nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ , nông sơn -quảng nam, hàm tân -bình thuận và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên tố đi kèm v - Pdf 13


BÁO CÁO CHUY£N §Ề
§ẶC TR¦NG TR¦ỜNG PHÓNG XẠ VÀ Ô NHIỄM CÁC
NGUY£N T

PH
Ó
NG XẠ V
À
NGUY£N T

§I K
È
M V
Ù
NG

HÀM T¢N (BÌNH THUẬN)
TỶ LỆ: 1/50.000

Thuộc Đề tài “ Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện
Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận)
và đề xuất giải pháp phòng ngừa”


M V
Ù
NG

HÀM T¢N (BÌNH THUẬN)
TỶ LỆ: 1/50.000

Thuộc Đề tài “ Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện
Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận)
và đề xuất giải pháp phòng ngừa”
do TS. Đào Mạnh Tiến làm chủ nhiệm LIÊN ĐOÀN TRƯỞNG CHỦ NHIỆM CHUYÊN ĐỀ
LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHÂT BIỂN TS. Đào Mạnh Tiến TS. Đào Văn Thịnh

Hà Nội, 2006


trong nước 77

3.1.5. Đặc điểm liều chiếu trong do các chất phóng xạ xâm nhập qua đường hô
hấp (Hp) 78

3.2. An tòan phóng xạ 81
3.2.1. Tiêu chuẩn đánh giá mức độ an tòan phóng xạ 81
3.2.2. An tòan phóng xạ 83
3.3. Đặc điểm địa hóa môi trường vùng Hàm Tân 92
3.3.1. Vùng lục địa 92
3.3.2. Vùng biển ven bờ 108
3.4. Các tai biến địa động lực vùng Hàm Tân 127
3.4. 1. Lũ lụt 127
3.4. 2. Xói lở 128
3.4.3. Bồi tụ biến động luồng lạch 129
3.4.4. Cát di chuyển 129
3.4. 5. Dâng cao mực nước biển 129
3.4. 6. Đổ lở, trượt lở 130
3.4.7. Động đất 130
3.4.8. Nhiễm mặn 131
3.4.9. Nứt đất 131
3.5. Phân vùng môi trường phóng xạ 132
3.5.1. Nguyên tắc phân vùng môi trường phóng xạ 132
3.5.2. Phân vùng và đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ 133
2

3.6. Các giải pháp phát triển bền vững trên cơ sở nghiên cứu mức độ ô nhiễm phóng
xạ 138

3.6.1. Hiện trạng sử dụng tài nguyên vùng Hàm Tân 138

quan trọng. Đặc biệt, đây là vùng có tiềm năng về khoáng sản titan sa khoáng
(ilmenit). Dọc ven biển vùng nghiên cứu
đã phát hiện hàng loạt mỏ, điểm quặng titan
(mỏ Hàm Tân, điểm quặng Kê Gà, Tam Tân, Cam Bình ) với trữ lượng hàng triệu
tấn. Ngoài ra, công tác điều tra địa chất còn phát hiện một số điểm khoáng hoá quặng
Thori - Uran ở khu vực Tân Lập (xã Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân), mũi Kê Gà, hàng
loạt các phức hệ magma xâm nhập có thành phần axit - trung tính có đặc tính phóng xạ
cao. Trong thành phần cát nặng sa khoáng ngoài ilmenit, zircon…, còn có các khoáng
vật chứa các nguyên tố phóng xạ như: monazit {(Ce, La, Th
[PO
4
][SiO
4
]} và xenotim
(YPO
4
và hợp chất chứa tới 4% USiO
4
) cùng với các kim loại nặng khác (Hg, Pb, Zn,
As ). Chính vì vậy, trên các mỏ sa khoáng đều phát hiện được dị thường các nguyên
tố phóng xạ, kim loại nặng vượt quá giới hạn cho phép, dị thường phóng xạ có giá trị
suất liều gamma (hay còn gọi là cường độ gamma) tới hàng chục đến hàng trăm µR/h.
Ngoài ra, trong vùng còn có các tai biến thiên nhiên như lũ quét, đổ lở, xói lở
bờ biển cùng với các hoạt động khai thác khoáng sản (titan, nguyên vật liệu xây
dựng ), nuôi trồ
ng thuỷ sản ven biển, xây dựng các công trình ven biển, công tác thuỷ
lợi thiếu quy hoạch đã làm phát tán các nguyên tố phóng xạ vào môi trường sống,
làm cho môi trường bị ô nhiễm, cảnh quan và tài nguyên bị suy thoái.
Trong vùng đã có một số kết quả điều tra về địa chất, địa mạo, địa chất thuỷ
văn, địa chất công trình, cũng như về môi trường nhưng mới chỉ phản ánh phần nào

