nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - địa chất-khoáng sản ba vùng- phong thổ, nông sơn, hàm tân tỷ lệ 1-50. - Pdf 13

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN
- o0o - BÁO CÁO
THUYẾT MINH BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT – KHOÁNG SẢN
3 VÙNG: HÀM TÂN, PHONG THỔ VÀ NÔNG SƠN

TỶ LỆ 1/50.000 VÀ 1/10.000 THEO TỪNG VÙNG
BÁO CÁO
THUYẾT MINH BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT – KHOÁNG SẢN
3 VÙNG: HÀM TÂN, PHONG THỔ VÀ NÔNG SƠN

TỶ LỆ 1/50.000 VÀ 1/10.000 THEO TỪNG VÙNG Hà nội, 2005

1
MỤC LỤC
MỞ §ẦU 2

CH¦¥NG I. §ẶC §IỂM §ỊA LÝ TỰ NHI£N, KINH TẾ, NH¢N V¡N 3

I.1. Vị trí địa lý 3
I.2. Địa hình 3
I.3. Đặc điểm thủy văn và mạng lưới sông suối 5

(ilmenit), than, fluorit đất hiếm. Việc làm sáng tỏ các yếu tố địa chất cho 3 vùng Phong
Thổ, Nông Sơn và Hàm Tân là hết sức cấp thiết, nhằm phục vụ cho công tác quy
hoạch và bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế bền vững.
Tập thể tác giả đã tiến hành thu thập, tổng hợp, xử lý tài liệu về địa chất khu vực
và dựa vào kết quả khảo sát, lấy mẫu của các nhóm thực địa trong đề tài năm 2005-
2006, để xây dựng báo cáo chuyên đề địa chất khoáng sản cho 3 vùng Phong Thổ (Lai
Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận).
1. Cơ sở pháp lý.
- Căn cứ vào hợp đồng số 10/2005/HĐ/ĐTĐL ngày 08/04/2005 giữa Bộ
Khoa h
ọc và Công nghệ, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam và Liên
đoàn Địa chất biển .
- Căn cứ vào hợp đồng thuê khoán công việc số 88/HĐ-ĐTĐL-2005/10
ngày 23/08/2005 giữa Liên đoàn Địa chất biển và TS.Đào Mạnh Tiến chủ
nhiệm đề tài với KS.Trịnh Thanh Minh chủ nhiệm tiểu đề tài.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ.
a. Mục tiêu.
Xây dựng báo cáo chuyên đề Địa chất – Khoáng sản 3 vùng Phong Thổ (Lai
Châu), Nông S
ơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình Thuận) tỷ lệ 1/50.000 và 1/10.000
theo từng vùng.
b. Nhiệm vụ.
- Thu thập, tổng hợp, xử lý các tài liệu hiện có về địa chất, khoáng sản của
3 vùng Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân (Bình
Thuận).
- Thành lập mặt cắt địa chất tổng hợp cho từng vùng.
- Viết báo cáo thuyết minh.
Báo cáo được trình bày trong 2 chương không kể phần mở đầu và kết luận:
Chương 1. Đặc điểm địa lý t
ự nhiên, kinh tế, nhân văn

°
33’04” đến 108
°
06’00” kinh độ Đông
Vùng nghiên cứu Hàm Tân
bao gồm: toàn bộ lãnh thổ và một phần lãnh hải
(0-10m nước) huyện Hàm Tân (tỉnh Bình Thuận), một phần lãnh thổ, lãnh hải (0-10m
nước) hai xã Tân Thành, Tân Thuận - huyện Hàm Thuận Nam (tỉnh Bình Thuận): đó
là dải ven biển và biển ven bờ (0-10m nước) từ Cửa Cạn đế
n mũi Kê Gà.
Phía Bắc giáp huyện Tánh Linh, Bình Thuận; phía Đông giáp huyện Hàm
Thuận Nam (Bình Thuận); phía Tây giáp huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa -Vũng Tàu),
huyện Xuân Lộc (Đồng Nai) và phía Nam giáp Biển Đông. Diện tích nghiên cứu
1051km
2
trong đó phần đất liền là 951km
2
và phần biển ven bờ là 100km
2
.
Vùng nghiên cứu được giới hạn:
Từ 10°33’15” đến 10°55’13” vĩ độ Bắc
Từ 107
°
30’17” đến 107
°
59’15” kinh độ Đông
I.2. Địa hình
Vùng Phong Thổ
Vùng nghiên cứu nằm trên khu vực chuyển tiếp của 2 đới kiến tạo (đới nâng

