Lời Cảm Ơn
Tôi tỏ lòng biết ơn chân thành đến.
- Ban giám hiệu trường Đại học Y Dược Huế
- Khoa Y tế Công cộng cùng các Thầy, Cô trong khoa đã
tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
thực hiện luận văn này.
- UBND tỉnh Quảng Nam, Ban giám đốc Sở Y tế,
Ban giám hiệu trường Cao đẳng Y tế Quảng Nam đã quan tâm
tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa đào tạo Chuyên khoa I
Y tế Công cộng tại Quảng Nam.
- Tiến sĩ Nguyễn Văn Tập - Giảng viên Khoa Y tế
Công cộng; Người đã tận tình chu đáo dạy dỗ tôi trong suốt quá
trình học tập và trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và
hoàn thành luận văn này.
- Các cán bộ Thư viện trường Đại học Y Dược Huế đã
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc tìm kiếm các tài liệu tham khảo quý
giá để thực hiện luận văn này.
- Ban giám đốc Trung tõm Y tế 6 huyện miền núi cao của
tỉnh Quảng Nam đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình điều tra,
thu thập số liệu, dữ kiện để hoàn thành luận văn này.
- Gia đình, bạn bè, những người đã giúp tôi về mặt vật chất
cũng như tinh thần để tôi vượt qua khó khăn, có điều kiện học tập,
công tác và hoàn thành luận văn này.
Nguyễn Huy Thông
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
TYT : Trạm y tế
BS : Bác sĩ
CBYT : Cán bộ y tế
CSSKBĐ : Chăm sóc sức khỏe ban đầu
DT : Dược tá
ĐDTH : Điều dưỡng trung học
ĐDSH : Điều dưỡng sơ học
NHSTH : Nữ hộ sinh trung học
NHSSH : Nữ hộ sinh sơ học
NLYT : Nhân lực y tế
NVYT : Nhân viên y tế
HTYT : Hệ thống y tế
SL : Số lượng
TL : Tỷ lệ
YS : Y sĩ
YSYHDT : Y sĩ y học dân tộc
YTCS : Y tế cơ sở 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII), công tác chăm sóc sức
khoẻ nhân dân đã đạt được những thành tựu quan trọng. Mạng lưới y tế cơ sở
từng bước được củng cố và phát triển. Hiện nay, 100% số xã trong toàn quốc
đã có cán bộ y tế hoạt động, trên 50% trạm y tế xã có bác sỹ, trên 70% thôn,
bản có nhân viên y tế. Tuy nhiên, trước yêu cầu của tình hình mới, mạng lưới
y tế cơ sở, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn bộc lộ nhiều hạn chế. cơ
này. Chính vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu tình hình
Nhân lực và Trang thiết bị y tế của các Trạm y tế xã tại 6 huyện miền núi
cao tỉnh Quảng Nam năm 2008" với hai mục tiêu như sau.
1. Mô tả tình hình nhân lực và trang thiết bị y tế tại các trạm y tế xã 6
huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam theo chuẩn quy định của Bộ Y tế.
2. Mô tả nhu cầu nhân lực và trang thiết bị y tế tại các Trạm Y tế xã của 6
huyện miền núi cao tỉnh Quảng Nam theo chuẩn của Bộ y tế
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TỔ CHỨC QUẢN LÝ VỀ NHÂN LỰC VÀ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ XÃ
1.1.1. Tình hình nhân lực tại trạm y tế xã theo thông tƣ số 08 liên bộ Y tế
Bộ Nội vụ
Một trong những khó khăn còn đang tồn tại hiện nay trong ngành y tế
cả nước nói chung và ngành y tế Quảng Nam nói riêng là sự thiếu hụt ngày
càng trầm trọng đội ngũ cán bộ y tế cơ sở, nhất là tuyến y tế xã, phường.