- Căn cứ "Thuyết minh đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ" đã
được phê duyệt của đề tài nêu trên.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ
a. Mục tiêu
- Đánh giá mức độ ô nhiễ
m phóng xạ phục vụ bảo vệ sức khỏe cộng đồng và
quy hoạch dân cư phát triển bền vững nền kinh tế vùng Hàm Tân (Bình Thuận).
- Xác định diện tích ô nhiễm phóng xạ theo các mức độ khác nhau.
- Đề xuất các giải pháp về kỹ thuật và quản lý để phòng ngừa và giảm nhẹ thiệt
hại.
b. Nhiệm vụ
- Thu thập, tổng hợp, xử lý các tài liệu hiện có trong vùng: địa lý tự nhiên, địa
mạo, phóng xạ, địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường
- Thiết kế mạng lưới khảo sát, xây dựng phương án tổ chức thi công thực địa.
- Khảo sát thực địa: đo đạc các thông số về phóng xạ, thu thập các loại mẫu
phân tích (mẫu nước, đất, trầm tích, tóc, thực phẩm, ), điều tra xã hội, bệnh học.
- Phân tích mẫu các loại
- Xử lý các kết quả thu thập, phân tích
- Thành l
ập bộ bản đồ và sơ đồ: phân vùng ô nhiễm phóng xạ, phân vùng ảnh
hưởng của trường phóng xạ và qui hoạch phát triển bền vững kinh tế xã hội, đẳng trị
liều tương đương bức xạ gamma, nồng độ Radon trong không khí, đẳng hàm lượng
một số nguyên tố phóng xạ, địa chất - khoáng sản, địa chất môi trường và tai biến địa
chất (theo thuyết minh đề tài đã được phê duyệt).
- Thành l
ập các biểu bảng, biểu đồ về điều kiện tự nhiên, xã hội, môi trường
phóng xạ khu vực nghiên cứu.
- Viết báo cáo thuyết minh
5



6

CHƯƠNG I. CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN, XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI
TRƯỜNG PHÓNG XẠ VÙNG NGHIÊN CỨU
1.1. Vị trí địa lý, tọa độ, diện tích khảo sát
Vùng nghiên cứu bao gồm:
- Toàn bộ lãnh thổ và một phần lãnh hải (0-10m nước) huyện Hàm Tân (tỉnh
Bình Thuận).
- Một phần lãnh thổ, lãnh hải (0-10m nước) hai xã Tân Thành, Tân Thuận -
huyện Hàm Thuận Nam (tỉnh Bình Thuận): đó là dải ven biển và biển ven bờ (0-10m
nước) từ Cử
a Cạn đến mũi Kê Gà.
Các vùng tiếp giáp: Phía Bắc giáp huyện Tánh Linh, Bình Thuận; phía Đông
giáp huyện Hàm Thuận Nam (Bình Thuận); phía Tây giáp huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa
-Vũng Tàu), huyện Xuân Lộc (Đồng Nai) và phía Nam giáp Biển Đông.
Diện tích nghiên cứu 1051km
2
trong đó phần đất liền là 951km
2
và phần biển

Địa hình đáy biển: vùng nghiên cứu nhìn chung tương đối thoải, độ dốc nhỏ,
riêng khu vực xung quanh mũi Kê Gà, mũi Núi Nham và Hòn Bà có địa hình khá dốc.
Đường bờ biển khu vực nghiên cứu phần lớn có hướ
ng Đông Bắc - Tây Nam, được
cấu thành bởi các trầm tích bở rời và có xu hướng xói lở với tốc độ khác nhau, các khu
vực được cấu thành bởi đá gốc cứng chắc (mũi Kê Gà, Hòn Bà ) đường bờ ổn định, ít
biến động.
1.2.2. Sông suối
Vùng nghiên cứu có mạng lưới sông suối khá phát triển, phân bố tương đối đều
với hai hệ thống sông chính: sông Dinh và sông Phan.
Sông Dinh bắt nguồn từ phía Tây Bắc núi Chứa Chan (
Đồng Nai), núi Mây
Tào, núi Bể chạy qua địa phận huyện Hàm Tân và đổ ra cửa biển La Gi. Sông Dinh
7

