TCNCYH 22 (2) - 2003
Thực trạng hiểu biết về chất thải y tế và quản lý
chất thải y tế tại sáu bệnh viện đa khoa tuyến tỉn
h
Lê Thị Tài, Đào Ngọc Phong, Đinh Hữu Dung,
Nguyễn Thị Thu, Vũ Thị Vựng, Phạm Thanh Tân
Đại học Y Hà Nội
Kết quả phỏng vấn 203 nhân viên y tế trong 6 bệnh viện - 3 bệnh viện đã xử lý chất thải (Phú
Thọ, Quảng Ngãi, Đồng Tháp) và 3 bệnh viện cha xử lý chất thải (Yên Bái, Quảng Nam, Cần Thơ)
về thực trạng hiểu biết về chất thải và quản lý chất thải và tình hình thơng tích do chất thải y tế
trong số đối tợng nghiên cứu cho thấy:
- Cán bộ y tế ở cả hai nhóm bệnh viện nghiên cứu đều cha hiểu biết đầy đủ về ảnh hởng của
chất thải y tế đối với sức khỏe cũng nh quản lý chất thải y tế (phân loại, thu gom, xử lý chất thải)
- Tỷ lệ thơng tích do chất thải y tế/năm chiếm 19,2 - 20,6%, không có sự khác biệt giữa nhóm
bệnh viện đã xử lý chất thải và cha xử lý chất thải
Từ các kết quả trên các tác giả kiến nghị:
- Mỗi bệnh viện cần thành lập một bộ phận chuyên môn đợc đào tạo trang bị kiến thức cần
thiết để đảm nhận việc quản lý chất thải của bệnh viện
- Cần hớng dẫn/đào tạo thờng xuyên cho toàn thể cán bộ/nhân viên bệnh viện về tác hại của
chất thải y tế cũng nh quy chế quản lý chất thải
- Nghiên cứu thêm hiểu biết của bệnh nhân và ngời nhà để có những hớng dẫn thích hợp
nhằm huy động sự tham gia của họ trong quản lý chất thải của bệnh viện.
I. Đặt vấn đề
Năm 1997, Bộ Y tế ký quyết định số
1895/1997/BYT - QĐ về việc ban hành Quy
chế bệnh viện trong đó có Quy chế công tác
xử lý chất thải, Quy chế chống nhiễm khuẩn
bệnh viện. Đến năm 1999, Quy chế quản lý
chất thải y tế đã chính thức đợc ban hành.
(QLCTYT), bao gồm cả phân loại, thu gom,
vận chuyển và xử lý chất thải y tế
47
TCNCYH 22 (2) - 2003
Mong muốn của nhân viên y tế trong việc
quản lý chất thải y tế.
Tình hình thơng tích do chất thải y tế
3. Mẫu nghiên cứu:
Chọn có chủ định 6 bệnh viện đa khoa (BVĐK)
tỉnh để đại diện cho 3 miền: Bắc, Trung, Nam.
Tại mỗi miền chúng tôi chọn 2 bệnh viện(một
BV đã xử lý chất thải (XLCT) và một BV cha
XLCT. Cụ thể:
