nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - tai biến địa chất ba vùng phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50.000 - Pdf 13


BÁO CÁO CHUY£N §Ề
§ỊA CHẤT TAI BIẾN BA VÙNG : PHONG THỔ,
NÔNG S¥N, HÀM T¢N
TỶ LỆ: 1/50.000

Thuộc Đề tài “ Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện
Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận)
và đề xuất giải pháp phòng ngừa”
6383-3
23/5/200
7

Hà Nội, 2006
CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN

Tác giả: TS. Đào Văn Thịnh
KS. Lê Văn Học
KS. Nguyễn Trọng Phương
KS. Nguyễn Thái Hà và nnk. Hà Nội, 2006 1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG I: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TAI BIẾN ĐỊA CHẤT 8
A. VÙNG PHONG THỔ 8
A.I.1. CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN KINH TẾ NHÂN VĂN 8
A.I.1.1. Vị trí địa lý 8
A.I.1.2. Địa hình, địa mạo 8
A.I.1.3. Đặc điểm thủy văn và mạng lưới sông suối 9
A.I.1.4. Khí hậu 9
A.I.1.5. Động vật và thực vật 9
A.I.1.6. Kinh tế, nhân văn 10
A.I.1.7. Các hoạt động kinh tế 10
A.I.2.
CÁC YẾU TỐ ĐỊA CHẤT 11
A.I.2.1. Các thành tạo địa chất 11
A.I.2.2. Kiến tạo 11
B. VÙNG NÔNG SƠN 15
B.I.1. CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN KINH TẾ NHÂN VĂN

15

II.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TAI BIẾN ĐỊA CHẤT Ở VIỆT NAM 41
II.3.1. Tình hình nghiên cứu ĐCTB ở Việt Nam nói chung và vùng Tây 41
Bắc nói riêng
II.3.2. Tình hình nghiên cứu ĐCTB chính khu vực Miền Trung 43
II.3.2. Tình hình nghiên cứu ĐCTB vùng ven biển, biển ven bờ Hàm 47
Tân – Bình Thuận
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51
CHƯƠNG IV: HIỆN TRẠNG, NGUYÊN NHÂN MỘT SỐ DẠNG 52
TAI BIẾN ĐỊA CHẤT CHỦ YẾU
IV. 1.
ĐỘNG ĐẤT 52
IV.1.1. Vùng Phong Thổ 52
IV.1.2. Vùng Nông Sơn 52
IV.1.3. Vùng Hàm Tân 52
IV. 2.
ĐỨT GÃY HOẠT ĐỘNG 53
IV.2.1. Vùng Phong Thổ 54
IV.2.2. Vùng Nông Sơn 54
IV.2.3. Vùng Hàm Tân 54
IV. 3.
TRƯỢT LỞ, SỤT LÚN ĐẤT ĐÁ 55
IV.3.1. Vùng Phong Thổ 55
IV.3.2. Vùng Nông Sơn 59
IV.3.3. Vùng Hàm Tân 63
IV. 4
. LŨ LỤT 63
IV.4.1. Vùng Phong Thổ 63
IV.4.2. Vùng Nông Sơn 64
IV.4.3. Vùng Hàm Tân 66
IV. 5.

V.4.
XÓI LỞ, BỒI TỤ 91
V.4.1. Vùng Nông Sơn 91
V.4.2. Vùng Hàm Tân 93
V.5.
CÁT DI CHUYỂN, DÂNG CAO MỰC NƯỚC BIỂN VÙNG 94
HÀM TÂN
V.5.1. Cát di chuyển 94
V.5.2. Dâng cao mực nước biển 95
V.6.
PHÂN VÙNG MÔI TRƯỜNG PHÓNG XẠ

95
V.6.1. Vùng Phong Thổ 95
V.6.2. Vùng Nông Sơn 95
V.6.3. Vùng Hàm Tân 97
V.7.
CÁC NGUYÊN TỐ KIM LOẠI NẶNG 98
V.7.1. Vùng Phong Thổ 98
V.7.2. Vùng Nông Sơn 98
V.7.3. Vùng Hàm Tân 99
V.8.
XÂM NHẬP MẶN 99
V.8.1. Vùng Nông Sơn 99
V.8.2. Vùng Hàm Tân 100
V.9.
PHÂN VÙNG MỨC ĐỘ NGUY CƠ XẢY RA 100
TAI BIẾN ĐỊA CHẤT

V.9.1. Vùng Phong Thổ 100


5
MỞ ĐẦU

1. Cơ sở pháp lý
- Căn cứ Quyết định số 1771/QĐ-BKHCN ngày 28 tháng 9 năm 2004 của Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc công nhận các đơn vị trúng thầu Đề tài độc
lập cấp Nhà nước, trong đó Liên đoàn Địa chất biển là đơn vị trúng thầu Đề tài
“Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện Phong Thổ (Lai Châu),
Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận) và
đề xuất giải pháp phòng ngừa” do
TS. Đào Mạnh Tiến làm Chủ nhiệm.
- Căn cứ vào “Thuyết minh đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”
đã được phê duyệt của Đề tài nêu trên.
- Căn cứ theo Hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ số
10/2005/HĐ-ĐTĐL ngày 8 tháng 4 năm 2005 về việc thực hiện Đề tài “Nghiên cứu
đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện Phong Thổ
(Lai Châu), Nông Sơn