sự quy tụ các suối Gia Ui, suối Lớn với chiều dài ~35km. Diện tích lưu vực rộng
khoảng 80km
2
. Lưu lượng dòng chảy phụ thuộc theo mùa.
Sông Phan bắt nguồn từ núi Nhọn, núi Tà Kou (huyện Hàm Thuận Nam).
Dòng chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, đổ ra cửa biển Tân Hiệp. Sông Phan là
sự hợp thành của các suối Nước, suối Sao với chiều dài khoảng 22km, diện tích lưu
vực rộng 360km
2
. Lưu lượng dòng chảy nhỏ.
Ngoài ra, còn một số suối nhỏ: suối Cô Kiều, suối Đá, suối Giao, suối Trạm có
lưu lượng nước nhỏ.
1.2.3. Khí hậu
Khí hậu vùng nghiên cứu có đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai
mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô

Trung
bình
Lượng
mưa
trung
bình
(mm)
Số
ngày
mưa
trung
bình
Độ ẩm
tương
đối
trung
bình
(%)
Lượng
bốc hơi
trung
bình
(mm)
Số giờ
nắng
trung
bình
Trung
bình
Lớn

cường có thể đạt 2,0-3,5 m.
Sóng biển: trong khu vực nghiên cứu, các đặc trưng của sóng thay đổi theo hai
mùa. Tuy nhiên, các đặc trưng của sóng và các thời kỳ khác nhau cũng rất khác nhau.
Có thể chia sóng biển trong vùng nghiên cứu thành 3 thời kỳ trong năm nh
ư sau:
- Từ tháng 1 đến tháng 4, sóng biển có hướng thịnh hành là Đông Bắc - Đông,
độ cao trung bình khoảng 0,9-1,0 mét.
- Từ tháng 5 đến tháng 9, hướng sóng thịnh hành là Tây - Tây Nam, độ cao
trung bình khoảng 1,0-1,1 mét.
- Từ tháng 10 đến tháng 12, hướng sóng thịnh hành là Đông - Bắc, độ cao sóng
trung bình xấp xỉ 1,2 mét.
Độ cao sóng cực đại thường đo được vào lúc thời tiết xấu, cực đại trung bình
trong năm là 3,5 mét. Trong bão, độ cao sóng có thể đạt tới 7-8m, thậm chí 10-12m.
Tuy nhiên, khu vực nghiên cứu cũng ít chị
u ảnh hưởng của bão so với các vùng biển
khác. Địa hình đường bờ và đáy biển thường bị thay đổi trong thời gian thời tiết xấu,
bão to và gió lớn.
Chế độ dòng chảy: vào mùa Đông dòng chảy có hướng Tây Nam chảy dọc
theo đường bờ biển, với tốc độ khá lớn (có thể tới 50cm/s). Về mùa hạ, do ảnh hưởng
của gió mùa Tây Nam dòng có hướng Bắc-Đông Bắc với tốc độ
dưới 25cm/s.
Chế độ bão: trong vùng nghiên cứu bão thường xảy ra vào tháng 9 đến tháng
11 và nhiều nhất vào tháng 11.
1.2.4. Thổ nhưỡng
Dựa theo bảng phân loại đất Việt Nam của Hội Khoa học Đất Việt Nam trên
diện tích nghiên cứu có các loại đất sau:
10

Loại đất nâu đỏ: phân bố trên địa hình cao nguyên chiếm diện tích nhỏ ở khu
vực phía Tây huyện Hàm Tân. Loại đất này phát triển trên đá bazan phong hóa màu

