Nghiên cứu tình hình đội ngũ cán bộ và trang thiết bị y tế chủ yếu tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh Bến Tre năm 2012 - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
TRẦN NGỌC NHÂN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
VÀ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ CHỦ YẾU TẠI
CÁC BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN,
TỈNH BẾN TRE NĂM 2012
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II

Cần Thơ – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
TRẦN NGỌC NHÂN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
VÀ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ CHỦ YẾU TẠI
CÁC BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN,

đồng hành cùng tôi trong mọi chặng đường của cuộc sống.
Trần Ngọc Nhân
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATVSTP : An toàn vệ sinh thực phẩm
BNV : Bộ Nội vụ
BGĐ : Ban Giám đốc
BSCKI : Bác sỹ chuyên khoa cấp I
BSCKII : Bác sỹ chuyên khoa cấp II
BV : Bệnh viện
BVĐK : Bệnh viện đa khoa
BVĐKKV : Bệnh viện đa khoa khu vực
BXD : Bộ Xây dựng
BYT : Bộ Y tế
cas : Trường hợp
CB : Cán bộ
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
CĐHA : Chẩn đoán hình ảnh
CLS : Cận lâm sàng
CM : Chuyên môn
CP : Chính phủ
CV : Chuyên viên
DS : Dân số
DSĐH : Dược sỹ Đại học
DS-KHHGĐ : Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
DSTH : Dược sỹ Trung học
ĐD : Điều dưỡng
ĐH : Đại học
ĐT : Điện tim
đv : Đơn vị
HC : Hành chính

Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Phụ lục
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Số lượng phân theo loại cán bộ tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm
2012 40
Bảng 3.2. Số lượng của đội ngũ cán bộ phân theo chức danh nghề nghiệp tại 07 BV đa
khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm 2012 40
Bảng 3.3. Số lượng của đội ngũ cán bộ tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre năm
2012 so với định biên theo Thông tư 08 42
Bảng 3.4. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ tại 07 BV đa khoa huyện năm 2012 43
Bảng 3.5. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Y tại 07 BV đa khoa huyện thuộc tỉnh
Bến Tre năm 2012 44
Bảng 3.6. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Dược tại 07 BV đa khoa huyện thuộc
tỉnh Bến Tre năm 2012 44
Bảng 3.7. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ khác tại 07 BV đa khoa huyện thuộc
tỉnh Bến Tre năm 2012 45
Bảng 3.8. Tỷ lệ cơ cấu bộ phận của 07 BV đa khoa huyện 46
Bảng 3.9. Tỷ lệ cơ cấu chuyên môn của 07 BV đa khoa huyện 47
Bảng 3.10. Tỷ lệ cán bộ y tế trên giường bệnh của 07 BV đa khoa huyện 48
Bảng 3.11. Cơ cấu tuổi và giới tính của đội ngũ cán bộ y tế tại 07 BV đa khoa huyện 49
Bảng 3.12. Số lượng và tình hình hoạt động của máy siêu âm 49
Bảng 3.13. Số lượng và tình hình hoạt động của máy x-quang 50
Bảng 3.14. Số lượng và tình hình hoạt động của máy điện tim 51
Bảng 3.15. Hiệu quả hoạt động của máy siêu âm 52
Bảng 3.16. Hiệu quả hoạt động của máy x-quang 53
Bảng 3.17. Hiệu quả hoạt động của máy điện tim 53
Bảng 3.18. Trình độ sử dụng máy siêu âm, x-quang, điện tim tại 07 BV đa khoa huyện 54
Bảng 3.19. Số lượng Kỹ sư Y sinh học, Kỹ sư Điện tử tin học, Kỹ sư Cơ điện, Cán bộ bảo

