Tài liệu BÁO CÁO KHOA HỌC: "ẢNH HƯỞNG CỦA AFLATOXIN LÊN TỈ LỆ SỐNG VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA (Pangasius hypophthalmus)" doc - Pdf 10


i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN BÁO CÁO KHOA HỌC
Đề tài cấp Bộ
ẢNH HƯỞNG CỦA AFLATOXIN LÊN TỈ LỆ SỐNG VÀ
TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA
(Pangasius hypophthalmus)
Mã số đề tài: B-2003-31-51


ẢNH HƯỞNG CỦA AFLATOXIN LÊN TỈ LỆ SỐNG VÀ
TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA
(Pangasius hypophthalmus)
Mã số đề tài: B-2003-31-51
Chủ nhiệm đề tài
Ts. Trương Quốc Phú

Cán bộ tham gia
Ts. Nguyễn Anh Tuấn
Ths. Dương Thúy Yên
Ks. Phạm Trần Nguyên Thảo
Ts. Trần Thị Thanh Hiền
Ks. Nguyễn Quốc Thịnh 8/ 2005

iii
MỤC LỤC


17
4.2. Ảnh hưởng của AFB1 trên mô gan và mô thận của cá Tra 21
4.3. Ảnh hưởng của AFB1 với các liều lượng khác nhau lên một số
chỉ tiêu sinh lý
26
4.4. Khảo sát tính mẫn cảm của cá Tra với bệnh mủ gan khi ăn thức
ăn có chứa AFB1
29
Chương 5. Kết luận và đề nghị 32
5.1. Kết luận
5.2. Đề nghị
Tài liệu tham khảo 33
iv
DANH SÁCH BẢNG

Bảng 3.1: Thành phần nguyên liệu của thức ăn trong thí nghiệm 9
Bảng 3.2: Lượng hỗn hợp NRRL 2999 và lượng bột mì cần để phối
trộn cho các nghiệm thức thức ăn
9
Bảng 4.1: Một số yếu tố môi trường của trong thí nghiệm 17
Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng sau 90 ngày
nuôi của cá tra
19
Bảng 4.3 : Ngưỡng nhiệt độ trên và dưới của cá tra cho ăn thức ăn có
chứa hàm lượng AFB1 khác nhau
26
Bảng 4.4: Cường độ hô hấp và ngưỡng oxy của cá tra cho ăn thức ăn có

Độc chất aflatoxin được tạo ra từ các loài nấm mốc thuộc giống Aspergillus,
mọc trên các loài ngũ cốc, trong đó aflatoxin B
1
(AFB
1
) chủ yếu do loài
Aspergillus flavus sinh ra có độc tính rất cao (Nabil Saad, 2004; Victoria, 2001;
Roberts, 2002). Động vật, kể cả con người, nếu ăn phải thức ăn chứa AFB
1
, hoặc
sử dụng nguyên liệu thức ăn có nguồn gốc từ ngũ cốc bị nhiễm nấm mốc
Aspergillus flavus có thể nguy hại đến tính mạng. Cá ăn phải thức ăn có chứa
AFB
1
ở nồng cộ cao (hơn 10 mg/kg thức ăn) có thể bị chết. Ở nồng độ thấp, dưới
100 ppb (phần tỷ, microgram/kg) trong thức ăn, AFB
1
làm rối loạn chức năng
tiêu hóa, gây bệnh mãn tính, làm cá chậm lớn và trở nên mẫn cảm hơn với các
loại bệnh tật và các yếu tố môi trường. Những loài cá khác nhau có tính nhạy
cảm khác nhau đối với aflatoxin. Có những loài cá rất nhạy cảm với aflatoxin
như cá hồi (Hendricks, 1994), song cũng có loài có khả năng chịu đựng tốt, chỉ bị
ảnh hưởng bởi hàm lượng aflatoxin cao như cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus)
(Jantrarotai and Lovell, 1990; Jantrarotai et al., 1990).
Ở nhiều nước người ta đã phát hiện aflatoxin không những có trong nguyên liệu
chế biến thức ăn mà còn có trong cả trong thức ăn công nghiệp. Ở Ai Cập, AFB
1