2
. Riêng vùng Núi Bể với diện tích
250km
2
không có dân cư sinh sống. Dân tộc Kinh chiếm đa số, tiếp đến là người Hoa.
Nhân dân trong vùng sống chủ yếu bằng nghề nông, ngư nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp. Mạng lưới điện Quốc gia đã tỏa sáng khắp các làng, xã. Các trường học, bệnh
viện, trạm xá, bưu điện, chợ đã và đang được xây dựng phục vụ đời sống của nhân
dân ngày càng được nâng cao.
Hiện trạ
ng về dân số, lao động, việc làm và mức sống ở tỉnh Bình Thuận cho
thấy: tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao 2,04 %, thu nhập bình quân GDP/người mới đạt
253 USD và có khoảng 25.000 – 40.000 lao động chưa có việc làm. Tuy đời sống của
người dân được cải thiện nhiều trong những năm qua, nhưng do mức gia tăng dân số
11

cao, số người thất nghiệp nhiều dẫn đến hàng loạt vấn đề kinh tế - xã hội và đặc biệt
là diện tích đất bị thu hẹp, nguồn tài nguyên đất sẽ bị cạn kiệt.
Tóm lại, trong vùng nghiên cứu có các điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc
phát triển các ngành: ngư nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và du lịch.
Bảng 1.2. Tình hình sử dụng đất huyện Hàm Tân
(Đơn vị: ha)
2000 2001 2002
1. Đất nông nghiệp
27.400 27.832 29.168
a. Cây hàng năm
- Lúa
- Màu và cây công nghiệp hàng năm
- Rau, đậu
17.129

- Rừng trồng
29.547
16.708
12.833
30.283
16.911
13.367
32.335
17.659
14.670
3. Đất chuyên dùng
- Đất xây dựng
- Đường giao thông
- Đất thủy lợi
2.202
230
1.102
428
2.210
239
1.113
421
2.310
256
1.155
439
4. Đất khu dân cư 748 752 765
5. Đất chưa sử dụng
- Đất bằng
- Đất đồi núi

việc đi lạ
i trong vùng khá dễ dàng và thuận lợi. Riêng vùng Núi Bể, giao thông kém
phát triển, dân cư thưa thớt.
Hệ thống giao thông đường thuỷ của khu vực khá phát triển, chủ yếu để đáp
ứng hoạt động đánh bắt thuỷ sản. Mật độ tàu thuyền tập trung đông tại các cảng và
vùng cửa sông như cảng La Gi, cửa sông Phan, cửa Hà Lãn. Vào những ngày cao
điểm, tại các cảng lớn (cảng La Gi) có thể đón hàng trăm tàu thuyề
n vào neo đậu và
trao đổi hàng hoá. Trong những năm tới, khu vực cần tập trung đầu tư xây dựng và
nâng cấp hệ thống giao thông thuỷ trước hết là để đáp ứng nhu cầu vận tải, tiếp đến là
phục vụ nhằm khai thác thế mạnh ở các vùng ven biển đặc biệt là trong phát triển dịch
vụ du lịch.
Bảng 1.3. Hiện trạng đường giao thông đến trung tâm các xã, thị trấn
trong khu vực
Đơn vị Số xã, thị trấn 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Tổng số đơn vị hành
chính
11 11 11 11 11 11 11
Số đơn vị đã có đường
ô tô
11 11 11 11 11 11 11
Đường nhựa 8 8 10 10 10 11 11
Đường đá - - - - - - -
Đường cấp phối 3 3 1 1 1 - -
Huyện Hàm Tân
Đường đất - - - - - - -
Tổng số đơn vị hành
chính
12 12 12 13 13 - -
Số đơn vị đã có đường