đạo đổi mới phương thức hoạt động và tăng cường đầu tư cho y tế cơ sở cả về
nhân lực, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng [1]. Sau đó một loạt các chính sách đã
được ban hành nhằm tăng cường năng lực cho y tế cơ sở như: ban hành và
thực hiện Chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010 [25] và đến nay đã
có 55,5% trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia; đầu tư xây dựng trạm y tế xã thuộc
vùng khó khăn giai đoạn 2008-2010 trong đó tập trung đầu tư xây dựng trạm
y tế xã đạt chuẩn quốc gia cho các xã hiện chưa có trạm y tế thuộc vùng khó
khăn [44]; tăng cường nguồn nhân lực và năng lực của cán bộ y tế qua việc
thực hiện Đề án đào tạo nhân lực y tế cho vùng khó khăn, vùng núi của các
tỉnh miền Bắc và miền Trung, vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Tây
Nguyên theo chế độ cử tuyển [45]; Đề án 1816 về luân phiên cán bộ về hỗ trợ
tuyến dưới nhằm nâng cao năng lực khám, chữa bệnh cho các bệnh viện
tuyến dưới trong cung ứng dịch vụ, khắc phục tình trạng quá tải và nâng cao
chất lượng dịch vụ bệnh viện; nâng cao chế độ phụ cấp đối với nhân viên y tế
thôn bản [41].
Để thực hiện các chính sách chủ yếu nhằm thực hiện các mục tiêu chăm
sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân mà Chính phủ và ngành y tế Việt Nam đã đề
ra thì việc quản lý nguồn lực là một hoạt động hết sức quan trọng. Quản lý
nguồn nhằm thực hiện các mục tiêu huy động, phân phối và sử dụng các loại
nguồn lực một cách công bằng, hợp lý, có hiệu quả và tiết kiệm. Tính hiệu
2
quả chú trọng đến trình độ trang bị kỹ thuật, phương pháp phân phối nguồn
lực, hiệu lực quản lý hành chính và chất lượng dịch vụ y tế cung cấp cho nhân
dân. Tính công bằng đòi hỏi phải cung cấp các dịch vụ y tế bằng nhau cho
những người có cùng mức độ bệnh tật như nhau, hay nói cách khác, ai có nhu
cầu cần được chăm sóc y tế nhiều hơn thì được đáp ứng nhiều hơn.
Để có cơ sở xác định được thực trạng nguồn lực y tế tại các bệnh viện
đa khoa huyện thuộc tỉnh Bến Tre, khảo sát những yếu tố cần thiết đến sự
phát triển các nguồn lực trong giai đoạn hiện nay và các năm tiếp theo, từ đó
có giải pháp thích hợp để huy động, phân phối và sử dụng các loại nguồn lực