Miền Bắc: BVĐK Yên Bái (YB), cha XLCT
và BVĐK Phú Thọ (PT), đã XLCT
Miền Trung: BVĐK Quảng Nam (QN), cha
XLCT và BVĐK Quảng Ngãi (QNg), đã XLCT
Miền Nam: BVĐK Cần Thơ (CT), cha
XLCT và BVĐK Đồng Tháp (ĐT), đã XLCT
Trong một BV, mỗi khoa phòng chuyên môn sẽ
phỏng vấn 2 cán bộ
III. Kết quả.
Để tiện trình bầy chúng tôi quy ớc:
Nhóm 1: gồm 3 BV cha có hệ thống XLCT
là: YB, QN, CT
Nhóm 2: gồm 3 BV đã có hệ thống XLCT là:
PT, QNg, ĐT
1. Thông tin cá nhân
Tại 6 BV đợc chọn vào mẫu, chúng tôi đã
đợc hớng dẫn cao hơn ở nhóm 1)
48
TCNCYH 22 (2) - 2003
2. Hiểu biết về quản lý chất thải y tế:
Bảng 2. Tỷ lệ ngời biết các loại chất thải y tế
Nhóm 1 (n = 101) Nhóm 2 (n=102) Chung
Loại chất thải
n % n %
P
n %
Biết đầy đủ các loại 8 7,9 19 18,6 < 0,05 27 13,3
CT lâm sàng/y tế 90 89,1 100 98,0 < 0,01 190 93,6
Chất thải phóng xạ 30 29,7 34 33,3 > 0,05 64 31,5
Chất thải hóa học 40 39,6 47 46,1 > 0,05 87 42,9
Bình chứa khí áp xuất 8 7,9 21 20,6 < 0,01 29 14,3
Chất thải sinh hoạt 79 78,2 91 89,2 < 0,05 170 83,7
Không biết loại nào 11 10,9 2 2,0 < 0,01 24 11,8
Nhận xét: Bảng 3, Tỷ lệ ngời biết đầy đủ các loại chất thải rất thấp (13,3%), phần lớn những
ngời đợc phỏng vấn biết về chất thải lâm sàng và chất thải sinh hoạt còn các loại chất thải khác
số ngời biết ít hơn (< 50%). Số ngời biết đầy đủ các loại chất thải ở nhóm 1 chiếm tỷ lệ thấp hơn
ở nhóm 2 (7,9% so với 18,6%)
Bảng 3. Hiểu biết loại chất thải gây nguy hại
Nhóm1, n = 101 Nhóm2, n=102 Chung
Loại chất thải gây nguy
hại
n % n %
P
n %
CT lâm sàng/y tế 87 86,1 96 94,1 > 0,05 183 90,1
Nhìn chung, số ngời nhận biết đợc sự nguy hại của chất thải y tế đối với môi trờng và
sức khỏe ở nhóm 2 cao hơn ở nhóm 1 (P < 0,05)
Bảng 5. Hiểu biết về những đối tợng dễ bị ảnh hởng bởi chất thải y tế
Nhóm 1 (n = 101) Nhóm2 (n=102) Chung
Đối tợng dễ bị ảnh
hởng
n % n %
P
n %
Hộ lý 90 89,1 97 95,1 > 0,05 187 92,1
Bác sĩ/y tá 77 76,2 85 83,3 > 0,05 162 79,8
Nhân viên thu gom, vận
chuyển, xử lý rác
38 37,6 60 58,8
< 0,01 98 48,3
Bệnh nhân 23 22,8 31 30,4 > 0,05 54 26,6
Ngời bới rác 14 13,9 32 31,4 < 0,01 46 22,7
Dân sống quanh bệnh viện 42 41,6 48 47,1 > 0,05 90 44,3
Không biết 1 1,0 2 2,0 > 0,05 3 1,5
Nhận xét: phần lớn những ngời đợc phỏng vấn cho rằng đối tợng dễ bị ảnh hởng của chất
thải y tế là nhân viên y tế (bác sĩ, y sỹ, y tá và hộ lý từ 79,8% - 92,1%), những đối tợng khác đợc
biết ít hơn. Số ngời biết về đối tợng dễ bị ảnh hởng của chất thải y tế ở nhóm 2 cũng cao hơn ở
nhóm 1
Bảng 6. Hiểu biết về xử lý chất thải y tế
Nhóm 1 (n = 101) Nhóm 2 (n=102) Chung
Biết hình thức xử lý
n % n %
P
n %
Đối với chất lâm sàng:
P
n %
Tổng số ngời bị thơng
tích/1 tháng
5 6,4 8 7,8
> 0,05 13 7,2
1 lần 4 2,6 4 3,9 8 5
2 lần 1 1,3 2 2,0 3 1,7
3 lần 0 0 1 1,0 1 0,6
Tổng số ngời bị thơng
tích/1 năm
15 19,2 21 20,6
> 0,05 36 20,0
1 lần - 3 lần 12 15,4 18 17,6 30 16,7
> 3 lần 3 3,8 3 2,9 6 3,3
Nhận xét: Không có sự khác nhau đáng kể
về tỷ lệ thơng tích do chất thải y tế giữa hai
nhóm bệnh viện đã xử lý chất thải và cha xử
lý chất thải
IV. Bàn luận:
Sự nguy hại của chất thải y tế không phải
chỉ ở những chất thải nhiễm khuẩn mà còn có
những chất thải không nhiễm khuẩn nhng là
chất độc hại (chất phóng xạ, chất gây độc tế
bào, các hóa chất độc dùng trong các phòng xét
nghiệm)
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
phần lớn những ngời đợc phỏng vấn biết sự
nguy hại của chất thải lâm sàng, còn những
chất thải khác số ngời biết không tới 50%, đặc
do chất thải y tế/1năm chiếm 20,% (thực tế có
thể còn cao hơn). Tỷ lệ này cao hơn một số liệu
của Mỹ (180/1000/năm) [3]. Không có sự khác
nhau đáng kể về tỷ lệ thơng tích do chất thải y
tế giữa hai nhóm bệnh viện đã xử lý chất thải
và cha xử lý chất thải. Đây cũng là một con số
cần đợc quan tâm nhằm bảo vệ sức khỏe cho
cho nhân viên y tế.