đậu ngay tại cửa sông Phan, mũi Kê Gà. Tại các điểm neo đậu này người dân đã tự ý
xả rác thải, dầu máy ra môi trường làm cho môi trường bị ô nhiễm. Hoạt
động neo
đậu tàu thuyền tại mũi Kê Gà đã tạo ra xung đột môi trường trong sử dụng tài nguyên
tại địa phương
Theo tài liệu của Sở Thuỷ sản Bình Thuận, thì sản lượng khai thác thuỷ sản
năm 2001 là 128.000 tấn/năm. Các năm gần đây, số tàu thuyền và công suất máy bình
quân gia tăng, trang thiết bị phục vụ khai thác được trang bị nhiều hơn song năng suất
đánh bắt hải sản tiế
p tục có dấu hiệu suy giảm: năm 1975 bình quân năng suất đánh
bắt hàng năm là 1,4 tấn/cv, năm 2000 là 0,27tấn/cv, năm 2001 là 0,606 tấn/cv.
Nguyên nhân của sự suy giảm nguồn lợi thuỷ sản chủ yếu là:
Số tàu có công suất trên 90cv đánh bắt xa bờ hiện có rất ít; chủ yếu tàu có công
suất nhỏ hơn 30cv, tập trung khai thác ven bờ, nơi các bãi cá sinh sản, và đã được
khai thác cạn kiệt nhiều năm qua. Hiện trong vùng có 250 chiế
c thuyền hầu như công
suất dưới 90cv. Dụng cụ kỹ thuật khai thác thuỷ sản lạc hậu, cùng với tình trạng sử
dụng chất nổ và phương pháp khai thác cạn kiệt nguồn lợi như giả cào, vây rút
chì,…còn xảy ra gây hủy hoại sinh thái đáy biển.
1.3.4. Nông nghiệp
Hoạt động nông nghiệp trong vùng chủ yếu là nghề trồng lúa, cây ăn trái, cây
công nghiệp (điều, hồ tiêu, cà phê ). Ở nông thôn phát triển mô hình V.A.C (kinh tế

vườn, ao, chuồng) nên đời sống vật chất của nhân dân làm nông nghiệp trong vùng
khá ổn định. Tổng giá trị sán xuất nông nghiệp toàn huyện năm 2002 đạt 308.619
triệu đồng trong đó trồng trọt chiếm 70%, chăn nuôi 24%, dịch vụ nông nghiệp 6%.
1.3.5. Nuôi trồng thủy sản
14

Với điều kiện thuận lợi: ngư trường rộng lớn, cảng cá lớn La Gi với hàng ngàn

Trong vùng có nhiều tích tụ về khoáng sản và đa dạng về chủng loại như
vàng, wolfram, ilmenit, zircon, cát thủy tinh, nước khoáng, vật liệu xây dựng…
Trong đó, đáng kể nhất và có giá trị công nghiệp là: ilmelit – zircon, cát thủy tinh và
vật liệu xây dựng. Trong vùng có một số đơn vị khai thác và chế biến khoáng sản
với quy mô lớn, rất nhiều cơ s
ở có quy mô nhỏ và nhiều cơ sở sản xuất gạch ngói.
Cát thuỷ tinh có hàm lượng SiO
2
đạt 97 – 99 % phân bố chủ yếu ở Hàm Tân. Trữ
lượng sa khoáng ilmenit khoảng 108 triệu tấn và zircon là 193 nghìn tấn phân bố
chủ yếu ở Hàm Thuận Nam (hiện trạng môi trường Bình Thuận). Mỏ ilmenit Bàu
Dòi thuộc địa phận xã Tân Hải và Tân Bình (huyện Hàm Tân) có trữ lượng
15

5.870.000m
3
hiện đang được công ty Lidisaco khai thác với công suất
23.000m
3
/năm. Mỏ cát thủy tinh ở khu vực Dinh Thầy thuộc địa phận các xã Tân
Hải và Sơn Mỹ có trữ lượng cấp P: 63.948.000 tấn, hàm lượng SiO
2
là 97,5 –
99,15%, hiện đang được nhân dân khai thác để làm cát đệm cho đúc gang. Sét gạch
ngói tập trung tại xã Tân Nghĩa, Tân Thắng, hiện đang có 21 cơ sở khai thác, công
suất 26.000 tấn/năm. Cát xây dựng được khai thác chủ yếu từ lòng sông Dinh (nằm
trên các xã Tân Thiện, Tân Xuân - huyện Hàm Tân), sản lượng khai thác
36.000m
3
/năm và lòng sông Phan (nằm trên các xã Tân Lập, Tân Thuận - huyện