Tùy theo tình hình kinh tế, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có những đường
lối, chính sách y tế hoạch định phù hợp với mục tiêu của từng giai đoạn phát
triển. Thê giới hiện nay có nhiều hệ thống y tế khác nhau đang tồn tại, mỗi
quốc gia có những chương trình và chính sách y tế khác nhau, quy mô và
phân bổ nhân lực cũng khác nhau. Tuy nhiên những nội dung cơ bản của việc
cung ứng nhân lực y tế trên thế giới hiện nay đều bao gồm: Qui mô, phân bổ
(theo địa lý, theo nghề nghiệp, theo các kỹ năng cơ bản, theo thể chế, theo
tuổi và giới), tuyển dụng, sử dụng và đào tạo. Mục đích là cung cấp nhân lực
trong lĩnh vực y tế và các lĩnh vực liên quan không chỉ đơn thuần về mặt
chăm sóc sức khoẻ, mà còn thực hiện các chức năng của y tế cộng đồng và
các hoạt động bảo vệ sức khoẻ theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới [5] .
4
Trong đa phần các trường hợp vấn đề này liên quan đến cả các khu vực tư
nhân và khu vực y tế công.
1.1.1.1. Quy mô và cơ cấu của nhân lực y tế ở một số nước châu Á và trên
thế giới
Theo tài liệu của Ban Khoa giáo Trung ương năm 2004, thống kê cho
thấy số Bác sĩ/vạn dân của một số quốc gia thuộc các nước khu vực Châu Á
như sau: Mongolia có dân số 2,6 triệu người thì có 27,8 BS/10.000 dân; New
Zealand với 3,8 triệu dân có 21,9 BS/10.000 dân; Nhật Bản 126,5 triệu dân có
20,2 BS/10.000 dân; Hàn quốc 46,5 triệu dân có 18 BS/10.000 dân; Trung
Quốc 1.273,6 triệu dân có 16,4 BS/10.000 dân; Singapore 3,5 triệu dân có 14
BS/10.000 dân; Philippin 74,5 triệu dân có 11,5 BS/10.000 dân; Brunei 0,3
triệu dân có 9,95 BS/10.000 dân; Lào 5,3 triệu dân có 6,1 BS/10.000 dân;
Malaysia 21.83 triệu dân có 6,1 BS/10.000 dân; Việt nam có 78,7 triệu dân có
5,6 BS/10.000 dân; Thái Lan có 60,8 triệu dân có 2,9 BS/10.000 dân;
Indonesia có 209,3 triệu dân có 1,3 BS/10.000 dân.
Nhân lực y tế khu vực Tây Thái Bình Dương về qui mô từ tỷ lệ nhân
viên y tế/vạn dân khoảng 11/10.000 ở Australia và New Zealand, tỷ lệ này
chưa đến 1/vạn dân ở Paqua New Guinea và các đảo Solomon [5], [38], [77].

và cán bộ được đào tạo các kỹ năng dựa vào cộng đồng để đảm trách những
chương trình phòng dịch hiệu quả [5], [77].
Vấn đề cốt yếu vẫn là thiếu nhân lực nông thôn hoặc các vùng sâu,
vùng xa, thậm chí kể cả ở những khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội thấp
thuộc thành thị.
6
Tất cả các nước khu vực Tây Thái Bình Dương đều có sự mất cân bằng
về cơ cấu trong và giữa các nhóm nghề nghiệp, thiếu các kỹ năng thích hợp
để đáp ứng các yêu cầu tại chỗ hoặc trong những hoàn cảnh thay đổi. Phạm vi
của những vấn đề này rất khác nhau giữa các nước. Ở Mông Cổ, vấn đề chủ
yếu là thừa BS, nhưng có rất nhiều BS có bằng cấp, lại đang làm việc ngoài
lĩnh vực y tế. Ở Australia, thiếu hụt nhân viên thường gặp ở những chuyên
khoa đặc biệt như sức khoẻ tâm thần, phẫu thuật chỉnh hình, hồi sức cấp cứu
và gây mê [38], [77].
1.1.1.3. Một số vấn đề y tế và nhân lực y tế của các nước kém phát triển
Các nước kém phát triển (phần lớn là các nước thuộc địa cũ) đều nằm
trong vòng xoắn: đói nghèo, lạc hậu dẫn đến tình trạng kinh tế, chính trị, xã
hội không ổn định, từ đó có nhiều bệnh tật phát sinh và hậu quả là càng đói
nghèo, lạc hậu.
Hậu quả của quá trình thuộc địa là hệ thống y tế vốn đã kém phát triển,
lại mất cân đối giữa hai khu vực: khu chữa bệnh tương đối phát triển, còn khu
vực phòng bệnh thì rất yếu kém, mặc dù các nhà lãnh đạo đều ý thức được
rằng cần phải dự phòng bệnh là chính. Điều này cần phải đầu tư rất lớn, trong
khi lại có nhiều ưu tiên cấp bách khác, tình hình an ninh chính trị không ổn
định, do điều kiện sống của đại đa số dân cư rất thấp, trình độ dân trí còn lạc
hậu…
Các cơ sở y tế chỉ tập trung ở các thành phố lớn. Rất nhiều vùng nông
thôn, vùng sâu, vùng xa trắng về y tế, ở đây người ốm rất khó khăn trong tiếp
cận dịch vụ y tế. Các tập tục lạc hậu về chữa bệnh còn đè nặng lên người dân:
Thầy mo, thầy cúng làm cả chức năng “thầy thuốc”.

tác hòa hợp các quy định, các thủ tục quản lý trang thiết bị y tế tại các nước
8
trong khu vực Châu Á, tăng cường sự hiểu biết về các lợi ích của hòa hợp
trong khu vực, hỗ trợ quá trình triển khai thực hiện về lĩnh vực trang thiết bị y
tế. Ngoài ra còn có nhóm công tác về các sản phẩm y tế - Ủy ban tư vấn về
tiêu chuẩn, chất lượng ASEAN, đồng thời nghiên cứu và đề xuất một quy
trình khả thi phê duyệt nhanh các sản phẩm mà nhà quản lý trang thiết bị y tế
các nước đều đồng thuận, hình thành một hệ thống cảnh báo chung trong khu
vực đối với các sản phẩm kém phẩm chất hoặc không an toàn, thúc đẩy và hỗ
trợ quá trình xin gia nhập tổ chức hòa hợp các thủ tục trong khu vực Châu Á
của các nước thành viên ASEAN.
Hệ thống y tế các nước cũng khác nhau tùy theo mức độ cung cấp dịch
vụ mà thuộc loại một hay hai thành phần. Ở Canada thì hệ thống chăm sóc
sức khỏe chủ yếu từ Nhà nước. Mô hình hệ thống y tế của các nước XHCN
trước đây và một số nước Châu Âu như Anh, ở Bắc Mỹ như Canada thì nhà
nước chịu hoàn toàn chi phí. Mô hình y tế phổ biến của các nước hiện nay là
có nhiều mức độ chi trả khác nhau và Nhà nước chỉ chi trả khi cần thiết. Chi
phí cho hoạt động khám chữa bệnh ở các nước đang ngày càng gia tăng một
cách đáng lo ngại, sự gia tăng các chi phí này do nhiều nguyên nhân, trong
khi đó việc xuất hiện ngày càng nhiều các trang thiết bị chẩn đoán và điều trị
cũng là nguyên nhân của việc gia tăng chi phí khám chữa bệnh cho người dân.
Ở Mỹ, chi phí y tế bình quân cho một đầu người vào năm 1968 là 1.827 USD
và trong năm 2010 là 8.228 USD [72].
Sự bất bình đẳng trong khám chữa bệnh ngày càng lớn, việc gia tăng các
chi phí khám chữa bệnh đã làm cho người dân có thu nhập thấp, thu nhập
trung bình không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc chăm sóc
sức khỏe, đặc biệt là các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có trang thiết bị kỹ thuật
cao, việc người dân thiếu các thông tin về y tế cũng gây nên sự bất bình đẳng
9
trong khám chữa bệnh do sự tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bị