Hiện nay, đội ngũ này ở tuyến dưới tỷ lệ 27,865% [16]
Cán bộ y tế cơ sơ từ huyện đến xã, nhất là cán bộ y tế tuyến xã nhìn
chung năng lực chuyên môn cũng như quản lý còn rất nhiều hạn chế; cán bộ
vốn đã thiếu lại yếu trên nhiều lĩnh vực; nhiếu cán bộ trình độ chưa đáp ứng
được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, chưa nắm bắt được tiến bộ về
khoa học kỹ thuật trong vận hành, sử dụng các máy móc, trang thiết bị dụng
cụ y tế áp dụng các tiến bộ khoa học kỷ thuật vào công tác chăm sóc sức
- Các phường, thị trấn và những xã có các cơ sở khám chữa bệnh đóng
- Bảo đảm 80% số trạm y tế xã có bác sĩ, trong đó 100% các trạm y tế xã ở
đồng bằng và 60% các trạm y tế xã miền núi có bác sĩ
- Có trên 7 bác sĩ/10.000 dân vào năm 2010 và trên 8 bác sĩ/10.000 dân
vào năm 2020
- 100% trạm y tế có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi
1.1.2 Trang thiết bị y tế tại trạm y tế xã
Để từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các
địa phương vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa, từng bước thực
hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe người dân, tạo điều kiện cho người
dân vùng nông thôn, miền núi có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ y tế kỷ
thuật cao và có đủ cán bộ y tế chăm sóc sức khỏe; Quyết định số 370/QĐ-
5
BYT của Bộ Y tế ban hành Chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2020;
Quyết định số 2271/QĐ-BYT về việc ban hành danh mục trang thiết bị y tế
của trạm y tế xã và y tế thôn bản, trên cơ sở đó danh mục trang thiết bị y tế xã
theo chuẩn là
+ Các loại máy gồm (có 5 máy). máy siêu âm, máy điện tim, máy
châm cứu, máy hút dịch, máy khí dung.
+ Dụng cụ khám chuyên khoa TMH-RHM-Mắt gồm có. (16 khoản)
- Bộ khám ngũ quan + đèn treo trán, kẹp lấy dị vật tai, loa soi tai, kẹp
lấy dị vật mũi, kìm khám mũi, ghế răng đơn gián, kìm nhỗ răng trẻ em, kìm
nhổ răng người lớn, bẩy răng thẳng, bẩy răng cong, bộ lấy cao răng bằng tay,
bơm tiêm nha khoa, bộ khám (khay quả đậu, gương, gắp), bộ dụng cụ hàn
răng sâu ngà đơn giản, bảng thị lực, kính lúp 2 mắt, kẹp lấy dị vật trong mắt.
+ Bộ dụng cụ khám phụ khoa gồm có (18 loại). Bàn khám phụ khoa,
Mỏ vịt cở nhỏ thép không rỉ, mỏ vịt cở vừa thép không rỉ, van âm đạo các cở,
kẹp gắp bông gạc thẳng 200mm, kẹp cầm máu thẳng thép không rỉ, kéo cong
160mm thép không rỉ, khay quả đậu thép không rỉ, thước đo tử cung, kim
khay quả đậu, panh có mấu, kẹp phẩu tích, hộp chống sock phản vệ hộp đựng
bông cồn.
+ Thiết bị thông dụng (gồm 15 loại). máy bơm nước điện, máy bơm
nước unicef, máy phát điện, đèn măng xong, đèn bão, loa phóng thanh cầm
tay, máy vi tính+máy in, máy thu hình, điện thoại, bàn làm việc, ghế, ghế
băng, tủ tài liệu, bếp điện, bảng đen, lò sưởi điện.
1.2. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ Y TẾ
1.2.1. Tình hình nhân lực y tế ở thế giới
Sức mạnh của hệ thống y tế (HTYT) quốc gia nằm ở đội ngủ cán bộ y
tế (CBYT), những người mà kỹ năng chuyên môn và lòng tận tụy là minh
chững cho tất cả những gì mà họ có thể cống hiến. Họ có quyền được kính
trọng và được đối xử theo đúng giá trị thực. [59]
Năm 2006, chủ đề của “Ngày sức khỏe Thế giới” được giành riêng cho
vấn đề “Khủng hoảng nguồn nhân lực y tế (NLYT). NLYT, là những người
7
cung cấp sức khỏe cho những ai cần nó, là “ trái tim” của HTYT. Nhưng
khắp nơi trên thế giới có sự thiếu hụt trường diễn NLYT vì kết quả của việc
sử dụng đội ngũ NLYT trong nhiều thập kỷ. thiếu sự đầu tư về giáo dục, đào
tạo, lương, môi trường làm việc và sự quản lý. Những kết quả này là hiển
nhiên. BV không có NLYT và BV không tuyển thêm được hoặc không giữ
được đội ngũ nhân viên then chốt. Đây là một sự khủng hoảng mà không có
quốc gia nào tránh khỏi. [40]
Nguồn lực y tế (NLYT) có khuynh hướng đi đến những nơi có điều
kiện làm việc tốt nhất. Thu nhập là một động lực quan trọng đối với sự
chuyển đổi nơi làm việc, nhưng nó không phải là nguyên nhân duy nhất.