Công ty Khoáng sản Việt Nam được phép khai thác trên diện tích 16,22ha ven biển
16

thuộc khu vực Bàu Dòi – xã Tân Hải (huyện Hàm Tân). Tuy nhiên, công ty này đã
khai thác trái phép trên diện tích 6 ha thuộc tiểu khu 393 rừng phòng hộ ven biển xã
Tân Bình (huyện Hàm Tân). Hoạt động này đã làm dậy nên làn sóng khai thác titan
trái phép ven biển. Điển hình nhất là các xã Tân Hải (Hàm Tân), Tân Thuận, Tân
Thành (Hàm Thuận Nam). Đặc biệt, từ tháng 10 – 2003, hoạt động khai thác chủ yếu
là do các tư nhân đứng ra thuê nhân công với hình thức lấy nhanh quặng tuyển bằng
máng gỗ, máy xoắn ốc, nạo vét phần mặt bãi triều thấp (ước tính 1 ngày khai thác
được 5-7 tấn). Khu vực phía Bắc Hàm Tân trên các cồn cát cao cũng chứa những thân
quặng titan nhưng hàm lượng nghèo hơn (Chùm Găng và Bàu Dòi - Hàm Tân) hiện
chưa có quá trình khai thác song tại khu vực này vẫn xảy ra quá trình khai thác cát
làm vật liệu xây dựng. Hoạt động khai thác titan trái phép này đã phá hủy diện tích
rừng phòng hộ ven biển, khoét sâu vào bờ biển làm bờ bị xói lở, khai thác nước ngọt
để tuyển quặng làm giảm mực nước ngầm. Nhìn chung, các cơ sở khai thác - chế biến
khoáng s
ản này vẫn chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ
sinh thái và hoàn trả mặt bằng sau khai thác. Đặc biệt, các cơ sở khai thác sa khoáng
khi hoạt động đã gây sạt lở, biến đổi cảnh quan, ô nhiễm bụi và nhiễm mặn do sử
dụng nước biển để tuyển quặng, thảm thực vật và cảnh quan bị suy thoái nghiêm
trọng. Điển hình, khai thác sa khoáng ở mỏ
Bàu Dòi, Chùm Găng, khai thác đá ở núi
Nhọn, Đá Mát. Đuôi quặng titan chưa được xử lý có thành phần monazit cao, tăng
liều chiếu xạ gây ảnh hưởng tới người và động vật khu vực và ven biển…. Mặt khác,
khai thác sa khoáng ilmenit và zircon, monazit đi kèm đã làm giảm đáng kể cường độ
phóng xạ của các thành tạo cát chứa quặng, tạo điều kiện cho phát triển du lịch, sau
khai thác quặng (Chùm Găng, Bàu Dòi…).
Qua quá trình khảo sát thấy trong khu vự
c nghiên cứu có bốn hoạt động nhân

Vùng nghiên cứu có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, những kiến
trúc cổ, các lễ hội truyền thống, các kho tàng v
ăn hoá - nghệ thuật dân gian. Đây là
điểm đến của khách du lịch đến tham quan, thưởng ngoạn. Đặc biệt tại đây có các bãi
cát trắng mịn, nắng ấm, nước xanh trong quanh năm hấp dẫn du khách đến đây tắm
biển. Trong giai đoạn hiện nay, ngành du lịch khu vực đang phát triển rất mạnh và
được nhận định là ngành kinh tế mũi nhọn. Các điểm du lịch ở đây đều có cả
nh quan
thiên nhiên đa dạng, nằm ở vị trí thuận lợi không cách quá xa các trung tâm đô thị
lớn. Cụm du lịch Phan Thiết - Hàm Tân được hình thành từ các điểm du lịch hấp dẫn
như dải bờ biển thuộc xã Tiến Thành, Thuận Quý, Tân Thắng (ảnh 1)… với các khu
du lịch Đồi Sứ, Thế Giới Xanh, Hòn Bà, … thu hút rất Đông khách. Hoạt động này
cũng phát triển mạnh ở khu vực Đồi Thông (B04-399), Cam Bình, Dinh Thầy Thím,
Kê Gà và hiệ
n nay tại khu vực Phò Trì-Sơn Mỹ hoạt động này bắt đầu được khai thác.
Năm 2000, du lịch Bình Thuận thu hút được 300.000 lượt khách với tốc độ tăng
trưởng bình quân 21%/năm.
Nhìn chung, ngành du lịch của vùng có tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế -
xã hội. Tuy nhiên, chính các hoạt động này cũng đang nảy sinh nhiều vấn đề cho môi
trường. Nước biển tại các bãi tắm đang có chiều hướng suy giảm chất lượng. Các chấ
t
thải từ hoạt động du lịch vẫn chưa được thu gom, xử lý mà cho chảy tràn, tự ngấm
vào đất hoặc vứt thải trên bãi biển gây mất cảnh quan và ô nhiễm môi trường. Nhưng
so với các ngành kinh tế khác, hướng phát triển du lịch sinh thái của khu vực là phù
hợp vừa nâng cao tiềm lực kinh tế của địa phương vừa đi đôi với bảo vệ môi trường.
Do đó, chính quyền và các cơ quan chứ
c năng của địa phương phải có chiến lược phát
triển và phương án quy hoạch tổng thể phù hợp và đồng bộ. Chú ý đến vấn đề giải
18


hoạt động du lịch và cuối cùng là giao thông. Qua quá trình khảo sát đã phát hiện thấy
cả ba loại hình hoạt động nhân sinh (khai thác khoáng sản, nuôi trồng thuỷ sản và du
lịch) đã và đang gây ảnh hưởng đến môi trường. Từ đó, tạo các ti
ền đề cho xung đột
môi trường giữa chúng phát triển gây cản trở sự phát triển của nhau. Khai thác
khoáng sản gây ảnh hưởng đến hoạt động nuôi tôm như khu vực Chùm Găng, khi
hoạt động khai thác phát triển đã làm cho các đầm tôm ở bên cạnh bị mất mùa ba vụ
liên tiếp, buộc phải ngừng nuôi. Hoạt động khai thác ilmenit trái phép ở Tân Hải đã
dẫn đến sạt lở bờ biển, phá huỷ bờ bao của các
đầm tôm. Khi báo cáo với chính quyến
xã mà không có kết quả buộc các chủ đầm tôm phải tự trông coi bờ biển thuộc khu
vực của mình, không cho dân vào khai thác. Theo quy hoạch thì sau khi hoạt động
khai thác ilmenit kết thúc sẽ được chuyển sang phát triển du lịch. Nhưng hiện tại, hoạt
động khai thác ilmenit ở khu vực Chùm Găng đã kết thúc nhưng vẫn chưa được tiến
hành san lấp mặt bằng, trồng cây xanh bồi hoàn môi trường. Dọc theo khu vực nuôi
tôm rấ
t phổ biến hiện tượng đổ thải bùn từ nạo vét đáy đầm ra bờ biển gây ô nhiễm
môi trường và làm mất mỹ quan cũng như các đầm tôm bị bỏ hoang là nguồn gây ô
nhiễm và tập trung rác thải ở Tân Hải. Hoạt động đánh bắt thuỷ sản với sự tập trung
số lượng lớn tàu thuyền ở La Gi làm suy thoái môi trường, tác động xấu tới hoạt động
du lịch.
19
Ảnh 1. Khu du lịch mũi Đỏ

Ảnh 2. Đầm nuôi tôm ở xã Tân Thắng

Ảnh 3. Khai thác ilmenit bãi triều trái phép ở Tân


Ảnh 13. Quặng ilmenit trong ĐNN bãi triều thấp
ven bờ, Tân Thắng – Hàm Tân Ảnh 10. Ô nhiễm rác thải tại cảng La Gi

Ảnh 12. Khai thác ilmenit trái phép trên bãi
triều xã Tân Hải

Ảnh 14. Hòn Kê Gà – tài nguyên vị thế phục vụ cho giao
thông biển
21 1.4. Đặc điểm địa chất khoáng sản
1.4.1. Đặc điểm địa chất
A. Địa tầng

tầng có hoạt tính phóng xạ dao động 20-40 µR/h; trong đó ryolit porphyr và felsit
porphyr thường có cường độ 34-40
µ
R/h cao hơn so với các thành tạo andesit
porphyrit và tuf của chúng. Hoạt độ phóng xạ các đá dao động trong khoảng 7-
12ppm.
GIỚI KAINOZOI
HỆ NEOGEN - THỐNG PLIOCEN
4. Hệ
tầng Suối Tầm Bó (N
2
stb)
Trầm tích Pliocen nguồn gốc biển phân bố rộng rãi ở vùng Tân Thắng, Tân
Hải, Sơn Mỹ, Hiệp Hòa, núi Bể với diện lộ 100km
2
. Hệ tầng có 2 tập: tập 1 gồm các
trầm tích hạt thô được thành tạo trong môi trường sông và sông-biển. Tập 2 trầm tích
hạt mịn chứa nhiếu sét màu đen, giàu di tích hữu cơ, có chứa than nâu. Bề dày đạt
14,5m-24,1m.
HỆ NEOGEN - HỆ ĐỆ TỨ
THỐNG PLIOCEN-THỐNG PLEISTOCEN, PHỤ THỐNG HẠ
5. Hệ tầng Túc Trưng (βN
2
-Q
1
1
tt)
22

Các thành tạo phun trào bazan hệ tầng Túc Trưng trong phạm vi nghiên cứu

Các trầm tích này phát triển khá rộng rãi trên các đồng bằng tích tụ cao 40-
60m, bao quanh núi Bể, núi Nhọn và rải rác trong huyện Hàm Tân. Thành phần là cát
thạch anh hạt thô đến mịn, màu xám, xám trắng đến vàng-tướng ven bờ; cát bột màu
xám trắng-tướng vũng vịnh, dày 1-10 mét.
9. Trầm tích biển, tướng bar cát, hệ tầng Phan Thiết (mQ
1
2-3
pt)
Trong vùng nghiên cứu, các trầm tích của hệ tầng được tạo thành một dải
không liên tục phương Đông Bắc-Tây Nam từ núi Đất, Tân Thiện, đồi 82 đến Tân
Thắng. Thành phần chủ yếu là cát thạch anh hạt nhỏ đến vừa xen cát pha bột, màu
thay đổi từ trắng đến vàng, đỏ. Phần dưới của hệ tầng thường tập trung sa khoáng hơn
phần trên. Mẫu đãi lấy ở phần dướ
i (số hiệu HC1061/2a) tại mặt cắt đồi 82 (xã Sơn
Mỹ - Hàm Tân) cho kết quả: ilmenit 20.558,7g/T, zircon 4.124g/T, saphir 128
hạt/10dm
3
. Chiều dày của hệ tầng 10-90m.
THỐNG PLEISTOCEN, PHỤ THỐNG THƯỢNG
10. Hệ tầng Phước Tân (
β
Q
1
3
pht)
Trầm tích phun trào bazan lộ diện hẹp ở mũi Núi Nham. Thành phần thạch học
gồm bazan olivin nghèo ban tinh, bazan plagioclas cấu tạo đặc xít và lỗ hổng màu
xám đen. Dày 10-25m. Hoạt độ phóng xạ các đá của hệ tầng thấp, trung bình khoảng
7ppm.
11. Trầm tích biển (mQ

2
)
Các bar cát Holocen giữa phân bố ở Sơn Mỹ, Tân Thắng, các dải cồn cát được
tạo nên bởi gió, các dải này có bề rộng một vài trăm mét đến 1km, dài vài trăm mét
đến 3km. Thành phần cát thạch anh màu xám, xám trắng, trắng, trắng đốm vàng,
thành phần đơn khoáng, khá sạch, có thể tạo thành các mỏ cát thủy tinh (Tân Thắng).
Chiều dày 1-2m đến 10m.
15. Trầm tích biển (mQ
2
2
)
Trầm tích nguồn gốc biển tạo nên các dải đồng bằng cao trung bình 10
÷
20m,
phân bố ở Tân Thiện, Sơn Mỹ, Tân Thắng, Thành phần hầu hết là cát thạch anh,
chọn lọc tốt, màu xám, trắng xám, xám trắng, đốm vàng, nâu, bề dày dao động 4-
12m.
THỐNG HOLOCEN, PHỤ THỐNG TRUNG-THƯỢNG
16. Trầm tích sông bãi bồi cao (aQ
2
2-3
)
Trầm tích bãi bồi cao có diện phát triển rất hạn chế tạo thành các dải hẹp (rộng
vài chục mét đến vài trăm mét) rải rác dọc sông Dinh, sông Phan. Thành phần đa
dạng từ sạn sỏi đến bột sét màu xám, xám vàng. Chiều dày 1-5m.
17. Trầm tích sông-biển (amQ
2
2-3
)
Trầm tích sông-biển phân bố các khu vực gần cửa sông hiện đại (sông Phan,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status