đã và đang gây sức ép lớn đến môi trường khu vực.
Các hoạt động khai thác rừng (gần như cạn kiệt về gỗ quý), chế biến thuỷ sản,
khai thác các vùng đất ngập nước, khai thác khoáng sản ven biển với cường độ ngày
càng tăng đã làm ô nhiễm môi trường, làm biến động đường bờ và quy luật phân bố

6
trầm tích hiện đại đới ven biển làm suy thoái cảnh quan và tài nguyên,…Mặt khác, do
cấu trúc địa chất phức tạp, các yếu tố khí tượng-thuỷ văn, các đặc điểm địa hình- địa
mạo chi phối nên khu vực nghiên cứu xuất hiện nhiều loại tai biến địa chất cũng như
tác động dẫn xuất của chúng như nứt-sụt đất, lũ lụt, lũ quét, trượt sạt l
ở (tập trung ở
Phong Thổ, Nông Sơn), xói mòn, nhiễm mặn, xói lở bờ biển, bồi tụ cảng và luồng
lạch, ô nhiễm môi trường nước, không khí và trầm tích biển (chủ yếu ở ven biển Hàm
Tân),…
Tuy đã có một số kết quả về điều tra địa chất, địa mạo, địa chất thuỷ văn, địa chất
công trình, thuỷ triều, sóng và dòng chảy cũng như địa ch
ất môi trường…nhưng các
khu vực Phong Thổ, Nông Sơn, Hàm Tân chưa được nghiên cứu chi tiết về địa chất tai
biến, chưa có quy mô rộng khắp mà giới hạn trong một số vùng kinh tế trọng điểm.
Điều này cùng với các nguyên nhân khác đã hạn chế hiệu quả công tác phongd chống
tai biến, sử dụng, bảo vệ, quản lý tài nguyên môi trường khu vực.
Trước yêu cầu bức thiết của công tác phòng chống tai biế
n để có cơ sở khoa học
định hướng, tiến hành một chương trình nghiên cứu, đánh giá, dự báo và đề xuất các
biện pháp phòng tránh, giảm thiểu hậu quả tai biến địa chất, sử dụng khôn khéo các
nguồn tài nguyên, sử dụng bền vững, lãnh thổ nhằm hướng tới sự phát triển bền vững
cần thiết phải tiến hành nghiên cứu địa chất tai biến của vùng nghiên cứu. Nghiên cứ
u
này còn đáp ứng yêu cầu của việc hòa nhập với khu vực và cộng đồng quốc tế trong
lĩnh vực nghiên cứu, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai.

4. Sản phẩm giao nộp và thời gian thực hiện
a. Sản phẩm giao nộp
- Sơ đồ địa chất tai biến vùng Phong Thổ, tỷ lệ 1/50.000.
- Sơ đồ địa chất tai biến vùng Nông Sơn, tỷ lệ 1/50.000.
- Sơ đồ địa chất tai biến vùng Hàm Tân, tỷ lệ 1/50.000.
- Báo cáo chuyên đề tai biến địa chất ba vùng: Phong Thổ, Nông Sơn và Hàm
Tân.
b. Thời gian thực hiện
Từ tháng 01 năm 2005 đến tháng 06 năm 2006.
Sau thời gian thực hiện, các nhiệm vụ trên đã được hoàn thành và được thể hiện
trong báo cáo tổng kết này. Cơ sở để viết báo cáo là: kết quả khảo sát, nghiên cứu thực
địa tại khu vực Phong Thổ; Nông Sơn và Hàm Tân; kết quả xử lý các loại mẫu phân
tích, các số liệu, tài liệu về đặc điểm kinh tế xã hội, khả n
ăng phòng tránh thiên tai của
cư dân trong vùng; các tài liệu lưu trữ và công bố cũng như kết quả của các đề tài liên
quan tới địa chất tai biến trong khu vực nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện, hoàn thành báo cáo, tập thể tác giả luôn nhận được
sự chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi của các đồng chí lãnh đạo Bộ Khoa học và Công
nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, nhân dân
trong vùng nghiên cứu…sự giúp đỡ của các đồng nghiệp trong Liên đoàn Địa chất
biển, Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Bắc, Liên đoàn Địa chất Xạ-Hiếm,…Nhân dịp
này tập thể tác giả bày tỏ lòng biết ơn chân thành về sự giúp đỡ quý báu đó.
xã Lai Châu mới. Phía Bắc vùng tiếp giáp với Trung Quốc, phía Tây và Tây Nam giáp
với huyện Sìn Hồ, phía Đông giáp với huyện Bát Xát - tỉnh Lào Cai.
A.I.1.2. Địa hình, địa mạo
Vùng nghiên cứu nằm trên khu vực chuyển tiếp của 2 đới kiến tạo (đới nâng
Fan Si Pan và đới sụt lún sông Đà). Vùng có độ cao tuyệt đối từ 300 – 2500m, đa phần
có độ dố
c lớn trên 50
0
đây là vùng núi cao hiểm trở nhất Việt Nam. Vùng núi khu vực
nghiên cứu bị phân cắt rất mạnh, các đường phân thuỷ hẹp, hiện tượng sạt lở xảy ra
nhiều. Nhìn chung ở các miền núi cao độ phân cắt địa hình rất lớn từ 200-1000m. Địa
hình núi phân bố trên diện tích các đá magma phức hệ Ye Yen Sun, Nậm Xe, Tam
Đường, Pu Sam Cap… và thành tạo trầm tích biến chất cổ của hệ tầng Sinh Quyền…
Phần lớn các dãy núi kéo dài theo hướng Tây Bắ
c - Đông Nam gần trùng với
phương của các thành tạo địa chất, càng về phía Tây Bắc địa hình càng cao, về phía
Đông Nam địa hình thấp dần. Địa hình bị bào mòn và phân cắt bởi hệ thống sông suối
có phương Đông Bắc – Tây Nam và có thể chia ra các mức địa hình như sau:
Địa hình núi cao trên 1500m: Phân bố ở phía Đông Bắc (sườn Tây Fan Si Pan)
có nhiều vách đá hiểm trở.
Địa hình núi cao 1000 - 1500m: Thường chạy dọc theo rìa các dãy núi có địa
hình cao trên 1500m.
Địa hình núi cao trên 500 -1000m: Phân bố dọ
c theo các thung lũng sông Nậm
Na, Nậm Lúc .
Địa hình núi cao dưới 500m: Chiếm khoảng hơn 10% diện tích, sườn thoải, đất
phủ dày.
Địa hình cao nguyên và karst: Phân bố ở nhiều vị trí trong phạm vi vùng nghiên
cứu, tập trung chủ yếu ở các cao nguyên đá vôi Lang Nhị Thang, Tà Phìn, Sìn Hồ và
phía Tây Nam Phong Thổ.

C, độ ẩm không khí thấp. Nhiệt độ thấp nhất
trong năm là vào tháng 12 và tháng 1. Trong mùa khô thường xảy ra những hiện tượng
thời tiết đặc biệt như sương muối vào các tháng 1 và 2 (Sìn Hồ, vùng cao huyện Phong
Thổ). Gió và dông thường xảy ra vào những ngày nóng và khô (tháng 3 và 4), mưa đá
xuất hiện vào cuối mùa khô.
Mùa mưa: Từ tháng 5 đến tháng 9 , nhiệt độ trung bình 20-25
0
C,

nhiệt độ có khi
lên tới trên 30
0
C. Tổng lượng mưa khoảng 2.500 mm/năm, tập trung từ tháng 6 đến
tháng 8 (chiếm 65-75% lượng mưa trong năm). Độ ẩm trung bình trên 80%. Thường
vào đầu mùa mưa, mưa to kèm gió lốc và thỉnh thoảng có mưa đá còn những trận mưa
cuối mùa thường là mưa nhỏ nhưng kéo dài triền miên.
A.I.1.5. Động vật và thực vật
Hiện nay rừng chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 19% diện tích vùng nghiên cứu, phát
triển chủ y
ếu trên địa hình các vùng núi cao trên 1500m ở phía Tây Fan Si Pan, vùng
núi đá vôi, đá phun trào ở phía Đông Nam Sìn Hồ, các thượng lưu sông Nậm Tần,
Nậm Ten, Nậm Ban Thảm thực vật phong phú và đa dạng từ các loại cây nhóm gỗ
quý (lát, dổi, sa mu ) đến các loại cây thân đốt, leo
Động vật tập trung khá nhiều loại từ các thú dữ như hổ, báo, gấu, cho đến các
loại khác như hươu, nai, lợn rừng, khỉ, trăn chúng thường sống ớ các sườn núi cao,
r
ừng rậm. nhưng hiện nay do phát nương, làm rẫy nên diện tích rừng bị thu hẹp dần và
các loại gỗ quý hiếm cũng đang biến mất, các loại động vật tự nhiên quí, hiếm có số
lượng giảm hoặc chúng đã di chuyển sang vùng khác.
A.I.1.6. Kinh tế, nhân văn

chăn nuôi trong vùng đang được chú ý. Thị trấn Tam Đường đã có các nông trường,
lâm trường quốc doanh (trồng chè, nuôi bò sữa).
Lâm nghiệp: Trong vùng đang triển khai chương trình giao đất lâm nghiệp để
trồng các loại cây lấy gỗ, gây lại các diện tích rừng đã bị khai thác và chặt phá.
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong vùng nghiên cứu chưa phát triển
mạnh. Ở thị
trấn Phong Thổ có vài cơ sở sản xuất thủ công, chủ yếu là sản xuất và sửa
chữa công cụ thô sơ phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ở thị xã Lai Châu, thị trấn Tam
Đường có các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp như chế biến lâm sản, xí
nghiệp điện máy, xí nghiệp cơ khí.
Du lịch: Vùng nghiên cứu là một khu vực có phong cảnh thiên nhiên hữu tình,
giàu tiềm nă
ng du lịch. Nơi đây còn có những bản làng dân tộc với nhiều phong tục
tập quán vẫn nguyên sơ có thể triển khai các tuyến du lịch sinh thái để đón du khách
trong và ngoài nước.
Khai thác khoáng sản:
Trong những năm qua khu mỏ Nậm Xe, Đông Pao đã được nhiều đơn vị khai
thác quặng fluorit, đất hiếm Quặng được khai thác lộ thiên, tuyển quặng bằng phương
pháp thủ công và vận chuyển tập trung ở khu vực Tam Đường, Phong Th
ổ chờ chuyển
đến các đơn vị sử dụng và chế biến khoáng sản.
Khu mỏ Thèn Sin -Tam Đường có các điểm vàng gốc và sa khoáng, cộng sinh
với các mạch vàng gốc có chứa hàm lượng các nguyên tố phóng xạ. Những năm gần
đây dân địa phương và một số người ở nơi khác đến tiến hành đào bới, khai thác vàng
gây ô nhiễm nước, phá vỡ hệ sinh thái môi trường và sản xuất nông nghiệp tại vùng
này. Hiệ
n nay chính quyền địa phương đã ngăn chặn được hoạt động khai thác vàng tự
do này.


phát triển kinh tế của vùng nghiên cứu. Tuy nhiên hiện nay một số tuyến đường giao
thông quan trọng đã được nâng cấp như Chiềng Chăn - Sìn Hồ; Lai Châu - Mường Tè
- Bom Lót - Suối Lư
A.I.2. CÁC YẾU TỐ ĐỊA CHẤT
A.I.2.1. Các thành tạo địa chất
Theo thành phần thạch học chiếm ưu thế, vùng nghiên cứu có 8 nhóm đá chính,
bao gồm:
A.I.2.1.1. Nhóm đá trầm tích bở rời.
Thuộc nhóm đá trầm tích bở rời là các thành tạo trầm tích Đệ tứ, phân bố hạn
chế dọc theo các thung lũng dưới dạng các bãi bồi, bậc thềm, trũng giữa núi gồm có:
- Trầm tích Pleistocen trung (aQ
1
2
), có nguồn gốc sông phân bố trong thung
lũng khá rộng ở vùng bản Mường Mới. Thành phần trầm tích từ dưới lên trên gồm:
cuội, sỏi, cát, tảng, ít cát bột. Thành phần đa khoáng, chiều dày 2-3m.
- Trầm tích Pleistocen thượng (aQ
1
3
), có nguồn gốc sông phân bố trong thung
lũng tương đối rộng ở vùng bản Mường Mới, Vàng Bâu. Thành phần trầm tích gồm:
cuội, cát, tảng. Thành phần đa khoáng, chiều dày 1-2m.

12
- Trầm tích Holocen hạ-trung (aQ
2
1-2
), có nguồn gốc sông, phân bố thành các
bậc thềm, thềm cao và phát triển nơi đoạn vách thung lũng mở rộng, như phía Tây
Nam bản Mường Mới. Thành phần trầm tích gồm: các tích tụ dọc thung lũng sông suối

n-rsb): Các trầm tích chứa than hệ tầng Suối Bàng
phân bố thành hai dải kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam. Dải Tây Bắc thuộc
phía Đông Bắc - Tây Nam bản Huổi Luông. Dải Đông Nam kéo dài từ bản Chiềng Là
đến bản Nậm Đích. Mặt cắt của hệ tầng gồm hai tập:
+ Tập 1: đá phiến sét xen các lớp mỏng bột kết. Chiều dày quan sát được
260m.
+ Tập 2: được phân biệt với tậ
p 1 do có sự gia tăng của cát kết trong thành
phần mặt cắt. Bao gồm: cát kết xen kẽ cát bột kết và đá phiến sét than màu xám đen.
Chiều dày tập 2 là 300m.
Hệ tầng Suối Bàng có quan hệ kiến tạo với các hệ tầng Nậm Mu, hệ tầng
Mường Trai, hệ tầng Đồng Giao và bị các thể xâm nhập phức hệ Nậm Xe- Tam
Đường, đá mạch minet phức hệ Pu Sam Cap xuyên cắt
Chiều dày của hệ
tầng là 560m.
- Hệ tầng Yên Châu (K
2
yc): phân bố ở phía Tây vùng nghiên cứu thành một
dải rộng kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam. Hệ tầng được chia thành 3 tập.
Thành phần thạch học gồm:
+ Tập 1: cuội kết, sỏi kết đa khoáng, phân lớp dày đến dạng khối, thành phần
chủ yếu là thạch anh, xen ít là cát kết dạng quarzit và phiến silic, chuyển lên trên là sạn
kết, cát kết thạch anh màu xám vàng, chứa cuội hoặc những ổ hay thấu kính cuội kết
đa khoáng màu xám vàng. Trên cùng là cát kết hạt thô màu xám sáng phân lớp dày đến

13
dạng khối, thường phân lớp xiên, thỉnh thoảng xen lớp mỏng cát bột kết màu xám, dày
500m.
+ Tập 2: bột kết màu nâu đỏ phân lớp trung bình đến dày, có các mạch ổ nhỏ
thạch cao, xen kẽ với cát kết hạt vừa màu vàng nhạt, phân lớp trung bình, dày 380m.

(T
1
i

vn) và tiếp xúc kiến tạo với hệ tầng Nậm Mu ở trên. Hệ tầng bị xuyên cắt bởi các
thể xâm nhập nhỏ phức hệ Pu Sam Cap.
Chiều dày của hệ tầng 400m - 450m.
A.I.2.1.4. Nhóm đá trầm tích carbonat
Nhóm đá này có phân vị địa tầng sau:
Hệ tầng Đồng Giao (T
2
ađg): phân bố trên diện rộng (khoảng 350km
2
) ở
trung tâm vùng nghiên cứu, thành dải kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, phủ
trên toàn bộ diện tích của cao nguyên Lang Nhị Thang. Thành phần mặt cắt của hệ
tầng gồm 2 tập:
+ Tập 1: đá vôi, đá sét vôi phân lớp mỏng, đôi chỗ là đá phiến carbonat,
sericit và đá vôi sét có màu xám đến xám đen, hạt mịn có chứa silic.
+ Tập 2: đá vôi phân lớp dày đến dạng khối, màu xám đến xám sáng ít nhiều
bị đolomit hóa ở mức độ
khác nhau. Tổng chiều dày của hệ tầng ở đây đạt 850m [12].
A.I.2.1 5. Nhóm đá phun trào axit
Thuộc nhóm đá này có Phức hệ núi lửa Ngòi Thia (R
p
/Knt).

14
Phức hệ được xác định bởi các đá thuộc tướng á núi lửa. Thành phần thạch
học của phức hệ chủ yếu là ryolit porphyr, chiếm khoảng 95% diện tích phân bố. Các

cứu thành hai khối ở bản Sin Câu và bản Thẳm. Thành phần thạch học của hệ tầng
gồm chủ yếu là tuf dăm, tuf, cát sạn kết và tuf tảng có thành phần là đá phun trào
trachyt màu nâu gụ, màu đỏ và trachyt porphyr với chiều dày khoảng 350m.
- Phứ
c hệ Pu Sam Cap (aSy
p
/Epc):
Trong vùng nghiên cứu phức hệ Pu Sam Cap gồm các khối bản Suối Thầu, Tam
Đường, Đông Pao và các đai mạch, thể tường minet với tổng diện tích phân bố
khoảng 12,7 km
2
.
Quan hệ giữa các khối với đá vây quanh như sau: khối Đông Pao xuyên cắt và
gây hoa hoá đá vôi hệ tầng Đồng Giáo (T
2
a đg), khối Tam Đường xuyên cắt và gây
sừng hóa các đá phiến sét và cát kết hệ tầng Suối Bàng (T
3
n-r sb). Các đá syenittoid
của phức hệ Pu Sam Cap luôn luôn gần gũi về không gian với phun trào trachyt và tuf
của chúng. Hệ thống các đá mạch của phức hệ phân bố chủ yếu ở khu vực phía Tây
Bắc, vùng nghiên cứu, thành phần của chúng rất phong phú và đa dạng bao gồm từ
minet, shonkinit, syenit aplit đến bostonit. Chúng xuyên cắt các đá granitoid của phức

15
hệ Ye Yen Sun, syenitoid pha 1 của phức hệ Pu Sam Cap, phun trào của hệ tầng
Pu Tra và các phân vị địa tầng tuổi Mesozoi từ Trias đến Creta có mặt trong vùng.
Phức hệ Pu Sam Cap được hình thành bởi hai pha xâm nhập:
- Pha 1 gồm 2 tướng:
+ Tướng ven rìa: syenit porphyr và granosyenit porphyr.

A.I.2.2. Kiến tạo
Vùng nghiên cứu thuộc miền kiến tạo Tây Bắc bao gồm một phần diện tích của
2 đới kiến trúc lớn là đới Fan Si Pan và đới Sông Đà. Các đứt gãy sâu là ranh giới
phân chia giữa hai đới. Trong đó đới sụt lún Sông Đà được lấp đầy trầm tích lục
nguyên và carbonat. Đây là miền cấu trúc địa chất phức tạp với nhiều hệ thống đứt
gãy, uốn nế
p, các thành tạo magma, kèm theo nhiều hoạt động tạo khoáng
B. VÙNG NÔNG SƠN
B.I.1. CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN KINH TẾ NHÂN VĂN
I.1.1. Vị trí địa lý
Vùng Nông sơn với diện tích nghiên cứu 580km
2
, thuộc các huyện: Đại Lộc,
Quế Sơn, Nam Giang, Đông Giang và Tây Giang tỉnh Quảng Nam.
B.I.1.2. Địa hình, địa mạo
Đây là vùng núi cao hiểm trở, địa hình phân cắt mạnh, độ cao tuyệt đối từ
600m đến 900m, các dãy núi chủ yếu kéo dài theo phương á kinh tuyến, với độ dốc
sườn từ 20
o
đến 40
o
, có nơi đạt tới 60
o
. Cấu thành nên các thành tạo địa hình chủ yếu
là các đá trầm tích lục nguyên, magma xâm nhập, chúng thường bị phong hoá bào mòn

16
mạnh, nên thường gây ra các hiện tượng trượt lở, ảnh hưởng dến các hoạt đông giao
thông đi lại trong vùng.
B.I.1.3. Khí hậu


Mạng lưới sông suối vùng nghiên cứu khá dày, gồm các sông lớn như sông
Côn, sông Vu Gia, sông Vàng, sông Bung, sông Cái, sông A Vương, sông Thu Bồn.
Các dòng sông về mùa mưa nước sông dâng cao, lưu lượng nước rất lớn, thường gây
ra ngập lụt, sạt lở; mùa khô dòng sông thu hẹp v
ới nhiều thác ghềnh hiểm trở. Theo tài
liệu khí tượng thuỷ văn trạm Hội Khách, đặt trên sông Cái, mực nước thấp nhất từ
tháng 2 đến tháng 9 từ 843cm ÷ 871cm, mực nước cao nhất từ tháng 10 đến tháng 1 từ
931cm ÷ 1782cm, lưu lượng mưa hàng năm các sông như sau:
- Sông Bung: mùa khô 35m
3
/s, mùa mưa từ 350 ÷ 370m
3
/s.
- Sông Cái: mùa khô 49m
3
/s, mùa mưa từ 400 ÷ 450m
3
/s.
Hệ thống suối chủ yếu trong vùng có phương á kinh tuyến. Trừ suối lớn nhất là
suối Tamprang là nước chảy quanh năm, lưu lượng nước lớn, nhiều thác ghềnh, các
suối nhánh thường là khe cạn, lòng suối sâu, nhiều bậc thác, rất dốc chỉ có nước vào
mùa mưa.
B.I.1.5. Động - thực vật
- Động vật: Phong phú nhiều loài quý hiếm như: Báo, gấu, lợn rừng, hươu, nai,
hoẵng, sơn dươ
ng, trĩ, gà lôi …Tuy nhiên chúng đã và đang bị săn bắn là cho ngày
một cạn kiệt.
- Thực vật: Đa dạng nhiều loại cây gỗ quý có giá trị kinh tế cao như: Lim, chò
chỉ, lát, gụ …Song hiện tại phần lớn rừng Quảng Nam đều bị khai thác bừa bãi, trái

)
Đại Sơn Đại Lộc 27770 98,0 25173 88,8
Đại Hồng Đại Lộc 11291 49,0 11842 51,4
Đại Lãnh Đại Lộc 15955
128,0
14900 119,5
Đại Quang Đại Lộc 11668 31,0 12374 32,9
Đại Thạnh Đại Lộc 54940 51,0 62637 58,1
Đại Đồng Đại Lộc 10808 45,6 9476 40,0
Đại Chánh Đại Lộc 6943 63,0 5698 51,7
Cà Dy Nam Giang 2064 196,0 1288 122,3
Thành Mỹ Nam Giang 4787 175,0 5677 207,5
Tà Bhing Nam Giang 2338 218,0 1439 134,2
Za Hung
Tây Giang 1112 26,9 114 27,0
A Vương Tây Giang 1403 14,0 2320 23,1

18
Ma Cooih Tây Giang 1183 177,0 1215 181,8
Quế Lộc Quế Sơn 8525 50,0 1406 8,2
Quế Trung Quế Sơn 9134 61,0 7343 49,0
Tổng 169921 474,0 162902 296,0
B.I.1.6.2. Giao thông
Hiện tại mạng lưới giao thông đường bộ trong vùng đã phát triển hơn nhiều so
với những năm thập niên 80. Đường xá được nâng cấp dần từng bước, đáp ứng nhu
cầu sinh hoạt đi lại của nhân dân, nhất là khi đường 14a, đường Hồ Chí Minh mới
hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2004 đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển
kinh tế vùng. Tuy vậy, các đường liên thôn, liên xã chất lượng còn thấp, tớ
i 70% là
đường đất, nền đường yếu, mặt đường chưa rải nhựa, hay bị sói lở do mưa lũ, nhiều

B.I.2. CÁC YẾU TỐ §ỊA CHẤT
Các yếu tố nội sinh ảnh hưởng đến tai biến địa chất của khu vực được xét đến là
vị trí kiến tạo trên bình đồ kiến tạo khu vực, các tầng cấu trúc, các hệ thống đứt gãy và
các thành tạo địa chất.

19
B.I.2.1. Các thành tạo địa chất
Dựa vào đặc điểm địa chất công trình, tính chất cơ lý của đất đá,… khả năng
chống chịu tai biến, có thể chia các thành tạo địa chất làm hai lớp: lớp có liên kết cứng
(đá cứng) và lớp không có liên kết (đất đá bở rời). Trong mỗi lớp lại gồm các nhóm
đất đá thành tạo trong những điều kiện kiến tạ
o, cổ địa lý giống nhau và được thể hiện
trên bản vẽ bằng các yếu tố thạch học chính của chúng.
B.I.2.1.1. Lớp đất đá bở rời
Thuộc lớp này là các thành tạo Đệ tứ phân bố dọc các sông Vu Gia, sông Côn
(ở phía Đông Bắc vùng nghiên cứu), sông Thu Bồn (ở phía Đông Nam vùng nghiên
cứu) với tổng diện tích khoảng 130,3km
2
. Suất liều chiếu bức xạ gamma 15 ÷ 24
µ
R/h.
Nhóm 1: Trầm tích có nguồn gốc sông và bãi bồi tuổi Pleistocen:
Phân bố trên diện rộng ở phía Đông Bắc vùng nghiên cứu, dọc 2 bờ sông Côn
kéo dài từ An Điềm - Thanh Đại - Hoàng Phước và sông Vu Gia từ Ngọc Kinh - Hà
Nha - Mỹ Đồng - Quảng Huế - Tam Hoà. Tổng diện tích các trầm tích khoảng
73,7km
2
và được chia ra các đơn vị sau:
- Trầm tích sông (thềm bậc III), tuổi Pleistocen trung (aQ
1

- Trầm tích sông, tuổi Holocen muộn ( aQ
2
3a
), thành phần gồm: Cát, sạn lẫn bột
sét, màu xám vàng.
- Trầm tích lòng sông, tuổi Holocen muộn (aQ
2
3b
), thành phần gồm: cuội, sỏi,
cát, sạn.
- Trầm tích lòng sông và bãi bồi không phân chia (aQ
2
3
), thành phần gồm: cuội,
sỏi, cát bột, sét màu xám vàng.
Nhóm 3: Trầm tích có nguồn gốc biển tuổi Pleistocen:
Trầm tích biển (thềm 20 -30m), tuổi Pleistocen thượng phần sớm, hệ tầng La
Châu (mQ
1
3a
lc): thành phần gồm: Cuội, cát thạch anh lẫn bột sét màu vàng đỏ.
Nhóm 3: Trầm tích Đệ tứ không phân chia: Gồm các trầm tích hỗn hợp sông,
sườn tích, lũ tích, tàn tích. Tổng diện tích khoảng 18,71km
2
: epQ: Eluvi - deluvi: cát
sạn, bột, laterit; dqQ: Sườn tích - lũ tích: tảng, cuội lẫn cát, bột; adpQ: Trầm tích sông
- sườn tích - lũ tích: cuội, sỏi lẫn cát, bột.

20
B.I.2.1. 2. Lớp đá cứng.

28µR/h.
- Hệ Jura sớm - hệ tầng Bàn Cờ (J1bc): Phân bố ở trung tâm và phía Nam vùng
nghiên cứu, diện tích khoảng 168,26km
2
. Các đá có dạng nếp lõm hoàn chỉnh. Thành
phần gồm sạn kết, cát kết màu xám trắng, xám vàng xen kẹp các lớp hoặc thấu kính
cuội kết đa khoáng. Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 21µR/h.
- Hệ Jura sớm - hệ tầng Khe Rèn (J1kr): Phân bố diện tích nhỏ kéo dài khoảng
19,7km2, giữa hệ tầng Bàn Cờ và hệ tầng Hữu Chánh vùng nghiên cứu. Thành phần
gồm: Bột kết màu xám ghi, xám đen, xen các lớp cát kế
t mỏng hạt nhỏ. Suất liều
tương đương bức xạ gamma trung bình 18µR/h.
- Hệ Jura giữa - hệ tầng Hữu Chánh (J2hc): Phân bố ở phía Đông vùng nghiên
cứu, diện tích khoảng 86,36km2. Thành phần gồm: Cát bột kết, bột kết đỏ gụ kẹp các
tập cát kết hạt nhỏ màu xám xanh. Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình
17µR/h.
- Hệ Neogen - hệ tầng Ái Nghĩa (Nan) , tr
ầm tích sông: Phân bố ở phía Đông
Bắc vùng nghiên cứu, diện tích khoảng 4,19km
2
. Thành phần: Cuội kết, sạn kết, cát
kết xen các lớp mỏng bột kết chứa hoá thạch thực vật.
- Hệ tầng Alin (Pal). Phân bố diện nhỏ ở phía Tây – Tây Bắc vùng nghiên cứu,
diện tích khoảng 24,43km
2
. Thành phần gồm: Cuội kết đa khoáng, sạn kết, cát kết màu
xám xanh xen kẹp các lớp bột kết xám nâu, tuf andesit, andesit. Suất liều tương đương
bức xạ gamma trung bình 18µR/h.
Nhóm 2: Trầm tích carbonat:
Hệ tầng Ngũ Hành Sơn (C- Pnhs).

khoảng 179,6 km
2
, suất liều tương đương bức xạ từ 2 ÷ 16,4 µR/h. Các đá của phức hệ
được chia làm hai pha: Pha chính gồm: Tướng trung tâm thành phần gồm granitogneis,
granosyenitogneis, biotit có muscovit, ban tinh dạng mắt lớn đến cực lớn; Tướng rìa:
Granitogneis hai mica, granosyenitogneis hai mica hạt nhỏ. Pha đá mạch:
Granitaplit(a), pegmatoid, turmalin(b), thạch anh - turmalin(c).
- Phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn (GDi/PZ
3
bq). Phân bố ở phía tây nam vùng
nghiên cứu, suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 17
µ
R/h. Các đá của phức
hệ được chia làm ba pha xâm nhập chính và pha đá mạch: Pha 1 (GDi/PZ
3
bq
1
): Diện
tích khoảng 1,41km
2
, thành phần gồm: Diorit, diorit thạch anh, gabrodiorit, gabroid.
Pha 2 (GDi/PZ
3
bq
2
): Diện tích khoảng 37,45km
2
, thành phần gồm: Granodiorit - biotit
– horblend. Pha 3 (GDi/PZ
3

2
. Thành phần gồm: Đá phiến thạch anh - plagioclas - biotit, đá phiến
thạch anh - biotit - silimanit - granat, đá phiến thạch anh – muscovit - silimanit, thấu
kính amphibolit, đá phiến amphibol. Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình
12
µ
R/h.
- Hệ tầng Thành Mỹ (PR
3
tm): Phân bố tại trung tâm vùng nghiên cứu với diện
lộ nhỏ khoảng 5,4km
2
, thành phần gồm: Đá hoa màu xám trắng, sọc dải xen kẽ
amphibolit lớp mỏng màu xám xẫm, xám đen hạt nhỏ và các lớp mỏng gneisbiotit.
Suất liều tương đương bức xạ gamma trung bình 11
µ
R/h.
- Hệ tầng A San (Єasn): Phân bố ở phía Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc vùng nghiên
cứu, diện tích khoảng 144,18km
2
. Thành phần gồm: Đá phiến thạch anh - biotit, đá
phiến thạch anh – plagioclas - biotit, đá phiến thạch anh – felspat - biotit (mica) xen
kẹp lớp mỏng quarzit, đá vôi vi hạt tái kết tinh mầu xám tối, xám sáng. Suất liều tương
đương bức xạ gamma trung bình 18µR/h.
- Hệ tầng A Sờ (Єas): Phân bố phía Tây Nam vùng nghiên cứu, diện lộ nhỏ,
kéo dài dạng dải khoảng 13,85km
2
. Thành phần gồm: Đá hoa mầu xám trắng, xám tối,

22

2. Hoạt động uốn nếp
Do ảnh hưởng các pha kiến tạo và hoạt động magma mà các thành tạo trầm tích,
trầm tích biến chất bị vò nhàu uốn nếp.
- Nếp lồi Sông Cái phân bố ở phía Nam vùng nghiên cứ
u. Được hình thành
trong quá trình thành tạo phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn (GDi/PZ
3
bq) và có nhân là các
thành tạo trầm tích biến chất cổ của hệ tầng Thành Mỹ (PR
3
tm), hệ tầng Mỹ Hiệp
(PR
3
mh).
- Nếp lõm: Trong vùng nghiên cứu có các nếp lõm chính sau:
+ Nếp lõm An Điềm - Cà Liêng - Sườn Giữa - Thường Đức nằm ở phía Bắc của
vùng nghiên cứu, kéo dài theo vĩ tuyến.
+ Nếp lõm Mai Quy có qui mô nhỏ, phân bố ở phía Nam vùng nghiên cứu.
+ Nếp lõm Thọ Lâm phân bố ở phía Đông của vùng nghiên cứu, kéo dài theo
phương Đông Bắc – Tây Nam.
Ngoài ra ở trung tâm vùng nghiên cứu có hệ thống địa hào, được giới hạn bởi hệ
thống đứt gãy Tabhing - Thị trấ
n Thành Mỹ - Đại Sơn và kéo dài theo phương Đông
Bắc – Tây Nam.
B.I.2.2.2. Các hệ thống đứt gãy chính
1. Hệ thống đứt gãy Đông Bắc -Tây Nam:

23
- Hệ đứt gãy Zuôi - Ma Cooih - Cà Dăng. Các đứt gãy gần song song với nhau
kéo dài gần 20km, phát triển mạnh ở góc Đông Bắc vùng nghiên cứu thuộc các huyện

và phần biển
ven bờ là 100km
2
.
Các yếu tố địa lý tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến các tai biến địa chất.
Chúng quy định sự xuất hiện các loại hình tai biến địa chất, cường độ và tần suất cũng
như phạm vi ảnh hưởng của tai biến địa chất. Dựa vào nguồn gốc phát sinh có thể chia
chúng ra thành hai nhóm là nhóm các yếu tố nội sinh và nhóm các yếu tố ngoại sinh.
C.I.1.2. Địa hình, địa mạo
Trong diện tích nghiên c
ứu có các dạng địa hình đồi núi thấp, địa hình đồng
bằng ven biển và địa hình đáy biển ven bờ.
- Địa hình đồi núi thấp: phân bố ở phía Bắc bao gồm: núi Bể, núi Mây Tào, núi
Nhọn, núi Giang Co, núi Lồ Ô. Đây là các núi sót trên đồng bằng ven biển. Đặc điểm
của địa hình núi là sườn cong lồi, dốc, nhưng phát triển cân xứng, hầu hết chúng đều
phát triển các đá magma xâm nhập thuộc phức hệ Đ
èo Cả, Định Quán, riêng ở núi
Nhọn lộ các đá phun trào hệ tầng Nha Trang. Các núi sót đều có độ cao tương đối lớn,
dao động từ 400 đến 600m, với các đỉnh núi Bể cao 874m, núi Nhọn cao 569m. Trên
các sườn núi đá gốc lộ tốt, nhưng việc đi lại khó khăn vì khá dốc.
- Địa hình đồng bằng ven biển: kéo dài dọc ven biển vùng nghiên cứu. Độ cao
dao động 50÷100m ở ven chân núi, 1÷5m ở ven bờ biển, độ
phân cắt sâu nhỏ. Cấu
thành đồng bằng là các trầm tích biển, sông-biển tuổi Đệ tứ. Chúng phủ lên trên các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status