Những lý do khác bao gồm. điều kiện làm việc tốt hơn, thỏa mãn hơn với
công việc mới, nhiều cơ hội cho sự phát triển nghề nghiệp, và chất lượng của
sự quản lý và điều hành. Sự bất ổn về chính trị, chiến tranh, sự đe dọa của
bạo lực ở nơi làm việc cũng là những nguyên nhân chính ở nhiều quốc gia.
Bởi vì y tế cơ sở là đơn vị gần dân nhất; giải quyết 80% khối lượng phục vụ y
tế tại chỗ. [4]
Mô hình chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) của ta đã phù hợp với
8 nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) mà tổ chức y tế thế giới
đè ra được thống nhất và phổ biến ở hội nghị Alma-Ât năm 1978 [18], [63].
Trước khi có Nghị quyết TW4 khóa VII của Trung ương Đảng, hầu hết
các cơ sở y tế đặc biệt là trạm y tế (TYT) xã phường xuống cấp trầm trọng;
có 880 xã trắng về y tế, cán bộ y tế cơ sở (CBYTCS) không được trả phụ cấp,
không được đào tạo, bồi dưỡng thêm về chuyên môn nghiệp vụ, nhiều cán bộ
y tế (CBYT) cơ sỏe phải đi làm việc khác để kiếm sống. [8], [15].
Ngày 28/02/1991 Bộ Y tế (BYT) có công văn số 958/BYT-TC về việc
tổ chức sắp xếp y tế địa phương, trong đó hướng dẫn thực hiện cơ chế quản
lý theo ngành. [6]. Thực hiện Nghị quyết TW4 khóa VII về tăng cường công
tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, Thủ tướng Chính phủ đã có
9
Quyết định số 58/TTg ngày 03/02/1994 [25] và Quyết định số 131/TTg ngày
04/03/1995 quy định một số vấn đề về tổ chức và chế độ tài chính đối với y tế
cơ sở [26]. Ngày 20/04/1995 liên Bộ tài chính, Y tế và Lao động Thương
binh xã hội và Ban tổ chức cán bộ Chính phủ đã có Thông tư số 08/TT-LB
hướng dẫn 2 Quyết định trên [7].
1.2.3. Phân bố và cơ cấu các loại hình cán bộ y tế
Số lượng cán bộ y tế (CBYT) của nước ta tính theo đầu dân hiện nay
cao hơn so với nhiều nước trong khu vực như. Thái Lan, Indonexia, trong khi
các nước này có tiềm năng kinh tế cao hơn Việt Nam. Nhưng số ,lượng này
không đồng đều giữa các vùng. tại các tỉnh thành miền núi, vùng cao, số
lượng cán bộ y tế (CBYT) trên đầu dân thấp hơn so với vùng đồng bằng,
trong khi về mặt lý thuyết thì các vùng này cần có số lượng cán bộ y tế
(CBYT) trên đầu dân cao hơn do điều kiện đi lại khó khăn, người dân ở cách
xa nhau. Ngay trong một địa phương, phân bố cán bộ theo các cơ sở chưa
Đội ngũ CBYT nói trên được phân bố rộng rãi khắp theo các tuyến từ
các tuyến trung ương đến tuyến tỉnh, huyện, xã của tất cả các tỉnh, thành. Tại
thời điểm năm 2005, số lượng CBYT công tác tại tuyến xã chiếm một con số
đáng kể (22%) trong tổng số CBYT cuả các địa phương. Đây là những người
tham gia trực tiếp vào công tác CSSKBĐ cho người dân.Với tuyến huyện, số
lượng CBYT chiếm khoảng 29% tổng số và tuyến tỉnh là 35%[14].
Theo báo cáo y tế thế giới 2006, tỷ lệ BS trên 1 vạn dân của Việt Nam
hiện nay thuộc loại trung bình trong khu vực (5,3) cao hơn Thái Lan (3,7) và
Indonesia (1,3), thấp hơn của Singapore (14), Malaysia (7) và Philipine (5,7)
[69].
Theo BYT (2008) , hiện nay số cán bộ y tế trong cả nước đã đạt 32 cán
bộ /1 vạn dân và 6,2 bác sĩ/1 vạn dân. Đây là một tỷ lệ không đến nỗi quá
thấp so với nhiều nước trong khu vực nhưng với các vùng trong cả nước lại
11
đang có sự mất cân đối trầm trọng. Đồng bắng sông Cửu Long và Tây Bắc là
hai vùng có số cán bộ y tế thấp nhất, khoảng 21- 25 CBYT/ 1 vạn dân [22].