Để bảo vệ môi trờng, bảo vệ sức khỏe cho
cộng đồng khỏi những ảnh hởng của chất thải
y tế đòi hỏi sự hiểu biết của tất cả những ngời
có liên quan đến chất thải y tế nh đã nói đến ở
51
TCNCYH 22 (2) - 2003
trên. Vì vậy ngoài nhân viên y tế, bệnh nhân và
ngời nhà cũng là đối tợng cần đợc nghiên
cứu.
Trong tổng số lợng chất thải rắn phát sinh
từ các bệnh viện phần lớn các chất thải thực sự
là không độc, chỉ có khoảng 15% chất thải
nguy hại [6]. Vì vậy, phân loại chất thải tốt sẽ
làm giảm lợng chất thải nguy hại cần phải xử
lý đặc biệt, giảm chi phí cho bệnh viện đồng
thời giúp cho việc quản lý tốt chất thải, hạn chế
sự lan truyền các yếu tố nguy cơ từ chất thải ra
môi trờng bệnh viện cũng nh ra ngoài bệnh
viện. Thực tế, tại 6 bệnh viện trên chúng tôi
thấy phần lớn cán bộ y tế đợc phỏng vấn cha
hiểu biết đầy đủ về phân loại chất thải mà chủ
có sự hiểu biết đầy đủ về nguy cơ của chất thải
và vai trò của quản lý chất thải trong việc bảo
vệ sức khỏe, bởi vì từ chỗ có kiến thức đến thực
hành đúng còn đòi hỏi có thời gian và sự rèn
luyện thờng xuyên nhng nếu không có kiến
thức thì khó có thể thực hành đúng. Nh vậy,
sự hiểu biết không đầy đủ này sẽ ảnh hởng rất
lớn đến việc quản lý chất thải của bệnh viện
Qua kết quả phỏng vấn chúng tôi đợc biết
công tác đào tạo, tập huấn về quản lý chất thải
cha đợc triển khai đến toàn thể cán bộ công
nhân viên của bệnh viện hoặc thực hiện nhng
không thờng xuyên (trong số ngời đợc
phỏng vấn mới chỉ có 58,6% số ngời đã đợc
tập huấn về quản lý chất thải, và chỉ 1 - 2 lần
trong vòng 5 năm, việc hớng dẫn thực hiện
quy chế quản lý chất thải y tế cũng mới chỉ đạt
xấp xỉ 80%). Ngoài ra hầu hết các bệnh viện
cha có một bộ phận chuyên môn có đủ năng
lực để thực hiện nhiệm vụ này.
V. Kết luận
- Hiểu biết về nguy cơ của chất thải y tế đối
với môi trờng và sức khoẻ cũng nh quản lý
chất thải ở cả hai nhóm bệnh viện còn hạn chế:
cha hiểu biết đầy đủ về đối tợng có nguy cơ
cũng nh nguy cơ của chất thải y tế đối với sức
khỏe và phân loại, thu gom, xử lý chất thải
- Tỷ lệ thơng tích do chất thải y tế/năm
chiếm 19,2 - 20,6%, không có sự khác biệt giữa
nhóm bệnh viện đã xử lý chất thải và cha xử
5. Carolline Cook (1998), Công tác quản
lý chất thải bện viện của quốc tế. Kỷ yếu
hội thảo Quản lý chất thải bệnh viện, Hà
Nội.
6. Nguyễn Thị Hồng Tú (1998), Công
tác quản lý chất thải bện viện - Luật pháp và
chính sách có liên quan, Kỷ yếu hội thảo
Quản lý chất thải bệnh viện, Hà Nội.
7. WHO (1987), Hospitals and health
for all, Geneva.
8. WHO (1994), Guideline for Health care
waste management
Knowledge on hospital wastes and hospital waste
management at six general hospitals at provincal level
The results of the interview of 203 staffs in 6 hospitals - 3 hospitals with treatment of wastes
(Phutho, Quangngai, Dongthap), 3 hoospitals without treatment of wastes (Yenbai, Quangnam, Can
tho) about knowledge on hospital wastes and hospital waste management injury rate caused by
sharp wastes among the interviewed staffs show:
- Medical staffs in both two groups have poor understanding about the impacts of hospital
wastes, and hospital wastes management (classification, collection, transport and treatment wastes)
- The injuries rate in the staffs that interviewed is 20.0%, and there is no sisnifical difference
between two groups
Recommenendations:
- Every hospital should: establish one specific department with the trained staffs that have
necessary kowledge so that it can run hospital waste management, and conduct continuing training
for all medical staffs in the hospital so that they have good understanding about impacts of hospital
wastes and hospital waste management regulations (classification, collection, transport and
treatment)