được tìm thấy trong các loại thức ăn công nghiệp dùng cho cá với hàm lượng
749-3388 ppb (Abdelhamid et al., 1998). Ở Thái Lan, trong 150 mẫu thức ăn tôm

 Khảo sát tốc độ tăng trưởng cá tra khi ăn thức ăn có AFB
1
ở các nồng độ
khác nhau.
 Khảo sát những thay đổi về mô học trong gan và thận ở những cá ăn thức
có chứa hàm lượng AFB
1
khác nhau.
 Khảo sát những thay đổi về tiêu hao oxy, và về khả năng chịu đựng với
các yếu tố môi trường (oxy, và nhiệt độ) khi ăn thức ăn có chứa AFB
1
với
các liều lượng khác nhau.
 Khảo sát tính mẫn cảm của cá tra với bệnh mủ gan khi ăn thức ăn có chứa
AFB
1 3
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1. Lịch sử phát hiện Aflatoxin
Vào năm 1960, nghề nuôi gia cầm ở nước Anh bị tổn thương rất nặng nề, lúc đầu
hơn 10.000 gà tây chết vì một bệnh mới gọi là “bệnh gà tây X” (Turkey X
disease). Sau đó, các loại gia cầm khác như vịt, gà lôi cũng bị nhiễm bệnh và tử
vong rất nhiều. Qua điều tra, người ta xác định được bệnh có liên quan đến một
loại độc tố do nấm có trong thức ăn sinh ra. Đến năm 1961 người ta đã tìm ra bản

, AFG
2
), có công thức phân tử là:
• AFB
1
: C
17
H
12
O
6

• AFB
2
: C
17
H
14
O
6

• AFG
1
: C
17
H
12
O
7


là 4-dihydroxy
aflatoxin B
2
.
Công thức cấu tạo của 4 loại aflatoxin như sau:

4

Hình 2.1: Công thức cấu tạo hoá học của AFB
1
, AFB
2
, AFG
1
và AFG
2
(Vitoria, 2001)
Tính chất lý học của các loại aflatoxin:
- AFB
1
: có điểm nóng chảy 268-269
o
C, có màu xanh lam trên đèn huỳnh quang.
- AFB
2
: có điểm nóng chảy 286-289
o

chứa AFB
1
với hàm lượng thấp nhất là 13 ppb và cao nhất là 78 ppb. Hầu hết các
mẫu cám gạo, cám lúa mì, bột bắp, bột cá, bột hướng dương, bột đậu nành và bột
hạt bông đều có hàm lượng AFB
1
cao hơn mức khuyến cáo (20 ppb) của tổ chức
FDA (Food and Drug Administration, Hoa Kỳ).
Aflatoxin cũng có thể hiện diện trong các loại thực phẩm chế biến, đặc biệt là các
sản phẩm từ bắp. Tuy nhiên, các nhà sản xuất cũng có những phương pháp thích
hợp nhằm hạn chế tối đa loại độc tố này. Những sản phẩm từ sữa như sữa bột,
phô mai, sữa chua đôi khi cũng phát hiện có aflatoxin.
2.3.2. Điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Aflatoxin
Nấm mốc sinh ra độc tố thường phát triển trong điều kiện tự nhiên ở những quốc
gia ở vùng nhiệt đới Điều kiện dự trữ thức ăn và nguyên liệu thức ăn không
thích hợp (khi nhiệt độ môi trường trên 27
o
C, độ ẩm môi trường lớn hơn 62% và
độ ẩm trong thức ăn lớn hơn 14 % (Juli-Anne and Yanong, 1995; Diab, 2000;
Nabil Saad, 2004), sự xâm nhập của sâu bọ ) là những nhân tố quan trọng nhất
để nấm mốc phát triển và sinh ra độc tố Aflatoxin.
Những phương pháp chế biến thông thường không làm giảm lượng Aflatoxin
trong thức ăn do phân tử Aflatoxin rất bền với nhiệt, Aflatoxin chỉ bị nóng chảy
ở nhiệt độ rất cao, trên 250
o
C (Gayatri, 2000).
2.4. Một số ảnh hưởng của Aflatoxin đối với động vật và cá
Theo Wheater et al. (1985) khi các loài động vật bị nhiễm độc tố sẽ làm tổn
thương mô gan và thận gây ra những biến đổi bên trong tế bào như:
 Nhân tế bào bị teo (cell atrophy), hiện tượng này thường xảy ra đối với tế

nếu tiêm vào cơ thể cá một lượng AFB
1
là 1,25 mg/kg khối lượng cơ thể. Điều
này cảnh báo AFB
1
có thể gây thiệt hại về kinh tế rất lớn đối với nghề nuôi cá
trôi thâm canh ở Ấn độ.
Một số công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của AFB
1
đối với cá rô phi vằn
(Oreochromis niloticus) như của El-Bana et. al. (1992) cho thấy, cá rô phi cho
ăn 10 tuần với thức ăn có hàm lượng 0,1 mg AFB
1
/kg thức ăn có tăng trọng thấp
hơn nghiệm thức đối chứng (không có AFB
1
) và khi cá cho ăn thức ăn có hàm
lượng 0,2 mg AFB
1
/kg thức ăn có tỉ lệ chết 16,7 %. Tuy nhiên, theo Chavez-
Sanchez (1994) thức ăn có hàm lượng 1,88 mg AFB
1
/kg làm giảm sự tăng trọng
của cá nhưng hàm lượng AFB
1
đến 30 mg/kg thức ăn vẫn không làm chết cá rô
phi vằn có khối lượng ban đầu 0,5g sau 50 ngày thí nghiệm. Một nghiên cứu
khác của Tuan et al. (2002) cho thấy khi cá rô phi được cho ăn 0,25 mg AFB
1
/kg

0,75; 1,25
và 2,5 mg/kg khối lượng cá, và 1 nhóm đối chứng chỉ tiêm nước muối (0,85%).
Cá được nuôi trong bể 2000 lít, cho ăn thức ăn bình thường (thức ăn được phân
tích không có hàm lượng AFB
1
) trong 9 tháng nuôi. Kết quả quan sát mô gan và
mô thận thấy: Gan có hình dáng và kích thước bình thường nhưng các tổ chức
trong gan có sự hoại tử nhỏ đang phát triển. Mô bệnh học tế bào gan cho thấy sự
nở ra của tỉnh mạch trung tâm và điểm hoại tử định tâm trong mô liên kết tế bào
gan. Có sự sưng phù trong mô liên kết gan chỉ sự hoại tử lan rộng bên trong và sự
thâm nhiễm bạch huyết bào. Ống dẫn mật có sự dày đặc của tế bào biểu mô và sự
tăng nhanh của tế bào bạch huyết. Mô liên kết thận có những điểm hoại tử và sự
lan nhanh của tế bào hoại tử.
Trên cá rô phi vằn, Tuan et al. (2002) cho biết, sau 8 tuần thí nghiệm cá được cho
ăn thức ăn có chứa các hàm lượng AFB
1
khác nhau: 0; 0,25; 2,5; 10 và 100
mg/kg thức ăn, chỉ ở nghiệm thức cá cho ăn 10 và 100 mg AFB
1
/ kg thức ăn, tổn
thương tìm thấy ở gan, các bộ phận khác như tim, tụy tạng, dạ dày và ruột không
bị tổn thương.
Liên quan đến ảnh hưởng của AFB
1
đến các chỉ tiêu sinh lý của động vật, có rất
ít công trình nghiên cứu về lãnh vực này. Các công trình nghiên cứu chủ yếu
được thực hiện trên các loài động vật như thỏ, ngựa Theo Borgatti và Trigari
(1979) thì AFB
1
gây ức chế sự hô hấp của tế bào tim và thận của thỏ làm giảm

tràn với lưu tốc là 0,3 lít/phút và có sục khí.
Thí nghiệm gồm có 5 nghiệm thức được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên
với 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức. Cá tra có khối lượng trung bình ban đầu là
5,2 g, mật độ nuôi 15 con/bể. Thời gian thí nghiệm là 90 ngày.
Năm loại thức ăn thí nghiệm được phối chế có chứa hàm lượng AFB
1
từ 0
mg/kg, 0,5 mg/kg, 2,5 ng/kg 10 mg/kg và 50 mg/kg. Các thức ăn đều có cùng
hàm lượng đạm là 30%, chất béo 7,55% và mức năng lượng là 4 KCal/g thức ăn
được phối chế từ các nguồn nguyên liệu như ở Bảng 3.1.

9
Bảng 3.1. Thành phần nguyên liệu của thức ăn trong thí nghiệm
Thành phần nguyên liệu (%)
Bột cá 42,7
Bột đậu nành 14,2
Cám 17,1
Bột mì 19,0
Dầu đậu nành 1,0
Dầu mực 1,0
Primix 2,0
CMC 3,0
Thành phần hóa học của thức ăn theo tính toán
Protein 35,0
Lipid 8,7
Bột đường 34,5
Tro 15,7

Dùng lượng hổn hợp NRRL 2999 đã được xác định cho từng nghiệm thức (Bảng
3.2), thêm bột mì vào cho đủ 190g (thức ăn có chứa 19% bột mì), trộn thật đều
trước khi được trộn với hỗn hợp các nguyên liệu khác để được 1 kg thức ăn.
Nguyên liệu sau khi trộn đều được ép thành dạng viên, sấy khô và bảo quản ở tủ đông.

10
Cá được cho ăn 3 lần mỗi ngày, vào lúc sáng 8 giờ, 13 giờ và 16 giờ. Tùy theo
mức độ sử dụng thức ăn của cá, lượng thức ăn được điều chỉnh hàng ngày, từ 4-
8% khối lượng cá. Hàng ngày rút cặn bể nuôi vào lúc sáng sớm và đo các yếu tố
môi trường.
 Yếu tố môi trường: đo nhiệt độ ngày 2 lần bằng nhiệt kế, pH đo 1
lần/tuần.
 Tăng trưởng của cá: Mẫu tăng trưởng của cá được thu sau mỗi 15 ngày
bằng cách cân từng cá thể trong bể.
Tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng và tỉ lệ sống theo các công thức sau:
 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (Daily weight gain, DWG)

12
12
tt
WW
DWG


=
(g/ngày)
 Tốc độ tăng trưởng tương đối (Specific growth rate, SGR):
100
12
12

khác nhau ở thí
nghiệm trên được thu mẫu để phân tích mô học.
Phương pháp thu mẫu: Cá được mỗ, phơi bày nội tạng và bỏ vào lọ chứa mẫu
có chứa sẵn dung dịch Formol 10% để cố định mẫu. Đối với mô gan, thận dùng
dao giải phẫu cắt thẳng góc với bề mặt cơ quan, diện tích mẫu cắt khoảng 1cm
2
,
dày khoảng 2 mm. Sau đó, mẫu được làm tiêu bản theo phương pháp Supranee

11
(1991).
Loại nước (sử dụng Ethanol): Trước khi loại nước phải rửa sạch Formol bằng
cách ngâm mẫu dưới vòi nước chảy liên tục 1-2 giờ. Để loại nước mẫu được
ngâm trong dung dich Etanol lần lượt thay đổi nồng độ của dung dịch ngâm từ
70
o
đến 100
o
. Cách làm này nhằm mục đích tránh sự mất nước đột ngột.
Tẩm dung môi trung gian (Xylen): Paraffin và Etanol là hai chất không hoà tan
vào nhau nên phải sử dụng dung môi trung gian có khả năng hòa tan được cả
Paraffin và Etanol đó là Xylen. Để tẩm dung môi trung gian mẫu được ngâm vào
dung dịch Xylen qua hai lọ, mỗi lọ 1 giờ đến khi mẫu trong đều (thời gian ngâm
có thể ít hơn).
Định hình với Paraffin (vùi mẫu): Paraffin là chất nền để đảm bảo cho tế bào
giữ nguyên hình dạng khi cắt. Vì thế, paraffin phải được tẩm hoàn toàn vào mẫu,
bằng cách vùi mẫu vào parafin nóng chảy. Các bước của quá trình định hình như
sau:



Cồn 80
o

1
gi

Cồn 95
o

1
gi

Xylen I
1
gi

Cồn 100
o

1
gi

Cồn 100
o

1
gi

Cồn 95
o
Cô Dán lamelle vào lame: Để đảm bảo giữ mẫu lâu và tăng tính chiết quang cần
phủ keo Canada Palsam và dán lamelle lên mẫu. Nhỏ một giọt keo lên mẫu đặt
lamelle nghiêng 45
o
và tiếp xúc với giọt keo, hạ lamelle xuống từ từ để tránh bọt
khí.
Đọc kết quả: Tiêu bản được quan sát dưới kính hiển vi. Đầu tiên ở độ phóng đại
100x để đánh giá tiêu bản, tiêu bản đạt yêu cầu phải có nhân bắt màu tím xanh
của Hematoxylin, phần còn lại là bắt màu hồng của Eosin.
Các tiêu bản đạt yêu cầu sẽ được quan sát lần lượt ở độ phóng đại 10x, 40x và

4 phút
H
2
O
5
p

t

Cồn 80
o

30
g

y

Cồn 90
o

30
g

y

H
2
O
10
p

o

1
p

t

Cồn 100
o

1
p

t

Cồn 90
o

1
p

t

Xylene I
2
p

t

Xylene II

nghiệm xác định ngưỡng, chọn cá đều cỡ (8-12g) và bố trí trong bình giữ cá có
thể tích nước 3 Lít với mật độ 4 con/bình. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Ở
thí nghiệm xác định ngưỡng nhiệt độ, cá được cung cấp đầy đủ oxy. Đo nhiệt độ
bằng nhiệt kế và ôxy được xác định bằng phương pháp Winkler.
3.4.1. Ngưỡng nhiệt độ
Thí nghiệm này nhằm đánh giá khả năng chịu đựng nhiệt độ cao và thấp của cá
sau thời gian được cho ăn AFB
1
. Ngưỡng nhiệt độ được xác định theo phương
pháp của Paladino et al., 1980; Bonin 1981, trích bởi Wedemeyer et al., 1990).
Các bình giữ cá được đặt trong các thùng lớn để nhiệt độ được điều chỉnh đồng
đều giữa các bình. Dùng nước sôi và nước đá để tăng và giảm nhiệt độ sao cho
cứ 30 phút, nhiệt độ trong bình thay đổi 1
o
C. Ghi nhận nhiệt độ làm chết 50% số
cá thí nghiệm. Nhiệt độ lúc bặt đầu thí nghiệm là 28
o
C.
3.4.2. Ngưỡng oxy
Ngưỡng oxy được xác định theo phương pháp bình kín. Giữ cá trong bình sinh lý
2 vòi (thể tích bình 3 L) đến khi 50% cá chết thì lấy mẫu nước phân tích. Hàm
lượng oxy tại thời điểm gây chết 50% cá gọi là ngưỡng oxy (mg O
2
/L).
3.4.3 Cường độ hô hấp
Cường độ hô hấp (mg O
2
/kg/giờ) cũng được xác định theo phương pháp bình kín.
Cân cá cho vào bình kín và để trong một giờ. Cường độ hô hấp được tính theo
công thức:

khác nhau.
Mục đích của thí nghiệm nhằm đánh giá ảnh hưởng của AFB1 đến tính mẫn cảm
của cá đối với bệnh vi khuẩn mủ gan (Edwardsiella ictaluri). Cá trước khi gây
cảm nhiễm đã được ương trong 5 bể 500 L và cho ăn AFB
1
với hàm lượng khác
nhau từ 0 đến 50 mg/kg thức ăn (như thí nghiệm ở mục 3.4) trong thời gian 3
tháng. Kích thước cá dùng trong thí nghiệm 8,5-17,3 g
3.5.1.Tăng độc lực vi khuẩn
Tăng độc lực vi khuẩn được thực hiện trước khi tiến hành gây cảm nhiễm do vi
khuẩn trữ trong thời gian lâu độc lực hay khả năng gây bệnh sẽ giảm so với vi
khuẩn mới được phân lập từ cá bệnh.
Để tăng độc lực cho vi khuẩn, dùng mẫu vi khuẩn lưu trữ cho phục hồi lại và
tiêm vào cá khoẻ. Sau 2-3 ngày tiến hành phân lập vi khuẩn, định danh, nhân số
lượng và tiến hành gây cảm nhiễm trên cá.
3.5.2. Phương pháp bố trí
Thí nghiệm được tiến hành với 6 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức có 2 lần lặp lại.
Cá được bố trí vào bể 20 L, mỗi bể 6 con. Các nghiệm thức thí nghiệm gồm:
o Nghiệm thức 1: cá cho ăn thức ăn không có aflatoxin (0 mg/kg thức ăn),
tiêm 0,1 ml dung dịch vi khuẩn.
o Nghiệm thức 2: cá cho ăn aflatoxin ở nồng độ 2,5 mg/kg thức ăn, tiêm 0,1
ml dung dịch vi khuẩn.
o Nghiệm thức 3: cá cho ăn aflatoxin ở nồng độ 5 mg/kg thức ăn, tiêm 0,1
ml dung dịch vi khuẩn.
o Nghiệm thức 4: cá cho ăn aflatoxin ở nồng độ 10 mg/kg thức ăn, tiêm 0,1
ml dung dịch vi khuẩn.
o Nghiệm thức 5: cá cho ăn aflatoxin ở nồng độ 50 mg/kg thức ăn, tiêm 0,1
ml dung dịch vi khuẩn.

15


Lysine decarboxylase
+
Ornithine decarboxylase
+
Simmons’ citrate

H
2
S production

Urease

Trytophane deaminase

Indole

Methyl red
+
Voges-Proskauer

Gelatin hydrolysis

Gas from glucose
+
Acid from: arabinose

glucose
+
inositol

bảng 4.1. Nhiệt độ trong ngày chênh lệch 1-2
o
C, pH và oxy gần như ổn định
trong thời gian thí nghiệm, tương ứng là 7,4 và oxy hoà tan là 4,3 mg/L.
Bảng 4.1: Một số yếu tố môi trường của trong thí nghiệm
Các yếu tố môi trường Giá trị
Nhiệt độ (
o
C)
Sáng 27,1 ± 0,7
Chiều
28,8 ± 0,8
pH
7,4 ± 0,1
Ôxy (mg/L)
4,30 ± 0,63
4.1.2. Tốc độ tăng trưởng của cá Tra
Kết quả thí nghiệm cho thấy tăng trưởng của cá Tra ở nghiệm thức 0 (đối chứng)
và 2,5 mg AFB
1
/kg thức ăn gần như trùng khít lên nhau, chứng tỏ tăng trưởng
của cá ở 2 nghiệm thức này tương đương nhau. Với hàm lượng AFB
1
trong thức
ăn càng cao hơn, tăng trưởng của cá càng chậm thể hiện ở mô hình đường tăng
trưởng càng thấp.
Kết quả phân tích thống kê cho thấy khối lượng của cá ở 45 ngày khác biệt có ý
nghĩa giữa các nghiệm thức (p <0,05). Trong đó, khối lượng trung bình của cá ở
nghiệm thức 50 mg AFB
1

đó sinh trưởng chậm. Hơn nữa, một số cá thể có kích thước lớn bị chết sau khi
mắt bệnh hoặc do xử lý thuốc trị bệnh làm ảnh hưởng đến khối lượng trung bình
của cá. Kết quả, ở lô không mắc bệnh cá sinh trưởng bình thường nhưng ở lô bị
mắc bệnh cá sinh trưởng chậm làm cho có sự chệnh lệch lớn giữa các lô trong
cùng một nghiệm thức thí nghiệm.
0
2
4
6
8
10
12
14
16
Bắt đầu153045607590
Thời gian (ngày)
(Khối lượng cá (g)
NT 1 (0m g/kg)
NT 2 (0,5 mg/kg)
NT 3 (2,5 mg/kg)
NT 4 (10 mg/kg)
NT 5 (50 mg/kg)

Hình 4.1. Tăng trưởng của cá Tra cho ăn thức ăn có hàm lượng AFB1 khác nhau
19
Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng tương đối về khối lượng sau 45 và 90 ngày nuôi
của cá Tra