Tuy nhiên rất nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp gặp nhiều khó khăn về thủ
tục để được tuyển dụng tại địa phương đó [21].
Một trong những lý do chính dẫn đến những bất cập về tuyển dụng
CBYT là chưa xác định được nhu cầu cụ thể về số lượng và loại hính cán bộ
đối với tùng vùng ,khu vực và cơ sở y tế. Do vậy, việc dự báo nhu cầu thực tế
về CBYT của từng ngành ,nghề và địa phương để có kế hoạch phát triển nhân
lực rõ ràng hơn cho ngành y tế là một vấn đề cần được quan tâm trong thời
gian tới [21].
1.2.4 Xác định nhu cầu nhân lực
Căn cứ vào.
- Quyết định số 35/2001/QĐ-TTg ngày 19/03/2001 của Thủ tướng
Chính Phủ về phê duyệt “ chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
giai đoạn 2000-2020” [18].
nội thất bệnh viện sản xuất trong nước đã được tăng cả về số lượng và chất
lượng, đáp ứng được nhu cầu của ngành Y tế và bước đầu xuất khẩu.
Tại các bệnh viện tỉnh, các khoa chủ yếu như. chẩn đoán hình ảnh, xét
nghiệm sinh hoá, phòng mổ và hồi sức cấp cứu đã được trang bị một số
phương tiện như. máy X- quang cao tần - tăng sáng truyền hình, máy siêu
âm, máy nội soi, máy xét nghiệm sinh hoá nhiều chỉ số, máy huyết học, máy
gây mê, máy thở, máy sốc tim, máy theo dõi bệnh nhân v.v
Tại 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều được trang bị đủ
trang thiết bị y tế để sàng lọc phát hiện bệnh nhân bị nhiễm HIV, viêm gan,
một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong công tác truyền máu an toàn.
Các Trung tâm y tế huyện, nhất là các đơn vị y tế các huyện đồng bằng
đã được trang bị những thiết bị chẩn đoán thiết yếu, hầu hết đã có máy X-
quang với công suất phù hợp, máy siêu âm, máy điện tim chẩn đoán và xe Ô
13
tô cứu thương. Các trạm y tế xã đã được cung cấp các thiết bị, dụng cụ cần
thiết để phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu và thực hiện các dịch vụ về dân
số và kế hoạch hoá gia đình.
Tuy vậy nhìn chung trang thiết bị y tế được cung ứng cho các đơn vị y
tế các tuyến của nước ta hiện nay còn nhiều thiếu thốn và chưa đồng bộ, lạc
hậu so với các nước trong khu vực; các trang thiết bị y tế hiện đại mới chỉ
được chú trọng trang bị cho tuyến Trung ương và các chuyên khoa tuyến
tỉnh; việc định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng thiếu cán bộ kỹ thuật và chưa thật
sự chú trọng, nguồn kinh phí cho thực hiện vấn đề này còn rất nhiều hạn chế,
không đủ nguồn vốn để đầu tư và đổi mới, nhiều địa phương không có đủ
kinh phí để mua vật tư tiêu hao. Trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên môn y tế
chưa đủ để khai thác hết công suất trang thiết bị hiện có. Năng lực của cán bộ
kỹ thuật trang thiết bị y tế chưa đáp ứng kịp những đổi mới về kỹ thuật và
công nghệ. Chất lượng đào tạo, bố trí sử dụng nhân lực chuyên sâu về kỹ
thuật thiết bị y tế còn thấp so với yêu cầu. Nhiều bệnh viện tỉnh chưa có
các Bệnh viện Đa khoa và chuyên khoa ở các khu vực đều được trang bị
phương tiện cũng như dụng cụ Y tế và máy móc hiện đại, bảo đảm đủ theo
chuẩn quy định và cơ bản đáp ứng được nhu cầu về chăm sóc sức khỏe nhân
dân, tuy nhiên có một số cơ sở y tế trình độ cán bộ chuyên môn còn hạn chế,
chưa đáp ứng được yêu cầu về sử dụng trang thiết bị dụng cụ, máy móc được
trang bị. Hiện phần lớn trang thiết bị y tế của các Tram y tế xã là các trang
thiết bị do các chương trình dự án (hỗ trợ y tế quốc gia; dự án Dân số và sức
khoẻ sinh sản; dự án về kế hoạch hoá gia đình P05, P06; các dự án phi Chính
phủ) đầu tư các đây hàng chục năm nên nhiều thiết bị đã cũ kỷ và hư hỏng.