quan đến chế độ tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực y tế tiếp tục được
bổ sung, hoàn thiện, như: Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số
64/2009/NĐ-CP, ngày 30/7/2009, về chính sách đối với cán bộ, viên chức y tế
công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn [7]. Chính phủ
đã ban hành Nghị định 56/2011/NĐ-CP, ngày 4/7/2011, quy định chế độ phụ
cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở y tế
công lập, theo đó, mức phụ cấp ưu đãi từ 20% đến 70% mức lương ngạch, bậc
hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có)
của đối tượng được hưởng, tùy theo tính chất công việc.
Các kết quả đã đạt được trên lĩnh vực y tế trong những năm qua:
Số lượng và chất lượng nhân lực y dược được cải thiện: Số lượng nhân
lực y tế tiếp tục duy trì xu hướng đi lên của thập kỷ qua. Số Y-BS trên một
vạn dân tăng lên (12,52 vào năm 2009 so với 12,23 của năm 2008), số BS
trên vạn dân tăng thêm 0,07 (từ 6,52 lên 6,59) và số lượng Điều dưỡng trên
một vạn dân cũng tăng (8,82 của năm 2009 so với 7,78 của năm 2008). Về
nhân lực Dược bậc Đại học, do số liệu năm 2009 không bao gồm Dược sỹ
khu vực sản xuất, kinh doanh dược, nên số Dược sỹ trên một vạn dân chỉ còn
là 0,38 (nếu tính cả khu vực sản xuất và kinh doanh tỷ số năm 2009 là 1,78 và
năm 2008 là 1,22) [20]. Tỷ lệ nhân lực y tế bậc Đại học và Sau đại học gần
như không thay đổi. Năm 2008 tỷ lệ này là 27%, đến năm 2009 chỉ còn 26%.
Tỷ lệ xã có BS làm việc tăng lên 67,7%, so với 65% của 2008. Số trạm y tế xã
đạt chuẩn quốc gia về y tế xã là 65,4%. Tỷ lệ trạm y tế xã có Y sỹ sản nhi
hoặc Hộ sinh làm việc đạt chỉ tiêu đề ra là trên 95% (95,7%). Tỷ lệ thôn, bản,
ấp của xã, thị trấn có nhân viên y tế hoạt động đạt gần 97% [20].
11
Số lượng tuyển sinh bậc Đại học và Sau đại học tăng rõ rệt: Mạng lưới
đào tạo nhân lực y tế bao gồm 25 trường/khoa Đại học, 34 trường cao đẳng y
tế, 42 trường trung cấp y dược. Ngoài ra còn có 6 viện nghiên cứu, 7 BV tham
gia đào tạo mới ở các bậc Sau đại học, trung cấp. Trong số 25 trường/khoa
Đại học có cả các trường ngoài công lập và các trường đào tạo đa ngành. Số

đến hết năm 2010, toàn bộ các trường đại học, cao đẳng, trung cấp y dược đã
và đang thực hiện kiểm định theo các tiêu chí của Bộ Giáo dục và Đào tạo,
hầu hết đều ở giai đoạn kết thúc tự kiểm định nội bộ và hiện đang chờ kiểm
định từ bên ngoài. Cải cách trong giáo dục y học bước đầu được thực hiện ở
các cơ sở đào tạo [4].
Bồi dưỡng, nâng cao năng lực nhân lực y tế được thực hiện thường xuyên:
Chương trình đào tạo, nội dung đào tạo và hình thức đào tạo đa dạng và
phong phú hơn [69]. Hầu hết các đề án, dự án đầu tư cho hệ thống y tế các
khu vực đều có bao gồm một cấu phần về đào tạo lại, đào tạo liên tục cán bộ y
tế, như: Đề án nâng cấp BV huyện từ 2006–2009 [39]; Dự án Tăng cường
năng lực đào tạo y tế công cộng cho trường Đại học Y tế Công cộng; Dự án
Đào tạo kỹ năng tiền lâm sàng do Tổ chức NUFFIC Hà Lan tài trợ (2007–
2009); Dự án Nâng cao năng lực giảng dạy trong các trường cao đẳng, trung
cấp y tế; Một hình thức bồi dưỡng chuyên môn của ngành được thể hiện trong
Đề án 1816 [27]…. Sau hơn hai năm thực hiện đã có 2504 kỹ thuật thuộc 26
chuyên ngành được chuyển giao cho tuyến tỉnh; 702 kỹ thuật KBCB được
chuyển giao cho tuyến huyện, 12.066 cán bộ y tế tuyến huyện được tham gia
các lớp tập huấn; 1815 trạm y tế xã được BV huyện hỗ trợ kỹ thuật [49].
Nhiều chương trình, dự án sử dụng vốn viện trợ, vốn vay nước ngoài hỗ
trợ phát triển nhân lực y tế được thực hiện.
13
Một số khó khăn, bất cập của ngành y tế Việt Nam trong những năm qua:
- Một số chỉ số về nhân lực y tế còn thấp so với chỉ tiêu đề ra.
- Phân bố nhân lực y tế bất hợp lý theo vùng miền, lĩnh vực.
- Quản lý sử dụng, chính sách đãi ngộ nhân lực y tế còn nhiều hạn chế:
Theo Niên giám thống kê 2009, số lượng BS hệ công lập chỉ tăng lên 453
người so với năm 2008, trong khi số lượng sinh viên y khoa (BS đa khoa, BS
y học cổ truyền, BS răng hàm mặt) tốt nghiệp năm 2008 là 3520 và năm 2009
là 3550 [14]. Bên cạnh các nguyên nhân chính liên quan đến thu nhập, điều
kiện làm việc, cơ hội phát triển nghề nghiệp, thì việc quy định quyền tự chủ

không muốn cử cán bộ đi học các khóa đào tạo chính quy, do nhiều nhân viên
y tế sau khi tốt nghiệp không trở về cơ sở y tế đã cử đi học, mà xin chuyển
đến các cơ sở lớn hơn, ở tuyến cao hơn [56].
- Công tác đào tạo mới nguồn nhân lực y tế còn nhiều bất cập:
Các trường đại học khối ngành y-dược đang phải đối mặt với tình trạng
quá tải sinh viên và học viên. Trong 10 năm qua, số lượng sinh viên đại học
tuyển mới tăng lên hằng năm, trung bình khoảng 10%, cá biệt có năm tăng
26% [13], nhưng cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên của các trường không
được phát triển tương xứng. Số lượng các cơ sở thực hành lâm sàng chưa
được đầu tư đầy đủ, ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo.
Số lượng tuyển sinh khối trung cấp cũng tăng rất nhanh. Riêng năm 2010,
tổng chỉ tiêu đào tạo là 66.680, trong đó điều dưỡng là 21.787 và dược sỹ
trung cấp là 24.915 [10]. Với số lượng tuyển sinh lớn như vậy, có hai vấn đề
xảy ra: 1) chất lượng đào tạo không được đảm bảo, 2) rất nhiều học sinh ra
15
trường không tìm được việc làm đúng với chuyên ngành được đào tạo gây
lãng phí cho cả người dân và nhà nước.
Công tác cải cách giáo dục y học trong các trường y dược đã và đang
được tiến hành, nhưng còn hạn chế ở một số trường, chủ yếu là ở bậc đại học,
và kết quả thực hiện cũng chưa được đánh giá. Chương trình đào tạo, phương
pháp dạy học chưa cập nhật với các xu hướng mới trong giáo dục y học [78],
thiếu tài liệu, vật liệu giảng dạy, đội ngũ giáo viên, giảng viên thiếu và không
được đào tạo thường xuyên, cơ sở vật chất thiếu thốn, kinh phí dành cho hoạt
động đào tạo thấp vẫn tiếp tục là các vấn đề cần được cải thiện.
Công tác kiểm định chất lượng giáo dục đã được triển khai trong các cơ
sở đào tạo, nhưng các tiêu chí sử dụng cho kiểm định là các tiêu chí chung
cho tất cả các khối ngành, và chưa có tiêu chí đặc thù cho đào tạo khối ngành
khoa học sức khỏe [57].
1.2.2. Một số khái niệm về nguồn nhân lực y tế
1.2.2.1. Nguồn nhân lực

thống y tế, vừa nằm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người của
đất nước.
Phát triển nguồn nhân lực y tế phải đi trước nhu cầu của xã hội dựa trên
những dự báo về nhu cầu, cũng như các khả năng tài chính và kỹ thuật trong
cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng [64].
Ngành y tế Việt Nam được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ phải làm
tốt công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nhiệm vụ chính của ngành là nhiệm
vụ chính trị của mỗi cơ quan y tế từ trung ương đến cơ sở [54]. Quản lý y tế là
một khoa học thuộc phạm trù khoa học xã hội, cung cấp cho cán bộ y tế
những kiến thức tối thiểu để sử dụng hiệu quả các nguồn lực, trong đó nguồn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status