻ 2001: Diễn đàn học tập và nghiên cứu, Hội Ngôn ngữ học,
2001.
Ngô Ngọc Bích Tiên. Nhìn qua việc dùng từ địa phương miền Nam trong một số
tác phẩm văn học gần đây (trong Nghiên cứu ngôn ngữ học). Nxb Khoa học Xã
hội, 1968.
Nguyễn Quý Trọng. Dùng từ ngữ địa phương trong mối quan hệ với chuẩn từ vựng
toàn dân (trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ). Nxb Khoa học
Xã hội, 1981.
Một số truyện của các tác giả miền Nam:
Anh Đức:
Thư tháng bảy
Xôn xao đồng nước
Vào mùa nắng
Giấc mơ của ông lao vườn chim
Mùa gió
Trọng
Truyện của một người cùng quê
Những truyện xung quanh một trận càn hình móng ngựa

Nguyễn Thi:

Người mẹ anh hùng
Những sự tích ở đất thép


Hoài Vũ:

Tiếng sáo trúc
Đường ra tiền tuyến

Đoàn Giỏi:

Đường đi qua làng

Nguyên Ngọc:

Rẻo cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status