Không những thế, một số trạm y tế xã hiện đang trong tình trạng xuống cấp;
số cán bộ y, bác sĩ và số giường điều trị nội trú tại hầu hết các cơ sở y tế này
chưa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của nhân dân.
15
Việc đầu tư trang thiết bị y tế cho tuyến y tế cơ sở miền núi cao chưa
đồng bộ và còn nhiều bất cập; có nhiều cơ sở y tế được đầu tư trang thiết bị
dụng cụ y tế bài bản đầy đủ theo chuẩn quy định nhưng cán bộ sử dụng lại
không có, không sử dụng được hoặc sử dụng không hiệu quả; có cơ sở có
trang thiết bị thiết yếu nhưng qua nhiều năm sử dụng đã xuống cấp trầm
trọng mà không được mua mới và cấp bổ sung; nhiều cơ sở y tế chật hẹp và
đã xuống cấp trầm trọng nhưng vẫn đầu tư trang thiết bị dụng cụ y tế dẫn đến
trang thiết bị y tế nhận về để cất kho; ngược lại có một số cơ sở y tế được
biên chế cán bộ đầy đủ và có Bác sĩ nhưng trang thiết bị y tế thiết yếu lại còn
rất thiếu thốn, sơ sài không bảo đảm cho công tác chăm sóc sức khoẻ nhân
dân.
Cùng với những khó khăn chung của cả tỉnh, 6 huyện miền núi cao còn
có những khó khăn riêng; Dân số chung của 6 huyện là 130.554 người (Tây
Giang 16.245, Đông Giang 22.825, Nam Giang 22.131, Phước Sơn 21.487,
Bắc Trà My 23.765, Nam Trà My 24.121) có 12 dân tộc anh em sinh sống
với trên 95% là đồng bào dân tộc thiểu số; điều kiện Kinh tế - Văn hóa - Xã
núi, vùng sâu, vùng xã của tỉnh; lãnh đạo chính quyền các cấp và ngành Y tế
Quảng Nam cần có chiến lược phát triển ngành y tế tỉnh nói chung và ngành
y tế các huyện miền núi cao của tỉnh nói riềng; phải có những giải pháp kịp
thời, nhanh chóng triển khai thực hiện đồng bộ để nâng cao chất lượng khám
chữa bệnh cho nhân dân tại các trạm y tế xã; cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng,
hoàn thiện hệ thống y tế cơ sở; quan tâm đầu tư trang thiết bị, dụng cụ y tế;
chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt cho cán
bộ ngành y tế ở cơ sở. Có chế độ chính sách hợp lý, chế độ đãi ngộ thỏa đáng
cho cán bộ Y tế công tác ở các tuyến y tế cơ sở, nhất là cán bộ y tế công tác ở
các xã miền núi cao, vùng sâu, vùng xã và thực hiện chính sách luân chuyển
cán bộ từ tỉnh xuống huyện, xuống xã; ưu tiên tạo điều kiện và luân chuyển
cán bộ y tế công tác ở tuyến huyện và các xã, nhất là các xã vùng sâu, vùng
17
xa về công tác tại các đơn vị y tế tuyến trên để có điều kiện học tập, sau này
trở về lại địa phương đơn vị áp dụng các phương pháp làm việc, kiến thức
chuyên môn vào thực tiễn đơn vị được thuận lợi hơn; đồng thời cần quan tâm
đầu tư trang thiết bị, dụng cụ y tế phương tiện máy móc phù hợp với điều
kiện thực tế của địa phương và trình độ sử dụng của cán bộ y tế nhất là các
Trạm y tế xã có Bác sĩ.
Tiếp tục thực hiện chế độ đào tạo cử tuyển Bác sĩ theo địa chỉ; hàng
năm có kế hoạch đào tạo lại và chú trọng đào tạo các chuyên khoa, chuyên
ngành, phù hợp với tình hình thực tế từng địa phương nhằm từng bước đáp
ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ người dân, nhất là người dân ở các xã vùng
sâu, vùng xa; đồng thời tạo mọi điều kiện hỗ trợ kinh phí cho các em có điều
kiện học tập tốt.