900m. Địa hình bị phân cắt bởi các hệ thống sông suối (sông Thu Bồn,Vu Gia) theo
các hướng khác nhau.
Phần thấp có độ cao từ 200-300m đỉnh núi tròn trong khi đó phần cao từ 400
đến hơn 1000m đỉnh có dạng sống trâu, kéo dài theo phương á kinh tuyến, sườn
thường dốc 20-40
0
, có nơi dốc hơn 50
0
. Các sườn nơi gần suối thường có nhiều vách
sạt lở khó đi lại.
Vùng Hàm Tân
Vì vùng nghiên cứu bao gồm cả diện tích phần trên đất liền và biển nên các
dạng địa hình: địa hình đồi núi thấp, địa hình đồng bằng ven biển và địa hình đáy biển
ven bờ.
Địa hình đồi núi thấp phân bố ở phía Bắc bao gồm: núi Bể, núi Mây Tào, núi
Nhọn, núi Giang Co, núi Lồ Ô. Đây là các núi sót trên đồng bằng ven biển. Đặc đ
iểm
của địa hình núi là sườn cong lồi, dốc, nhưng phát triển cân xứng, hầu hết chúng đều
phát triển các đá magma xâm nhập thuộc phức hệ Đèo Cả, Định Quán, riêng ở núi
Nhọn lộ các đá phun trào hệ tầng Nha Trang. Các núi sót đều có độ cao tương đối lớn,
dao động từ 400 đến 600m, với các đỉnh núi Bể cao 874m, núi Nhọn cao 569m. Trên
các sườn núi đá gốc lộ tốt, nhưng việc đi l
ại khó khăn vì khá dốc.
Địa hình đồng bằng ven biển kéo dài dọc ven biển vùng nghiên cứu. Độ cao
dao động 50÷100m ở ven chân núi, 1÷5m ở ven bờ biển, độ phân cắt sâu nhỏ. Cấu
thành đồng bằng là các trầm tích biển, sông-biển tuổi Đệ tứ. Chúng phủ lên trên các
thành tạo Mesozoi. Nhìn chung móng Kainozoi đều cao hơn mực nước biển. Vì vậy,
dọc theo suối hoặc trên các đồi sót nhiều nơi lộ đá gốc. Đị
a hình đồng bằng nghiêng
thoải ra phía biển. Phần tiếp giáp với biển phát triển hệ thống các dải cồn, đụn cát, các

sông Vàng, sông Bung, sông Cái. Các dòng sông về mùa mưa nước sông dâng cao, lưu
lượng nước rất lớn, mùa khô dòng sông thu hẹ
p với nhiều thác ghềnh hiểm trở. Theo
tài liệu khí tượng thủy văn trạm Hội Khách đo trên sông Cái. Mực nước thấp nhất từ
tháng 2 đến tháng 9 từ 843 đến 871 cm mực nước cao nhất từ tháng 10 đến tháng 1 từ
931 đến 1782cm. Lưu lượng mưa hàng năm các con sông như sau:sông Bung: mùa
khô 35m
3
/s, mùa mưa 3350-370m
3
/s; sông Cái: mùa khô 493m
3
/s, mùa mưa 400-
450m
3
/s.
Hệ thống sông suối chủ yếu trong vùng gồm các sông suối có phương á kinh
tuyến. Trừ suối lớn nhất là suối Tamprang là nước chảy quanh năm, lưu lượng nước
lớn, nhiều thác ghềnh, các suối nhánh thường là khe cạn, lòng suối sâu, nhiều bậc thác,
rất dốc chỉ có nước vào mùa mưa.
I.3.2. Vùng Hàm Tân
Vùng nghiên cứu có mạng lưới sông suối khá phát triển, phân bố tương đối đều
với hai hệ thống sông chính: sông Dinh và sông Phan.
Sông Dinh b
ắt nguồn từ phía Tây Bắc núi Chứa Chan (Đồng Nai), núi Mây
Tào, núi Bể chạy qua địa phận huyện Hàm Tân và đổ ra cửa biển La Gi. Sông Dinh là
sự qui tụ các suối Gia Ui, suối Lớn với chiều dài ~ 35km. Diện tích lưu vực rộng
khoảng 80km
2
. Lưu lượng dòng chảy phụ thuộc theo mùa.

0
C.
Chế độ mưa: tổng lượng mưa khoảng 2.500 mm/năm, tập trung từ tháng 6 đến
tháng 8 (chiếm 65-75% lượng mưa trong năm).
Độ ẩm: độ ẩm trung bình trên 80%. Thường vào đầu mùa mưa, mưa to kèm gió
lốc và thỉnh thoảng có mưa đá còn những trận mưa cuối mùa thường là mưa nhỏ
nhưng kéo dài triền miên.
Bảng 1.1. Thống kê các trị số khí hậu vùng Phong Thổ
Tháng
Nhiệt độ
trung bình
(
0
C)
Lượng mưa trung
bình (mm)
Độ ẩm tương đối
trung bình (%)
Số giờ nắng
trung bình
1 16,8 47 83 158
2 18,3 11 80 143
3 22,2 56 80 155
4 24,1 173 86 178
5 25,7 333 82 144
6 26,7 219 82 103
7 26,2 393 87 121
8 26,5 499 88 161
9 25,4 100 83 126
10 23,3 42 82 122

7
tháng 1 tần suất gió Đông Bắc chiếm trên 70%. Tốc độ gió trung bình là khoảng 1,5-
2m/s.
Mùa mưa từ tháng 9-11, hướng gió thổi là hướng Tây Nam, Đông Nam, Tây.
Hướng Tây Nam chiếm tần suất cao nhất, cực đại vào tháng 7 đạt xấp xỉ 60%. Các
hướng khác nhau như Tây,Đông Nam chiếm 20%. Tốc độ gió trung bình từ 1,2-
2,2m/s. Gió mạnh nhất vào mùa này do ảnh hưởng của bão.

Bảng 1.2. Thống kê các trị số khí hậu vùng Nông Sơn
Tháng
Nhiệt độ
trung bình
(
0
C)
Lượng mưa
trung bình (mm)
Độ ẩm tương đối
trung bình (%)
Số giờ nắng
trung bình
1 95 88 86 21,9
2 153 7 83 21,2
3 131 10 85 24,1
4 215 13 84 26,5
5 283 44 80 28,4
6 239 136 76 29,2
7 217 241 80 28,3
8 242 69 76 28,9
9 162 129 83 27,3


8
Chế độ gió: trong vùng có 2 mùa gió là mùa gió Tây Nam và mùa gió Đông
Bắc. Mùa gió Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10. Hướng gió chủ yếu từ hướng
Tây Nam. Tốc độ trung bình 1,5÷2,2m/s, tốc độ gió lớn nhất 14÷20m/s. Mùa gió Đông
Bắc bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Hướng chủ yếu là từ hướng Đông, Đông
Bắc. Tốc độ trung bình 2
÷
2,9m/s, tốc độ gió lớn nhất 12
÷
18m/s.
Chế độ thủ
y triều: Vùng biển khu vực Hàm Tân, thuỷ triều có tính chất bán
nhật triều không đều, hầu hết các ngày trong tháng quan trắc thấy hai lần nước lên và
hai lần nước xuống nhưng không đều về biên độ và thời gian. Độ cao mực nước triều
cường có thể đạt 2,0-3,5 m.

Sóng biển: Trong khu vực nghiên cứu, các đặc trưng của sóng thay đổi theo hai
mùa. Tuy nhiên, các đặc trưng của sóng và các thời kỳ khác nhau cũng rất khác nhau.
Có thể chia sóng biển trong vùng nghiên cứu thành 3 thời kỳ trong năm như sau:
- Từ tháng 1 đến tháng 4, sóng biển có hướng thịnh hành là Đông Bắc - Đông, độ
cao trung bình khoảng 0,9-1,0 mét.
- Từ tháng 5 đến tháng 9, hướng sóng thịnh hành là Tây - Tây Nam, độ cao trung
bình khoảng 1,0-1,1 mét.
- Từ tháng 10 đến tháng 12, hướng sóng thịnh hành là Đông - Bắc, độ cao sóng
trung bình xấp xỉ
1,2 mét.
Độ cao sóng cực đại thường đo được vào lúc thời tiết xấu, cực đại trung bình
trong năm là 3,5 mét. Trong bão, độ cao sóng có thể đạt tới 7-8m, thậm chí 10-12m.
Tuy nhiên, khu vực nghiên cứu cũng ít chịu ảnh hưởng của bão so với các vùng biển

9 26.2 296.6 88.0 189.0
10 26.2 217.3 86.0 218.0
11 26.2 61.2 84.0 218.0
12 24.9 15.3 80.0 245.0

9
Thổ nhưỡng: Dựa theo bảng phân loại đất Việt Nam của Hội Khoa học Đất Việt
Nam trên diện tích nghiên cứu có các loại đất sau:
Loại đất nâu đỏ: phân bố trên địa hình cao nguyên chiếm diện tích nhỏ ở khu
vực phía Tây huyện Hàm Tân. Loại đất này phát triển trên đá bazan phong hóa màu đỏ
thẫm, tầng đất dày, giàu mùn. Đất nâu đỏ là loại đất quí, rất phù hợp với loại cây công
nghiệp và cây ăn trái có giá trị.
Lo
ại đất cồn cát trắng-vàng: phân bố dọc theo đường bờ biển trên diện tích
khoảng 100km
2
. Chúng sử dụng chủ yếu trồng cây phi lao chắn gió. Những cồn cát
thấp sử dụng trồng cây hoa màu, họ đậu, rau và cây ăn trái.
Loại đất cồn cát đỏ: phân bố chủ yếu phía Đông Bắc vùng Hàm Tân chiếm
khoảng 200km
2
. Loại đất này được sử dụng cho nông, lâm nghiệp: bông, cây họ đậu,
rau màu và trồng rừng.
Loại đất sét-cát-mùn thực vật màu xám đen: phân bố dọc theo các thung lũng
sông, suối được nhân dân khai thác trồng lúa và hoa màu.
Bảng 1.4. Tình hình sử dụng đất huyện Hàm Tân (đơn vị: ha)
Năm 2000 2001 2002
1. Đất nông nghiệp 27.400 27.832 29.168
a. Cây hàng năm
- Lúa

c. Đất có mặt nước đang dùng vào
nông nghiệp
259 323 570
2. Đất dùng vào lâm nghiệp
- Rừng tự nhiên
- Rừng trồng
29.547
16.708
12.833
30.283
16.911
13.367
32.335
17.659
14.670
3. Đất chuyên dùng
- Đất xây dựng
- Đường giao thông
- Đất thủy lợi
2.202
230
1.102
428
2.210
239
1.113
421
2.310
256
1.155

Hiện nay rừng chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 19% diện tích vùng nghiên cứu, phát
triển chủ yếu trên địa hình các vùng núi cao trên 1500m ở phía Tây Fan Si Pan, vùng
núi đá vôi, đá phun trào ở phía Đông Nam Sìn Hồ, các thượng lưu sông Nậm Tần,
Nậm Ten, Nậm Ban Thảm thực vật phong phú và đa dạng từ các loại cây nhóm gỗ
quý (lát, dổi, sa mu ) đến các loại cây thân đốt, leo
Động v
ật tập trung khá nhiều loại từ các thú dữ như hổ, báo, gấu, cho đến các
loại khác như hươu, nai, lợn rừng, khỉ, trăn chúng thường sống ớ các sườn núi cao,
rừng rậm. nhưng hiện nay do phát nương, làm rẫy nên diện tích rừng bị thu hẹp dần và
các loại gỗ quý hiếm cũng đang biến mất, các loại động vật tự nhiên quí, hiếm có số
lượng giảm hoặc chúng đ
ã di chuyển sang vùng khác.
I.5.2. Vùng Nông Sơn
Đây là khu vực có nhiều khu rừng với nhiều loại gỗ quý như: Lim, sến, chò Có
nhiều động vật quý như gấu, hươu nai, lợn rừng
Hiện nay phần lớn rừng còn lại vẫn đang bị khai thác bừa bãi hoặc đốt làm
nương rẫy. Một số khu vực phát triển rừng tái sinh chủ yếu là cây dây leo, cỏ tranh, lau
sậy. Các loài động vật quý ít dần, chúng tập trung chủ yế
u chỉ còn nơi núi cao, rừng
rậm. Hiện tượng săn bắn thú rừng và khai thác gỗ trái phép vẫn tiếp tục hoạt động. Lực
lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương rất khó khăn trong việc kiếm soát được
các hoạt động này.
I.5.3. Vùng Hàm Tân
Rừng hiện nay chiếm diện tích nhỏ, phát triển trên địa hình núi, diện tích rừng
tự nhiên đến nay còn khoảng 17659 ha và 14670 ha rừng trồng các loại. Trong khi đó
diện tích đồi núi là 50275 ha tậ
p trung chủ yếu ở phía Bắc vùng. Thảm thực vật chủ
yếu gồm những loại cây mọc tái sinh, các loại gỗ quí đã bị khai thác cạn kiệt chỉ còn
lại các loại như: cây dầu, bằng lăng, tre, cọ, buông v.v.
Do diện tích rừng ngày càng thu hẹp, các loại động vật tự nhiên quí, hiếm

tự nhiên (km
2
)
Dân số
(người)
Mật độ dân số
(người/km
2
)
Tổng số
xã phường
1 Phong Thổ 1647,5 94.800 58 29

Giao thông:Vùng nghiên cứu được nối với vùng khác của miền Bắc bởi các
tuyến đường chính sau:
Hệ thống đường ôtô: Trong vùng nghiên cứu có đường quốc lộ 4D nối liền với
các tỉnh lộ 12 đi thị xã Lai Châu và thị trấn Sa Pa (Lào Cai), tỉnh lộ 32 đi thị trấn Than
Uyên (Lào Cai).
Hệ thống đường sắt :
Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai (từ Lào Cai đi ôtô đến Sa Pa – Tam Đường)
Ngoài các tuyến đường chính còn có các tuyến đường Phong Thổ-Dao
San, Phong Th
ổ-Then Sin-Tam Đường, Phong Thổ-Mường So, dọc sông Nậm
Na, Sìn Hồ nhưng việc đi lại trong vùng nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn,
đường mòn chật hẹp, khá dốc, di chuyển chủ yếu bằng ngựa hoặc đi bộ. Về mùa
mưa, đường trơn, lầy lội rất khó khăn trong việc đi lại. Tuy nhiên từ các mỏ
(Nậm Xe, Đông Pao) tới thị trấn, thị xã trong vùng việc đi lại d
ễ dàng hơn do
được nối liền bởi đường đất, ôtô có thể đi lại được.
Đường thuỷ có con sông Nậm Na chạy dọc phía Tây, sông Nậm Ma chạy dọc

Khai thác khoáng sản: Trong những năm qua khu mỏ Nậm Xe, Đông Pao đã
được nhiều đơn vị khai thác quặng fluorit, đất hiếm Quặng được khai thác lộ thiên,
tuyển quặng bằng phương pháp thủ công và vận chuyển tập trung ở khu vực Tam
Đường, Phong Thổ chờ chuyển đến các đơn vị sử dụng và chế biến khoáng sản.
Khu mỏ Thèn Sin-Tam Đường có các điểm vàng gốc và sa khoáng, cộng sinh
với các mạch vàng gốc có ch
ứa hàm lượng các nguyên tố phóng xạ. Những năm gần
đây dân địa phương và một số người ở nơi khác đến tiến hành đào bới, khai thác vàng
gây ô nhiễm nước, phá vỡ hệ sinh thái môi trường và sản xuất nông nghiệp tại vùng
này. Hiện nay chính quyền địa phương đã ngăn chặn được hoạt động khai thác vàng tự
do này.
Hoạt động khai thác khoáng sản (quặng fluorit, đất hiếm, vàng ) trong vùng
thiếu quy hoạch đã làm thay
đổi môi trường sinh thái và cân bằng tự nhiên: rừng đầu
nguồn bị tàn phá, đất đai bị xói mòn, hàng năm gây ra lũ ở vùng hạ nguồn của các
dòng sông, đặc biệt ô nhiễm phóng xạ ảnh hưởng tới sức khỏe người dân trong vùng.
Tóm lại: Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế-xã hội của vùng nghiên cứu tương
đối thuận lợi cho việc phát triển các ngành lâm nghiệp, du lịch.Tuy nhiên, điều kiện
địa hình núi cao hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, đời sống kinh tế và văn hoá còn
thấp sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến công tác thực địa
I.6.2. Vùng Nông Sơn
Dân cư: Trong vùng tương đối thưa, chủ yếu tập trung ở ven đường giao thông
và ven sông, suối lớn. Người Kinh tập trung ở các xã vùng thấp sống bằng nghề trồng
lúa và buôn bán nông-lâm sản. Người Cà tu sống ở xã Cà Dăng bằng nghề phát nương
làm rẫy và khai thác lâm s
ản. Nói chung đời sống kinh tế của nhân dân trong vùng rất
khó khăn.

Bảng 1.6. Bảng thống kê diện tích và dân số
vùng nghiên cứu Nông Sơn

Nông nghiệp: Trong vùng kém phát triển, nghề trồng lúa và làm nươ
ng rẫy cho
năng suất thấp. Những năm gần đây dân trồng dứa cho thu nhập khá hơn. Đây là loại
cây công nghiệp được trồng nhiều ở nhà vườn, trong vài năm trở lại đây phát triển

13
mạnh được trồng trên vườn đồi, trang trại, rẫy cho năng suất cao, thị trường tiêu thụ
trong nước và xuất khẩu. Các cây công nghiệp, lâm nghiệp
Công nghiệp: trong vùng có nhà máy thủy điện An Điềm đã phát điện hòa vào
mạng lưới điện quốc gia. Còn nhà máy thủy điện khác đang trong giai đoạn xây dựng
nhà máy. Đã triển khai xây dựng các khu công nghiệp trong vùng nghiên cứu như:
Khu công nghiêp Đại Hiệp Nằm ở xã Đại Hiệp, huy
ện Đại Lộc, dọc quốc lộ 14B, cách
sân bay quốc tế Đà Nẵng 10km và cách cảng Tiên Sa 15km về phía Đông với diện
tích quy hoạch 40 ha; Khu Công nghiệp Đông Quế Sơn thuộc xã Quế Cường, huyện
Quế Sơn, nằm ngay sát quốc lộ 1A, cách sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hay 40km về phía
Tây (diện tích quy hoạch 160 ha). Ở các huyện Quế Sơn, Đại Lộc các ngành công
nghiệp sản xuất chất khoáng phi kim loại, chế biến thực phẩm, chế biến gỗ
, khai thác
sỏi, cát đã và đang được đầu tư phát triển nhằm đem lại hiệu quả kinh tế.
Khai thác khoáng sản: Hoạt động khai thác khoáng sản đáng chú ý nhất tại khu
vực này là khai thác công nghiệp tại mỏ than Nông Sơn. Trong các vỉa than, nóc vỉa
than Nông Sơn chứa urani sẽ gây ô nhiễm môi trường dưới hai hình thức: thứ nhất
urani trong than và xỉ than sau khi sử dụng sẽ gây ô nhiễm môi trường tại những nơi
tiêu thụ s
ử dụng than. Loại ô nhiễm này rất khó kiểm soát. Loại ô nhiễm thứ hai đó là
đất đá thải trong quá trình khai thác lộ thiên sẽ di chuyển đá có xạ đi xa hơn vị trí vốn
có (nơi khai thác). Hiện nay dân địa phương tiếp tục tiến hành đào lò than thổ phỉ làm
chất đốt tại khu vực Ngọc Kinh, đã làm thay đổi môi trường rất nhiều đặc biệt mất an
toàn lao động cho những người trực ti

Dân số
(người)
Mật độ dân số
(người/km
2
)
Tổng số
xã phường
1 Hàm Tân 941,5 154.700 164 11

Giao thông: Mạng lưới giao thông trong vùng công tác khá thuận lợi và đa
dạng gồm: đường bộ, đường sắt, đường thủy.
Đường bộ tương đối phát triển và phân bố đều trên toàn vùng. Đường quốc lộ
IA chạy qua phần phía Bắc của vùng với chiều dài khoảng 28km. Từ tuyến đường này

14
nối liền với các đường giao thông liên tỉnh như đường số 708, 709, 710 có thể đi đến
các huyện, tỉnh lân cận vùng công tác. Các tuyến đường chính trong huyện đã được
nhựa hóa. Đường giao thông nối liền các xã trong vùng cũng khá phát triển, nên việc
đi lại trong vùng khá dễ dàng và thuận lợi. Riêng vùng Núi Bể, giao thông kém phát
triển, dân cư thưa thớt, nên việc khảo sát thực địa gặp nhiều khó khăn.
Đường sắt chạy song song với quốc l
ộ IA (chiều dài chạy qua vùng công tác
khoảng 17km), việc vận chuyển mẫu, thiết bị ra Hà Nội bằng đường sắt phải ga
Mương Mán (cách xa trung tâm huyện Hàm Tân khoảng 80km).
Giao thông đường biển khá phát triển với các cảng La Gi, Cửa Cạn thuận lợi cho tàu
bè nhỏ ra vào lấy hàng và trú đậu.
Nông nghiệp: hoạt động nông nghiệp trong vùng chủ yếu là nghề trồng lúa, cây
ăn trái, cây công nghiệp (điều, hồ tiêu, cà phê ). Ở nông thôn phát triển mô hình
V.A.C (kinh tế vườ

Địa phương 1996 1997 2003
Huyện Hàm Tân
1. Xã Tân Thiện - - 5.3
2. Xã Tân Hải 40 39 38.79
3. Thị trấn La Gi 7.93 8.03 7.69
4. Xã Tân Bình 3.11 2.85 2.85
5. Xã Sơn Mỹ - - 150.99
6. Xã Tân Thắng 60 98 235

15
Theo số liệu thống kê năm 2002 tại huyện Hàm Tân có 1172 cơ sở sản suất
công nghiệp ngoài Quốc doanh, thu hút khoảng 3797 người lao động. Tổng giá trị sản
xuất công nghiệp của các cơ sở này trong toàn huyện đạt trên 92 tỉ đồng
Khai thác khoáng sản: Công nghiệp khai khoáng đang phát triển (khai thác đá
xây dựng ở mỏ Tân Hà, mỏ Núi Le, mỏ Hòn Vung; cát xây dựng ở mỏ Tân Thắng, mỏ
Sông Dinh. Đặc biệt mỏ Ilmenit Hàm Tân đang đượ
c khai thác và hàng năm đã thu
được hàng triệu USD. Nhà máy khoáng sản của Công ty Liên doanh khoáng sản quốc
tế Hải Tinh (Việt Nam - Trung Quốc) tại xã Tân Hải đã được hoàn tất vào tháng 11
năm 2004 nay đã đi vào sản xuất với vốn đầu tư giai đoạn 1 là 2 triệu USD, hàng năm
chế biến 5.000 tấn zircon, 1.000 tấn rutin chất lượng cao, doanh thu dự kiến đạt 5 triệu
USD/năm; giai đoạn hai vốn đầu tư tăng lên 10 triệu USD và giai
đoạn 3 là 50 triệu
USD để tiến tới thành lập các nhà máy sản xuất sứ cao cấp, gạch chịu lửa, que hàn cao
cấp. Cùng với việc thành lập liên doanh trên là việc mở rộng quy mô và sản lượng khai
thác mỏ Hàm Tân.
Du lịch: Vùng nghiên cứu có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, những
kiến trúc cổ, các lễ hội truyền thống, các kho tàng văn hoá - nghệ thuật dân gian. Đây
là điểm đến của khách du lị
ch đến tham quan, thưởng ngoạn. Đặc biệt tại đây có các

mặt cắt và đặc điểm biến chất các đá của hệ tầng ít thay đổi theo đường phương và
đồng đều trên diện tích phân bố. Hệ
tầng Suối Chiềng được chia làm 2 tập, nhưng
vùng nghiên cứu chỉ lộ ra tập 2 (PRsc
2
): thành phần của tập 2 gồm: đá phiến biotit -
epidot - sphen, amphibolit - epidot, xen những lớp mỏng đá phiến felspat thạch anh
mica và đá phiến hai mica. Chiều dày tập này là 1.400m.
1.2. Hệ tầng Sinh Quyền (PR
1-2
sq).
Hệ tầng Sinh Quyền do Tạ Việt Dũng và n.n.k xác lập năm 1963. Trong vùng
nghiên cứu hệ tầng này lộ ra thành một dải liên tục ở phía Bắc - Đông Bắc vùng
nghiên cứu có chiều dài khoảng 25km, chiều rộng khoảng 2-2,5km. Ranh giới phía
Đông Bắc của hệ tầng là các đá xâm nhập thuộc phức hệ Ye Yen Sun và phía Tây
Nam là đứt gãy sâu Bản Lang - Nậm Xe (F
1
1
).
Thành phần đất đá của hệ tầng được mô tả từ dưới lên như sau:
- Phần dưới gồm plagiogneis, amphibol - biotit, amphibolit, đá phiến thạch anh
felspat mica, các đá bị ép, phân phiến, cấu tạo dải và dạng gneis, đôi chỗ có migmatit.
Các đá thuộc phần dưới của hệ tầng thường cắm về phía Tây Nam. Chiều dày của
phần dưới đạt tới 150m.
- Phần giữa: là các đá gneis biotit, plagiogneis hai mica, đá phiến th
ạch anh
felspat mica, xen các lớp mỏng amphibolit - biotit. Nhìn chung đá có màu xám, xám
sáng, cấu tạo dải, dạng gneis, chúng cắm về phía Tây Nam, dốc 50-70
0
, chiều dày đạt

là hệ tầng Si Phay (P
1-2
sp) và hệ tầng Na Vang (P
2
nv).
1.4. Hệ tầng Si Phay (P
1-2
sp
).
Hệ tầng Si Phay lộ ra thành một dải ở phía Bắc - Đông Bắc vùng nghiên cứu. Ranh
giới phía Đông Bắc là đứt gãy Bản Lang - Nậm Xe. Đan xen trong các thành tạo
này là các thành tạo thuộc hệ tầng Na Vang. Tại mặt cắt Na Vang của hệ tầng được
chia làm hai tập:
+ Tập 1: - Đá phiến màu xám đen gồm vật chất hữu cơ xen ít đá phiến silic, bột
kết, cát kết và đá phiến sét có các vả
y nhỏ muscovit.
- Đá phiến sét xen bột kết màu xám đen, cát kết đá khoáng.
- Đá phiến sét vôi, sét vôi và thấu kính đá vôi.
- Đá phiến sét màu đen xen bột kết.
Chiều dày tập 1 đạt tới 490m.
+ Tập 2: - Đá phiến sét silic màu đen.
- Đá phiến sét màu đen, xen ít bột kết màu xám đen.
- Đá phiến sét silic phân lớp mỏng, cấu tạo dải màu nâu. Các đá này
chuyển tiếp lên hệ tầng Na Vang.
Chiều dày tập 2 đạ
t tới 220m.
Tổng chiều dày của hệ tầng Si Phay 710m.
Trong hệ tầng này có rất nhiều các đai mạch nằm dải rác thuộc phức hệ Phong
Thổ có liên quan đến khoáng sản đất hiếm (mỏ đất hiếm Nậm Xe)
1.5. Hệ tầng Na Vang (P

- Phần dưới là bazan hạnh nhân, bazan olivin và các lớp tuf của chúng.
- Phần trên chủ yếu là bazan dạng khối màu xám đen, không thấy có cấu tạo hạnh
nhân mà phổ biến là cấu tạo định hướng và có kiến trúc porphyr.
Chiều dày tầng 1.000m.

HỆ TRIAS THỐNG HẠ BẬC OLENEC
1.7. Hệ tầng Tân Lạc (T
1
o
tl
).
Hệ tầng Tân Lạc do Phan Cự Tiến phân chia (1977). Các thành tạo thuộc hệ tầng
phân bố ở trung tâm vùng nghiên cứu thành ba dải kéo dài theo hướng Tây Bắc -
Đông Nam, nằm ở các khu vực Đông Bắc huyện lỵ Phong Thổ, khu trung tâm cao
nguyên Lang Nhị Thang và Đông Nam khu mỏ Đông Pao. Các đá thuộc hệ tầng
gắn liền với hệ tầng Đồng Giao. Tại đây mặt cắt của hệ tầng lộ không đầy
đủ, đặc
biệt phần dưới của hệ tầng không quan sát được.
Thành phần của mặt cắt gồm:
- Dưới là đá phiến sét, bột kết chứa vôi màu xám xanh, vàng nhạt.
- Trên là đá vôi xen kẽ với các đá phiến sét vôi màu xám, chúng chuyển tiếp lên
đá vôi phân lớp dày của hệ tầng Đồng Giao.
Chiều dày hệ tầng 410m.

HỆ TRIAS THỐNG TRUNG BẬC ANISI
1.8. Hệ tầng Đồng Giao (T
2
adg).
Các đá vôi, vôi sét thuộc hệ tầng Đồng Giao được Jmoniida A.I., Phạm Văn
Quang mô tả (1965). Trong vùng nghiên cứu hệ tầng Đồng Giao phân bố trên một diện

1
ivn) và tiếp xúc kiến tạo với hệ tầng Nậm Mu ở trên. Hệ tầng bị xuyên cắt bởi các
thể xâm nhập nhỏ phức hệ Pu Sam Cap.
Chiều dày của hệ tầng 400-450m.

HỆ TRIAS THỐNG THƯỢNG BẬC CARNI
1.10. Hệ tầng Nậm Mu (T
3
c
nm
)
Hệ tầng Nậm Mu được Dovjikov A.E., Bùi Phú Mỹ phân chia (1965). Trên diện
tích vùng nghiên cứu hệ tầng Nậm Mu phân bố thành hai dải ở Tây Bắc và Đông Nam
vùng nghiên cứu. Dải thứ nhất phân bố ở phía Đông Bắc thị trấn Phong Thổ (mới), dải
thứ hai nằm ở Đông Nam mỏ Đông Pao.
Thành phần gồm: đá phiến sét màu đen xen các lớp mỏng bột kết và cát kết hạt
nhỏ màu xám có ch
ứa các dạng Pelecpoda phổ biến ở Carni.
Chiều dày quan sát được 600-700m.
Hệ tầng Nậm Mu tiếp xúc kiến tạo với hệ tầng Mường Trai, hệ tầng Suối Bàng và
bị xuyên cắt bởi các thể magma phức hệ Pu Sam Cap, phức hệ Nậm Xe - Tam Đường.

HỆ TRIAS THỐNG THƯỢNG BẬC NORI-RET
1.11. Hệ tầng Suối Bàng (T
3
n-rsb)
Do Dovjikov A.E. và n.n.k xác lập (1965). Các trầm tích chứa than hệ tầng Suối
Bàng phân bố ở phía Tây Bắc và Đông Nam vùng nghiên cứu. Thành 2 dải kéo dài
theo phương Tây Bắc - Đông Nam. Dải Tây Bắc thuộc phía Đông Bắc - Tây Nam bản
Huồi Luông. Dải Đông Nam kéo dài từ bản Chiềng Là đến bản Nậm Đích.

- Tập 3: cuội dăm vôi, cuội kết vôi hoặc cuội tảng kết vôi, thành phần chủ yếu là đá
vôi của hệ tầng Đồng Giao, một phần là cát kết dạng quarzit, xen trong cuội kết,
thỉnh thoảng gặp cát kết, sạn kết hạt thô màu đỏ nhạt, dày 400m.
Chiều dày của hệ tầng khoảng 1.280m.

HỆ PALEOGEN
1.13. Hệ tầng Pu Tra (E
pt
)
Hệ tầng Pu Tra được Tr
ần Đức Lương và Nguyễn Xuân Bao xác lập (1989), trên
cơ sở quan sát mô tả của Bùi Phú Mỹ (1971). Các đá của hệ tầng lộ ra ở Đông Nam
vùng nghiên cứu thành 2 khối, thuộc khu vực bản Sin Câu, một khối nhỏ lộ ra ở bản
Thẳm.
Thành phần thạch học của hệ tầng gồm chủ yếu là tuf dăm, tuf, cát sạn kết và tuf
đá tảng có thành phần là đá phun trào trachyt màu nâu gụ, màu đỏ và trachyt porphyr
với chi
ều dày khoảng 350m.

GIỚI KAINOZOI
HỆ ĐỆ TỨ
Các thành tạo trầm tích Đệ tứ phân bố hạn chế dọc theo các thung lũng dưới dạng
các bãi bồi, bậc thềm, trũng giữa núi gồm có:
Trầm tích pleistoxen
1.14. Trầm tích Pleistoxen trung (aQ
1
2
)
Trầm tích Pleistocen trung (aQ
1

+ Trên là cát s
ạn, sét màu xám vàng.
Chiều dày 6-8m.
1.17. Trầm tích Holocen thương (a,apQ
2
3
).
Trầm tích Holocen thương (a,apQ
2
3
), có nguồn gốc sông, sông lũ, phân bố thành
các bãi bồi, thềm thấp và phát triển nơi đoạn thung lũng mở rộng, cát bồi trũng lòng
chảo karst chiều dày khoảng 500m và dài tới 2-3km. Như ở thung lũng bản Vàng Bâu
- bản Hồng Ngài, Bản Giang và dọc suối Nậm So. Thành phần trầm tích gồm: cuôi,
tảng, sạn, cát, bột, sét màu xám vàng, chiều dày từ 1-5m.
II. MAGMA
Theo kết quả khảo sát nghiên cứu của các nhóm tờ bản đồ 1/50.000 (nhóm tờ Lào
Cai và Phong Thổ) đã xác định được sự có mặt của 8 phức hệ magma có tuổi từ
Paleozoi giữa đến Kainozoi. Ngoài ra còn tồn tại một số thành tạo magma xâm nhập ở
dạng đai, mạch chưa xác định được thời gian thành tạo.
Thành tạo xâm nhập Paleozoi giữa.
2.1. Phức hệ Mường Hum (aG/PZ
2
mh).
Các thành tạo thuộc phức hệ phân bố thành một khối nhỏ ở ngọn suối Nậm Che
phía Đông Nam vùng nghiên cứu với diện tích khoảng 8km
2
(khối Chu Va). Thành
phần chủ yếu là: granit kiềm, ít hơn là granosyenit kiềm, syenit kiềm và syenitdiorit.
Thành tạo xâm nhập Creta

ủa ryolit.
2. Tướng phun trào: chiếm khoảng 70% diện tích và phân bố ở phía Tây Bắc của
dải đá, bao gồm các đá ryolit porphyr và ryodacit porphyr với lượng ban tinh trong đá
chiếm 3-14%.
3. Tướng á núi lửa: chiếm khoảng 28% diện tích và phân bố ở phía Đông Nam
của dải, bao gồm các đá ryolit porphyr và porphyr thạch anh với lượng ban tinh trong
đá 18-37%. Các thành tạo này phần lớn tạo nên các thể lấp đầy khe nứt và trồi lên trên
mặt dưới dạng các vòm nghiêng và nằ
m dọc theo đứt gãy. Trong các đá này có chứa
các nguyên tố phóng xạ như K, U, Th.
Thành tạo xâm nhập Trias
2.3. Phức hệ Phu Sa Phìn (G
p
-Sy
p
/K
pp
).
Phức hệ Phu Sa Phìn được Izokh E.P (1965) phân chia bao gồm các đá xâm nhập
á núi lửa, các đá thuộc phức hệ núi lửa phân bố trong vùng nghiên cứu thuộc phần Tây
Bắc của khối Nậm Khê - Đông Tam Đường với diện tích khoảng 110km
2
. Phía Tây
Nam khối vẽ giả định xuyên cắt các thành tạo núi lửa phức hệ Ngòi Thia (R
p
/Knt).
Phía Đông Bắc khối có quan hệ kiến tạo với granitoid phức hệ Ye Yen Sun (G/Eys).
Trong granit phức hệ Ye Yen Sun còn chứa thể tù syenit porphyr phức hệ Phu Sa Phìn.
Bên trong có nhiều khối nhỏ và các thân dạng tường syenit kiềm, granosyenit kiềm
của phức hệ Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Ent), granitbiotit hạt nhỏ, đá mạch granit

Phía Tây Nam phức hệ có quan hệ xuyên cắt với hệ tầng Suối Chiềng (PRsc),
phức hệ Mường Hum, phức hệ Phu Sa Phìn và quan hệ kiến tạo với hệ tầng Na Vang,
hệ tầng Si Phay, hệ tầng Viên Nam, phức hệ Nậm Xe - Tam Đường. Phía Đông Bắc

23
phức hệ có quan hệ xuyên cắt với hệ tầng Suối Chiềng, hệ tầng Bản Páp, phức hệ
Mường Hum. Trong khối Ye Yen Sun còn gặp các thể syenit kiềm, granit kiềm của
phức hệ Nậm Xe - Tam Đường.
Nhìn tổng thể trong khối nhận thấy ở trung tâm khối đá thường kết tinh hạt vừa,
còn rìa khối đá kết tinh hạt nhỏ. Các đá mạch granit aplit, granit hạt nhỏ sáng màu
dạng aplit, pegmatit vag granit pegmatit xuyên cắ
t các đá trong khối và hầu hết các
thành tạo vây quanh.
Phức hệ Ye Yen Sun được hình thành bởi 2 pha xâm nhập:
- Pha 1: granit biotit, granit biotit - amphibol và các đá lai tính granodiorit,
granosyenit, syenit.
- Pha 2: các đá mạch granit aplit, granit hạt nhỏ sáng màu dạng aplit, pegmatit và
granit pegmatit.
2.6. Phức hệ Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Ent).
Phức hệ Nậm Xe - Tam Đường do Izokh.E.P phân chia (1965). Các thân xâm
nhập của phức hệ này thường có kích thước nhỏ hơn 2km
2
, phân bố chủ yếu ở nửa
Đông Nam vùng nghiên cứu (gồm 10 khối nhỏ với diện tích 10,5km
2
). Chúng thường
có dạng khối nhỏ hoặc đai mạch xuyên cắt các đá granitoid phức hệ Ye Yen Sun, phức
hệ Phu Sa Phìn hoặc các trầm tích lục nguyên, lục nguyên - carbonat, carbonat của các
hệ tầng: Đồng Giao (T
2

shonkinit, syenit aplit đến bostonit. Chúng xuyên cắt các đá granitoid của phức hệ Ye
Yen Sun, syenitoid pha 1 của phức hệ Pu Sam Cáp, phun trào của hệ tầng Pu Tra và
các phân vị địa tầng tu
ổi Mesozoi từ Trias đến Kreta có mặt trong vùng.
Phức hệ Pu Sam Cáp được hình thành bởi 2 pha xâm nhập:
- Pha 1 gồm 2 tướng:
+Tướng ven rìa: syenit porphyr và granosyenit porphyr.
+ Tướng trung tâm: syenit hạt nhỏ đến hạt vừa và syenit thạch anh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status