a

9,6 ± 1,2
c

9,0 ± 0,9
bc

9,3 ± 0,7
c

7,6 ± 0,9
ab

7,3 ± 0,7
a

13,82 2,07
a

11,96 ± 1,44
a

14,06 ± 2,21
a

11,54 ± 1,86
a

10,46 ± 1,57


Ghi chú: Các giá trị trong cùng một cột có cùng chữ cái thì khác nhau không có ý nghĩa (p > 0,05).
Kết quả trong nghiên cứu này tương tự như kết quả trên cá nheo Mỹ của
Jantrarotai and Lovell (1990), tăng trưởng của cá nheo Mỹ cho ăn thức ăn có
chứa AFB
1
với hàm lượng 0,46 và 2,15 mg/kg thức ăn không làm giảm tốc độ
tăng trưởng của cá và chỉ giảm đi 24% ở nghiệm thức 10 mg/kg thức ăn so với
nghiệm thức đối chứng còn cá tra ăn thức ăn có hàm lượng AFB
1
10 và 50 mg/kg
thức ăn bị giảm tăng trưởng so với lô đối chứng (tính theo SGR) tương ứng 19 và
29%. Khi so sánh giữa cá tra và cá rô phi thì cá tra ít bị ảnh hưởng bởi AFB
1
hơn
cá rô phi, theo Tuan et al. (2002), cá rô phi vằn cho ăn AFB
1
với hàm lượng 10
mg/kg thức ăn bị giảm đến tăng trưởng 90% so với lô đối chứng. Chaver-
Sanchez (1994) cũng cho rằng thức ăn có hàm lượng 1,88 mg AFB
1
/kg làm giảm
sự tăng trọng của cá rô phi vằn.
4.1.3. Tỉ lệ sống cá Tra
Sau 90 ngày nuôi, tỉ lệ sống của cá Tra tương đối cao, đạt từ 83,3 % (ở nghiệm
thức 10 mg/kg thức ăn) đến 100% (ở nghiệm thức đối chứng). Nhìn chung, cá
Tra cho ăn thức ăn có hàm lượng AFB
1
càng cao, tỉ lệ sống của cá có xu hướng
giảm nhưng quy luật giảm không rõ ràng và sự khác biệt về tỉ lệ sống giữa các

et al. (2001) thức ăn chứa 0,05-1 mg AFB
1
/kg thức ăn không làm ảnh hưởng đến
tỉ lệ sống của tôm sau 8 tuần thí nghiệm, song khi hàm lượng AFB
1
tăng đến 2,5
mg/kg thức ăn, tỉ lệ sống của tôm giảm có ý nghĩa, chỉ đạt 26,3%. El-Bana et. al.
(1992) cho biết, tỉ lệ sống của cá rô phì vằn (Oreochromis niloticus) giảm chỉ
còn 83,3% khi cho cá ăn thức ăn có chứa AFB
1
0,2 mg/kg thức ăn trong 10 tuần.
Nhưng ở nghiên cứu của Chaver-Sanchez (1994) thì thức ăn có hàm lượng AFB
1

đến 30 mg/kg thức ăn không gây chết cá rô phi vằn có trọng lượng ban đầu 0,5g
sau 50 ngày thí nghiệm, tỉ lệ sống của cá ở nghiệm thức này (95%) khác biệt
không có ý nghĩa so với nghiêm thức đối chứng - không có AFB
1
(100%).
Nghiên cứu trên cùng đối tượng cá rô phi vằn có khối lượng ban đầu là 2,7g,
Tuan et al. (2002) cho biết cá rô phi sau 8 tuần cho ăn thức ăn có chứa AFB
1
với
hàm lượng 10 mg/kg thức ăn, tỉ lệ sống của cá đạt 97%, khác biệt không có ý
nghĩa so với nghiệm thức đối chứng (100%), nhưng tỉ lệ sống của cá chỉ còn 40%
nếu hàm lượng AFB
1
trong thức ăn tăng 100 mg/kg thức ăn. Đối với cá nheo Mỹ,
Jantrarotai (1990) cho biết hàm lượng AFB
1

từ tỉnh mạch trung tâm. Kích thước nhân giữa các tế bào khác nhau tương đối
đồng đều, tế bào chất có màu hồng nhạt (bắt màu eosin), nhân và hạch nhân có
màu xanh đen (bắt màu hematoxylin), hạch nhân bắt mạnh hơn nên có màu sậm
hơn nhân tế bào (Hình 4.3).

Hình 4.3: Mô gan của cá tra ăn thức ăn không có chứa AFB
1
(400x)

Trích đoạn CHƯƠNG V: KẾT LUẬN & ĐỀ NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status