Được như vậy công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân ở cơ sở miền núi
vùng sâu, vùng xa của tỉnh sẽ ngày càng tốt hơn, chất lượng, hiệu quả chăm
sóc sức khỏe nhân dân tốt hơn, giải quyết được nhiều vấn đề sức khoẻ ở cơ
sở và sẽ góp phần làm giảm được sự quá tải bệnh nhân từ tuyến dưới lên các
Giang, Phước Sơn, Bắc trà My và Nam Trà My)
2.3 NỘI DỤNG NGHIÊN CỨU
2.3.1 Tình hình nhân lực và trang thiết bị y tế tại các trạm y tế xã 6 huyện
miền núi cao của tỉnh Quảng Nam theo chuẩn quy định của Bộ Y tế
2.3.1.1 Dân số
Dân số của 6 huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam năm 2008
2.3 1.2 Mô tả nhân lực y tế xã các trạm y tế xã của 6 huyện miền núi cao
+ Số lượng Bác sĩ
+ Số lượng Y sĩ công tác tại.
+ Số lượng Nữ hộ sinh công tác tại.
19
- Các trạm y tế xã của 6 huyện miền núi cao
+ Số lượng Điều dưỡng công tác tại.
- Các trạm y tế xã của 6 huyện miền núi cao
+ Số lượng Y sĩ y học cổ truyền dân tộc công tác tại.
- Các trạm y tế xã của 6 huyện miền núi cao
2.3.1.3 Trình độ đào tạo của đội ngũ cán bộ y tế tuyến xã
+ Trình độ đào tạo của BS ở các trạm y tế xã.
+ Trình độ nữ hộ sinh ở các trạm y tế xã gồm các trình độ.
- Sơ học
- Trung học
- Cử nhân
+ Trình độ Điều dưỡng ở các trạm y tế xã gồm các trình độ.
- Sơ học
- Trung học
- Cử nhân
+ Xác định số lượng bác sĩ cụ thể của các trạm y tế xã năm 2008
+ Xác định số lượng Nữ hộ sinh cụ thể với các trình độ cử nhân,
trung học, sơ học của các trạm y tế xã năm 2008
- TTB y tế khám chữa bệnh chung
- TTB y tế Tiệt trùng
- TTB y tế Đỡ đẻ
- TTBYT thiết yếu và hóa chất vật tư
2.5. TÌNH HÌNH NHU CẦU NHÂN LỰC VÀ TRANG THIẾT BỊ Y TẾ
XÃ CỦA 6 HUYỆN MIỀN NÚI CAO TỈNH QUẢNG NAM THEO TIÊU
CHUẨN BỘ Y TẾ
2.5.1 Nhu cầu nhân lực các trạm y tế xã 6 huyện miền núi cao năm 2008
- Nhu cầu BS của từng huyện
- Nhu cầu YS của từng huyện
21
- Nhu cầu NHS của từng huyện
- Nhu cầu ĐD của từng huyện
- Nhu cầu YSYHCTDT của từng huyện
- Nhu cầu BS cho tuyến xã của từng huyện
2.5.2 Nhu cầu nhân lực của các trạm y tế xã theo huyện
- Xã có BS của mỗi huyện
+ Từ các tỷ lệ trên sẽ so sánh với “Quy hoạch tổng thể phát triển hệ
thống y tế tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2009 – 2015 và tầm nhìn đến năm
2020” của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam [16] để xác định nhu cầu nhân
lực y tế thực sự của các trạm y tế xã 6 huyện miền núi cao tỉnh Quảng Nam.
2.5.3 Nhu cầu về trang thiết bị y tế
- Tình hình các huyện có nhu cầu trang thiết bị thiết yếu theo chuẩn
quy định
- Tình hình các xã có nhu cầu trang thiết bị thiết yếu theo chuẩn quy
định
- Nhu cầu trang thiết bị y tế theo chuyên khoa
- TTBYT chuyên khoa tai, mũi họng
- TTBYT chuyên khoa mắt, răng hàm mặt
Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” [19]
- Quyết định số 2419/QĐ-UBND ngày 23/07/2009 của Ủy ban nhân
dân tỉnh Quảng Nam về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống y tế
tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2009 – 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 [16]
- Bảo đảm 80% số trạm y tế xã có bác sĩ, trong đó 100% các trạm y tế
xã ở đồng bằng và 60% các trạm y tế xã miền núi có bác sĩ
- Có trên 7 bác sĩ/10.000 dân vào năm 2010 và trên 8 bác sĩ/10.000 dân
vào năm 2020
- 100% trạm y tế có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi