nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - đặc trưng trường phóng xạ và ô nhiễm các nguyên tố phóng xạ và nguyên - Pdf 13



BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN


BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

"ĐẶC TRƯNG TRƯỜNG PHÓNG XẠ VÀ Ô NHIỄM CÁC
NGUYÊN TỐ PHÓNG XẠ VÙNG PHONG THỔ - LAI
CHÂU"

Thuộc đề tài
: “Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ
tại ba huyện Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam),
Hàm Tân (Bình Thuận) và đề xuất giải pháp phòng ngừa



: “
Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ
tại ba huyện Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam),
Hàm Tân (Bình Thuận) và đề xuất giải pháp phòng ngừa”
LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN CHỦ NHIỆM CHUYÊN ĐỀ
LIÊN ĐOÀN TRƯỞNG TS. ĐÀO MẠNH TIẾN TS.VŨ TRƯỜNG SƠN

HÀ NỘI, 2006

-2-CHƯƠNG I
CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN, XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG
PHÓNG XẠ VÙNG NGHIÊN CỨU
I.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN:
I.1.1. Vị trí địa lý
:

Mường Hum F-48-28-C (5754 III)
4 D
103°32’27” 22°24’03”
Bản Ko La F-48-40-A (5753 IV)
5 E
103°44’46” 22°24’03”
Bản Ko La F-48-40-A (5753 IV)
6 G
103°44’46” 22°16’22”
Bản Ko La F-48-40-A (5753 IV)
7 H
103
°
30’39” 22
°
16’22”
Bản Ko La F-48-40-A (5753 IV)
I.1.2. Địa hình
Vùng nghiên cứu nằm trên khu vực chuyển tiếp của 2 đới kiến tạo (đới nâng Fan
Si Pan và đới sụt lún sông Đà). Vùng có độ cao tuyệt đối từ 300 – 2500m, đa phần có
độ dốc lớn trên 50
0
đây là vùng núi cao hiểm trở nhất Việt Nam. Vùng núi khu vực
nghiên cứu bị phân cắt rất mạnh, các đường phân thuỷ hẹp, hiện tượng sạt lở xảy ra
nhiều. Nhìn chung ở các miền núi cao độ phân cắt địa hình rất lớn từ 200-1000m. Địa
hình núi phân bố trên diện tích các đá magma phức hệ Ye Yen Sun, Nậm Xe, Tam
Đường, Pu Sam Cap… và thành tạo trầm tích biến chất cổ của hệ tầng Sinh Quyền…
Phần lớn các dãy núi kéo dài theo hướng Tây Bắ
c - Đông Nam gần trùng với
phương của các thành tạo địa chất, càng về phía Tây Bắc địa hình càng cao, về phía
-4-

Địa hình núi cao dưới 500m: Chiếm khoảng hơn 10% diện tích, sườn thoải, đất
phủ dày.
Địa hình cao nguyên và karst: Phân bố ở nhiều vị trí trong phạm vi vùng nghiên
cứu, tập trung chủ yếu ở các cao nguyên đá vôi Lang Nhị Thang, Tà Phìn, Sìn Hồ và
phía Tây Nam Phong Thổ.
Xen giữa các kiểu địa hình chính nói trên là các thung lũng có địa hình tương đối
bằng phẳng như Mường So, Tam Đường, Bình Lư, Đây là những khu vực tập chung
dân cư trong vùng nghiên cứu.
I.1.3. Khí hậu

Khu vực nghiên cứu có khí hậu đặc trưng của vùng núi cao, tuy nhiên vẫn mang
đặc tính chung của khí hậu gió mùa chí tuyến.
+ Chế độ bức xạ: Khí hậu Lai Châu có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa
đông tương đối lạnh và khô, mùa hè nóng và ẩm. Số giờ nắng trung bình cao nhất tại
Tam Đường (167 giờ), tháng nắng nhất là tháng 4, số giờ nắng trong tháng này tại Sìn
Hồ lên tới 256 giờ (số liệu thống kê năm 2003).
+ Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 2003 từ 13 – 27
0
C và
có xu hướng tăng dần. Nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm thường là các tháng 6, 7
và 8 (26,9
0
C) và tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng giêng (10,3
0
C).
Đặc biệt, vào những ngày mùa đông nhiệt độ có thể hạ xuống rất thấp tạo băng

hết các khu vực trong tỉnh Lai Châu.
+ Sương mù: Sương mù xuất hiện thường xuyên hàng năm. Nơi thường có nhiều
sương mù là những nơi có độ cao lớn như Sìn Hồ, ở nh
ững nơi độ cao thấp sương mù
-5-

ít hơn hẳn. Tại Tam Đường sương mù bình quân chỉ 13 ngày/năm. Sương mù thường
xảy ra trong các tháng thu – đông (tháng 10 đến tháng 3).
+ Mưa đá: Hiện tượng mưa đá thường xảy ra tại một số nơi ở Lai Châu. Mưa đá
thường xảy ra ở cuối mùa đông (thời kỳ chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa hè). Tỉnh
Lai Châu là một trong những tỉnh có nhiều ngày mưa đá so với các tỉnh B
ắc Bộ. Tần
suất xuất hiện mưa đá trung bình một năm tại Lai Châu khoảng 1,6 ngày/năm.
I.1.4. Đặc điểm thủy văn và mạng lưới sông suối

Tỉnh Lai Châu có hệ thống sông suối tương đối dày đặc, với 5,5
÷

6

km sông
suối/km
2
nhưng ít có những con sông lớn, chủ yếu là những sông nhỏ có độ dốc lớn,
về mùa khô thường thiếu nước. Chế độ thuỷ văn của khu vực chịu ảnh hưởng của các
con sông chính như: Sông Nậm Na, sông Nậm So và sông Nậm Mu. Sông Nậm So có
tổng diện tích là 150km
2
, là phụ lưu cấp 2 của sông Đà có diện tích lưu vực là 3.400
km

dễ gây lũ quét và sạt lở đất đá. Như các sông Nậm Na, Nậm Mu, Nậm So các suối
ngắn, dốc như Nậm Tần, Nậm Ban, Than Theo Ho Đặc biệt các sông suối chảy qua
các mỏ đất hiếm, ngoài tác dụng hoà tan chúng còn phá huỷ, xói mòn, rửa trôi phát tán
các nguyên tố phóng xạ gây ô nhiễm môi trường.
c. Ảnh hưở
ng của khí hậu tới môi trường phóng xạ:

Khí hậu vùng nghiên cứu là đặc trưng của vùng núi cao nhưng mang tính chất
gió mùa chí tuyến có cả mùa mưa và mùa khô kéo dài, nhiệt độ thăng giáng lớn từ 1 –
2
0
C đến trên 30
0
C nên các quá trình phong hoá, bóc mòn xảy ra mạnh mẽ. Mùa mưa
dòng chảy dốc gây ra các hiện tượng sạt lở, lũ quét thậm chí cả lụt lội rất thuận lợi cho
các quá trình hoà tan, phát tán các chất phóng xạ đi xa gây ô nhiễm môi trường. Đi lộ trình theo suối Nậm Xe đoạn chậy qua Bản Mấn

Lấy mẫu nước tại suối Nậm Xe chạy quanh điểm xạ Bản Màu

Thảm thực vật Thôn Tát Cạn – Bình Lư


i lao
động thấp hơn so với các địa phương khác trong cả nước.
I.2.2. Giao thông
:
Vùng nghiên cứu được nối với vùng khác của miền Bắc bởi các tuyến đường
chính sau:
Hệ thống đường ô tô:
Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai - Sa Pa – Tam Đường (500km)
Hà Nội – Tuần Giáo – Lai Châu – Tam Đường (600km)
Hệ thống đường sắt : Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai.
Hệ thống đường thuỷ: Sông Hồng đóng vai trò là tuyến giao thông nối liền khu
vực miền núi Tây Bắc với miền xuôi.
Ngoài các tuyến đường chính còn có các tuyến đường Phong Thổ-Dao San,
Phong Thổ-Thèn Sin-Tam Đường, Phong Thổ
-Mường So, dọc sông Nậm Na, Sìn
Hồ nhưng việc đi lại trong vùng nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn, đường
mòn chật hẹp, khá dốc, di chuyển chủ yếu bằng ngựa hoặc đi bộ. Về mùa mưa,
đường trơn, lầy lội rất khó khăn trong việc đi lại. Tuy nhiên từ các mỏ (Nậm Xe,
Đông Pao) tới thị trấn, thị xã trong vùng việc đi lại dễ dàng hơn do được n
ối
liền bởi đường đất, ô tô có thể đi lại được.
Đường thuỷ có con sông Nậm Na chạy dọc phía Tây, sông Nậm Ma chạy dọc
phía Đông vùng nghiên cứu
Còn nhiều xã chưa có đường ô tô xuống trung tâm xã. Sự xuống cấp của hệ thống
giao thông vận tải cùng với sự lạc hậu của mạng lưới thông tin bưu điện, bưu chính
viễn thông, hệ thống cấp điệ
n, cấp nước đang là những trở ngại lớn cho sự phát triển
kinh tế của vùng nghiên cứu. Tuy nhiên hiện nay một số tuyến đường giao thông quan
trọng đã được nâng cấp như Chiềng Chăn - Sìn Hồ; Lai Châu - Mường Tè - Bom Lót -
Suối Lư

Huyện Tam Đường 15 1 828,45 55986 67,58
Huyện Phong Thổ 15 0 819,13 48087 58,70
Huyện Mường Tè 15 1 3678,83 42496 11,55
Huyện Sìn Hồ 24 1 2033,07 67687 33,29
Huyện Than Uyên 17 2 1699,95 87600 51,53
b. Tình hình phát triển kinh tế xã hội
∗ Tình hình tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong những năm qua
Nông – Lâm nghiệp
:
- Sản xuất lương thực: Trong 2 năm vừa qua, tuy diện tích trồng cây lương thực
tăng không nhiều nhưng sản lượng lại tăng đáng kể (11618 tấn so với năm 2002)
chứng tỏ ngành nông nghiệp của tỉnh đã có những kết quả đáng khích lệ.
Sản lượng và diện tích cây lương thực có hạt phân theo huyện, thị, thành phố.
Sản lượng (tấn) Diện tích (ha)
Năm
2002 2003 2002 2003
Tổng số 77600 89218 36673 36715
1. Huyện Tam Đường 16392 18811 6104 6733
2. Huyện Phong Thổ 10816 12156 5168 5440
3. Huyện Mường Tè 9330 10143 5129 5351
4. Huyện Sìn Hồ 13721 15430 10334 8743
5. Huyện Than Uyên 27341 32678 9938 10448
- Cây công nghiệp và cây ăn quả: Nghành nông nghiệp của tỉnh bước đầu đã
hình thành những vùng chuyên canh trồng cây công nghiệp và cây ăn quả. Trong 02
năm gần đây, mía là cây cho sản lượng cao nhất, chiếm 86,5% tổng sản lượng cây
công nghiệp hàng năm 2002 và gần 84% năm 2003.
Sản lượng (tấn) Diện tích (ha)
Năm
2002 2003 2002 2003
Tổng số 13724 14676 2362 3301

Bò 6400 6889 9451 9865
Lợn 108807 120927 129827 136126
Ngựa 9962 10074 9734 9479
Dê 16049 16620 17038 16089
Gia cầm 474668 520451 554710 575588
Chỉ số phát triển (năm trước = 100%)
Trong đó : Trâu 105,99 105,65 106,20 104,18
Bò 108,27 107,64 137,19 104,38
Lợn 112,54 111,14 107,36 104,88
Ngựa 101,14 101,12 96,62 97,38
Dê 103,70 103,56 102,52 94,43
Gia cầm 101,68 109,65 106,58 103,76
- Lâm nghiệp: Tổng diện tích đất có rừng chiếm khoảng 38,5% diện tích đất lâm
nghiệp trong toàn tỉnh. Những năm gần đây, được sự quan tâm của tỉnh và chính sách
giao đất khoán rừng của Nhà nước nên diện tích rừng trồng tăng đáng kể.
Diện tích rừng và đất lâm nghiệp tỉnh Lai Châu
Loại đất, loại rừng
Diện tích năm 2003 (ha)
I. Đất có rừng
:
302.559,2
A. Rừng tự nhiên: 289.465,1
1. Rừng gỗ 234.651,8
-11-

2. Rừng tre nứa 26.068,7
3. Rừng hỗn giao 21.795,1
4. Rừng núi đá 6.949,3
B. Rừng trồng: 13.094,1
1. Rừng trồng có trữ lượng 2.437,6

3 Trung học cơ sở 377 495
4 Trung học phổ thông 68 95
III Số giáo viên 3053 3695
1 Mẫu giáo 305 403
2 Tiểu học 1918 2432
3 Trung học cơ sở 694 707
4 Trung học phổ thông 136 153
IV Số học sinh 58176 66853
-12-

1 Mẫu giáo 5328 6738
2 Tiểu học 38637 41344
3 Trung học cơ sở 11703 15337
4 Trung học phổ thông 2472 3416
Việc thực hiện chương trình xoá mù chữ và phổ cập giáo dục, tỉnh Lai Châu cũng
đạt được những kết quả đáng khích lệ góp phần nâng cao trình độ dân trí của tỉnh.
- Y tế: Sau khi tách tỉnh, ngành y tế của tỉnh gặp nhiều khó khăn đặc biệt trong
việc nâng cấp bệnh viện huyện Tam Đường lên thành bệnh viện cấp tỉnh. Tuy nhiên,
ngành y tế không ngừng cố gắng trong những năm qua để nâng cao hi
ệu quả chăm sóc
sức khoẻ và đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân.
Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế tỉnh Lai Châu năm 2003
Tổng số 2002 2003
1. Số cơ sở y tế: 94 101
- Bệnh viện 5 5
- Phòng khám đa khoa, khu vực 7 10
- Trạm y tế xã, phường 82 86
2. Số giường bệnh: 618 670
- Bệnh viện 230 280
- Phòng khám đa khoa 75 110

dân địa phương và một số người ở nơi khác đến tiến hành đào bới, khai thác vàng gây
ô nhiễm nước, phá vỡ hệ sinh thái môi trường và sản xuất nông nghiệp tại vùng này.
Hiện nay chính quyền địa phương đã ngăn chặn được hoạt động khai thác vàng tự do
này.
Hoạt động khai thác khoáng sản (quặng fluorit, đất hiếm, vàng ) trong vùng
thiếu quy hoạch đã làm thay đổi môi trường sinh thái và cân bằng tự nhiên: rừng đầu
nguồn b
ị tàn phá, đất đai bị xói mòn, hàng năm gây ra lũ ở vùng hạ nguồn của các
dòng sông, đặc biệt ô nhiễm phóng xạ ảnh hưởng tới sức khỏe người dân trong vùng.
I.2.4. Ảnh hưởng của hoạt động kinh tế - xã hội tới môi trường phóng xạ
:
Trong vùng nghiên cứu đã có nhiều đơn vị khai thác quặng fluorit và đất hiếm ở
khu vực mỏ Nậm Xe và Đông Pao. Do khai thác lộ thiên cộng với quá trình vận
chuyển quặng là điều kiện cho các nguyên tố phóng xạ phát tán xa nơi khai thác.
Ảnh hưởng của hoạt động kinh tế trong nông lâm nghiệp tới môi trường phóng
xạ, đáng chú ý là hoạt động sản suất nông lâm nghiệp nhỏ lẻ của đồng bào dân tộc
thiểu s
ố trên các sườn đồi núi tại các vùng có mỏ phóng xạ hoặc chứa các chất phóng
xạ như : Làm công trình thuỷ lợi nhỏ để sản xuất nông nghiệp, trồng cây lương thực,
cây công nghiệp, cây lấy gỗ Trên các vùng có dị thường phóng xạ hoặc thân quặng
phóng xạ. Các hoạt động này đã vô tình gây rửa trôi, đào xới phát tán các chất phóng
xạ đi xa. Còn các hoạt động trồng trọt cây lương thực như lúa, ngô ở những vùng
thấp của địa hình, thung lũng không gây ảnh hưởng ô nhiễm phóng xạ nhưng lại chịu
tác động của ô nhiễm chất phóng xạ vào các sản phẩm lương thực, thực phẩm và ảnh
hưởng tới con người.
I.3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT - KHOÁNG SẢN VÙNG NGHIÊN CỨU
I.3.1. Đặc điểm địa tầng

Trên diện tích vùng nghiên cứu phân bố rộng rãi các thành tạo trầm tích phun
trào với thành phần đa dạng được hình thành từ Proterozoi đến Kainozoi. Chúng bao

-14-

- Phần dưới gồm plagiogneis, amphibol-biotit; amphibolit, đá phiến thạch anh
felspat mica, các đá bị ép, phân phiến, cấu tạo dải và dạng gneis, đôi chỗ có magmatit.
Các đá thuộc phần dưới của hệ tầng thường cắm về phía Tây Nam. Chiều dày của
phần dưới đạt tới 150m.
- Phần giữa: là các đá gneis biotit, plagiogneis hai mica, đá phiến thạch anh
felspat mica, xen các lớp mỏng amphibolit biotit. Nhìn chung đá có màu xám, xám
sáng, cấu tạo dải, dạng gneis, chúng cắm về phía Tây Nam, dố
c 50
0
-70
0
, chiều dày đạt
450m.
- Phần trên phân bố rải rác dọc theo bờ phải suối Nậm Xe và ở phía Đông Nam
bản Nậm Xe gồm đá phiến mica, đá phiến sericit, đá vôi bị hoa hóa màu rất trắng,
phân lớp dày, các lớp quarzit biotit màu xám nâu phân lớp mỏng từ một vài mm đến 5-
10cm, ở phía Đông Nam Nậm Xe các lớp quarzit bị uốn nếp rất đẹp, chiều dày của
phần trên tới 350m.
Tổng chiều dày của hệ
tầng là 950m.
GIỚI PALEOZOI
HỆ DEVON
HỆ DEVON THỐNG HẠ - TRUNG
♦ Hệ tầng Bản Páp (D
1-2
bp
).
Hệ tầng Bản Páp do Nguyễn Xuân Bao và n.n.k xác lập (1969). Các thành tạo

- Đá phiến sét vôi, sét vôi và thấu kính đá vôi.
- Đá phiến sét màu đen xen bột kết.
Chiều dày tập 1 đạt tới 490m.
+ Tập 2: - Đá phiến sét silic màu đen.
- Đá phiến sét màu đen, xen ít bột kết màu xám đen.
-15-

- Đá phiến sét silic phân lớp mỏng cấu tạo dải màu nâu, nâu sẫm. Các tập đá này
chuyển tiếp lên hệ tầng Na Vang.
Chiều dày tập 2 đạt tới 220m.
Như vậy chiều dày của hệ tầng Si Phay dày 710m.
Trong hệ tầng này có rất nhiều các đai mạch nằm rải rác thuộc phức hệ Phong
Thổ có liên quan đến khoáng sản đất hiếm (mỏ đất hiếm Nậm Xe).

♦ Hệ tầng Na Vang. (P
2
nv
)
Bùi Phú Mỹ (1978) xác lập trên cơ sở đối sánh phần mặt cắt và cấu trúc liền dải
với vùng kề cận.
Diện tích lộ của hệ tầng Na Vang ở Đông Nam bản Ngòi Chồ, bản Thầu ở phía
Bắc vùng nghiên cứu. Thành phần chủ yếu gồm đá vôi hạt nhỏ màu xám đen, xám
sáng. Đá vôi hạt mịn màu xám sáng phân lớp dày, dạng khối, đôi chỗ bị hoa hoá và
đolomit hoá, chúng nằm chuy
ển tiếp trên đá phiến sét silic của hệ tầng Si Phay và bị
phủ bởi các đá phun trào mafic tuổi Trias sớm.
Chiều dày tầng 120m.
GIỚI MEZOZOI
HỆ TRIAS
HỆ TRIAS THỐNG HẠ BẬC INDI

- Trên là đá vôi xen kẽ với các đá phiến sét vôi màu xám, chúng chuyển tiếp lên
đá vôi phân lớp dày của hệ tầng Đồng Giao.
Chiều dày hệ tầng 410m.
-16-

HỆ TRIAS THỐNG TRUNG BẬC ANISI
♦ Hệ tầng Đồng Giao (T
2
adg)
Các đá vôi, vôi sét thuộc hệ tầng Đồng Giao được Jmoniida A.I., Phạm Văn
Quang mô tả (1965). Trong vùng nghiên cứu hệ tầng Đồng Giao phân bố trên một diện
rất rộng (khoảng 350km
2
) ở trung tâm vùng nghiên cứu, các thành tạo này hình thành
một dải kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam phủ trên toàn bộ diện tích của cao
nguyên Lang Nhị Thang.
Thành phần mặt cắt đặc trưng của hệ tầng là các đá carbonat gồm 2 tập:
- Tập 1: đá vôi, đá sét vôi phân lớp mỏng, đôi chỗ là đá phiến carbonat, sericit và
đá vôi sét có màu xám đến xám đen, hạt mịn có chứa silic.
- Tập 2: đá vôi phân lớp dày đến dạng khối, màu xám đến xám sáng ít nhiều bị

đolomit hóa ở mức độ khác nhau.
Tổng chiều dày của hệ tầng ở đây đạt 850m.
HỆ TRIAS THỐNG TRUNG BẬC LADIN
♦ Hệ tầng Mường Trai (T
2
lmt)
Hệ tầng Mường Trai do Trần Đăng Tuyết xác lập (1977). Hệ tầng phân bố ở
phía Đông Nam vùng nghiên cứu có dạng dải hẹp, kéo dài theo phương Tây Bắc-
Đông Nam với chiều rộng khoảng 1km từ bản suối Thầu, Sữ Thàng, Thèn Thẩu

♦ Hệ tầng Suối Bàng (T
3
n-rsb)
Do Dovjikov A.E. và n.n.k xác lập (1965). Các trầm tích chứa than hệ tầng Suối
Bàng phân bố ở phía Tây Bắc và Đông Nam vùng. Thành 2 dải kéo dài theo phương
-17-

Tây Bắc - Đông Nam. Dải Tây Bắc thuộc phía Đông Bắc - Tây Nam bản Huổi
Luông. Dải Đông Nam kéo dài từ bản Chiềng Là đến bản Nậm Đích.
Mặt cắt của hệ tầng gồm hai tập:
- Tập 1: đá phiến sét xen các lớp mỏng bột kết. Chiều dày quan sát được 260m.
- Tập 2: được phân biệt với tập 1 do có sự gia tăng của cát kết trong thành phần
mặt cắt. Bao gồm: cát kế
t xen kẽ cát bột kết và đá phiến sét than màu xám đen.
Chiều dày tập 2 là 300m.
Hệ tầng Suối Bàng có quan hệ kiến tạo với các hệ tầng Nậm Mu, hệ tầng Mường
Trai, hệ tầng Đồng Giao và bị các thể xâm nhập phức hệ Nậm Xe- Tam Đường, đá
mạch minet phức hệ Pu Sam Cap xuyên cắt
Chiều dày của hệ tầng là 560m.
HỆ CRETA THỐNG THƯỢNG
♦ Hệ tầng Yên Châu (K
2
yc)
Hệ tầng Yên Châu do Nguyễn Xuân Bao và Từ Lê xác lập năm 1964. Hệ tầng
phân bố ở phía Tây vùng nghiên cứu thành một dải rộng kéo dài theo phương Tây Bắc
- Đông Nam. Ranh giới phía Đông Bắc của hệ tầng giáp với hệ tầng Đồng Giao. Hệ
tầng được chia thành 3 tập. Thành phần thạch học gồm:
- Tập 1: cuội kết, sỏi kết đa khoáng, phân lớp dày đến dạng khối, thành phần chủ
yếu là thạch anh, xen ít là cát kết dạng quarzit và phiến silic, chuyển lên trên là sạn kết,
cát kết thạch anh màu xám vàng, chứa cuội hoặc những ổ hay thấu kính cuội kết đa

-18-

Trầm tích Pleistocen trung (aQ
1
2
), có nguồn gốc sông phân bố trong thung lũng
khá rộng ở vùng bản Mương Mới huyện Tam Đường. Thành phần trầm tích từ dưới
lên trên gồm: cuội, sỏi, cát, tảng, ít cát bột. Thành phần đa khoáng, chiều dày 2-3m.
♦ Trầm tích Pleistocen thượng (aQ
1
3
)
Trầm tích Pleistocen thượng (aQ
1
3
), có nguồn gốc sông phân bố trong thung lũng
tương đối rộng ở vùng bản Mường Mới huyện Tam Đường, Vàng Bâu huyện Phong
Thổ, thành phần trầm tích gồm: cuội, cát, tảng. Thành phần đa khoáng, chiều dày 1-
2m.
Trầm tích Holocen


Trầm tích Holocen, Hạ-Trung (aQ
2
1-2
)
Trầm tích Holocen, Hạ - Trung (aQ
2
1-2
), có nguồn gốc sông, phân bố thành các

mh)
Các thành tạo thuộc phức hệ phân bố thành một khối nhỏ ở ngọn Suối Nậm Che
phía Đông Nam vùng nghiên cứu với diện tích khoảng 8km
2
(khối Chu Va). Thành
phần chủ yếu là: granit kiềm, ít hơn là granosyenit kiềm, syenit kiềm và syenitodiorit.
Thành tạo xâm nhập Kreta.
♦ Phức hệ núi lửa Ngòi Thia (R
p
/Knt)
Phức hệ do Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Cự Tiến xác lập (1977) và được đề cập
đến trong nhiều công trình của các tác giả khác (Đào Đình Thục 1980, )
Phức hệ được xác định bởi các đá thuộc tướng á núi lửa, chủ yếu là ryolit,
porphyr.
Phức hệ núi lửa Ngòi Thia phân bố ở phía Đông Nam vùng nghiên cứu thành dải
không liên tục, kéo dài khoảng 20 km từ Bắc Bình Lư đến Thân Thuộc theo phương
Tây Bắc -
Đông Nam với diện tích khoảng 18 km
2
. Phía Tây Nam phức hệ có quan hệ
-19-

kiến tạo với hệ tầng Mường Trai (T
2
lmt) bởi đứt gãy chính Bình Lư - Thân Thuộc.
Phía Đông Bắc phức hệ có quan hệ không rõ ràng với granitoid á núi lửa của phức hệ
Phu Sa Phìn (G
P
- Sy
P

p
/Kpp)
Phức hệ Phu Sa Phìn được Izokh E.P. (1965) phân chia bao gồm các đá xâm
nhập đá núi lửa, các đá thuộc phức hệ núi lửa phân bố trong vùng nghiên cứu thuộc
phần Tây Bắc của khối Nậm Khế - Đông Tam Đường với diện tích khoảng 110 km
2
.
Phía Tây Nam khối được vẽ giả định xuyên cắt các thành tạo núi lửa phức hệ Ngòi
Thia (R
P
/Knt). Phía Đông Bắc khối có quan hệ kiến tạo với granitoid phức hệ
Ye Yen Sun (G/Eys). Trong granit phức hệ Ye Yen Sun còn có chứa thể tù syenit
porphyr phức hệ Phu Sa Phìn. Bên trong khối có nhiều khối nhỏ và các thân dạng
tường syenit kiềm, granosyenit kiềm của phức hệ Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Ent),
granit biotit hạt nhỏ, đá mạch granit aplit của phức hệ Ye Yen Sun. Ngoài ra xung
quanh khối còn có quan hệ kiến tạo với phức hệ Mường Hum (aG/PZ
2
mh), hệ tầng
Suối Chiềng (PRsc), hệ tầng Viên Nam (T
1
vn), hệ tầng Mường Trai (T
2
lmt).
Thành phần thạch học của khối gồm: syenit porphyr, granosyenit porphyr, syenit
porphyr thạch anh, granit dạng porphyr, granit granophyr, granit felspat kiềm. Một
phần các đá của phức hệ kết tinh tương đối đều hạt, không có kiến trúc porphyr. Quan
hệ giữa các đá trong khối mang tính phân dị, chuyển tiếp từ syenit qua các đá trung
gian là syenit thạch anh và granosyenit đến granit felspat kiềm.
Thành tạo xâm nhập Paleogen
♦ Phức hệ Ye Yen Sun (G/Eys)

mh). Trong khối Ye Yen Sun còn gặp các thể syenit kiềm, granit kiềm
phức hệ Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Ent).
Nhìn tổng thể trong khối nhận thấy ở trung tâm khối đá thường kết tinh hạt vừa,
còn rìa khối đá kết tinh hạt nhỏ. Các đá mạch granit aplit, granit hạt nhỏ sáng màu
dạng aplit, pegmatit và granit pegmatit xuyên cắt các đá trong khối và hầu hết các
thành tạo vây quanh.
Phức hệ Ye Yen Sun được hình thành bởi hai pha xâm nhập:
- Pha1: granit biotit, granit biotit-amphibol và các đá lai tính granodiorit,
granosyenit, syenit.
- Pha 2: các đá m
ạch granit aplit, granit hạt nhỏ sáng màu dạng aplit, pegmatit và
granit pegmatit.
♦ Phức hệ Nậm Xe-Tam Đường (aG-aSy/Ent).
Phức hệ Nậm Xe - Tam Đường do Izokh E.P. phân chia (1965). Các thân xâm
nhập của phức hệ Nậm Xe - Tam Đường thường có kích thước nhỏ hơn 2 km
2
phân bố
chủ yếu ở nửa Đông Nam của vùng nghiên cứu (gồm 10 khối nhỏ với diện tích 10,5
km
2
). Chúng thường có dạng khối nhỏ hoặc đai mạch xuyên cắt các đá granitoid phức
hệ Ye Yen Sun (G/Eys), phức hệ Phu Sa Phìn (G
P
- Sy
P
/Kpp) hoặc các trầm tích lục
nguyên, lục nguyên-carbonat, carbonat của các hệ tầng: Đồng Giao (T
2
ađg), Mường
Trai (T

n-r sb). Các đá syenittoid
của phức hệ Pu Sam Cap luôn luôn gần gũi về không gian với phun trào trachyt và tuf
của chúng.
Hệ thống các đá mạch của phức hệ phân bố chủ yếu ở khu vực phía Tây Bắc,
vùng nghiên cứu, thành phần của chúng rất phong phú và đa dạng bao gồm từ minet,
shonkinit, syenit aplit đến bostonit. Chúng xuyên cắt các đá granitoid của phức hệ
Ye Yen Sun, syenitoid pha 1 của phức hệ Pu Sam Cap, phun trào của hệ tầng Pu Tra
và các phân vị địa tầng tuổ
i Mesozoi từ Trias đến Creta có mặt trong vùng.
-21-

Phức hệ Pu Sam Cap được hình thành bởi hai pha xâm nhập:
- Pha 1 gồm 2 tướng:
+ Tướng ven rìa: syenit porphyr và granosyenit porphyr.
+ Tướng trung tâm: syenit hạt nhỏ đến hạt vừa và syenit thạch anh.
- Pha 2: các đá mạch minet, shonkinit, syenit aplit và bostonit.
Các thành tạo quặng đất hiếm phóng xạ có quan hệ mật thiết với phức hệ Pu Sam
Cap, toàn bộ hệ thống mỏ Đông Pao nằm trên khối Bản Thẳm.
♦ Phức hệ Phong Thổ (aSy/Ept)

Phức hệ Phong Thổ được Bùi Minh Tâm và Tô Văn Thụ xác lập khi đo vẽ và
thành lập nhóm tờ bản đồ Phong Thổ bao gồm các đai mạch minet, shonkinit, cocit
Các mạch cacbonatit, đai cơ và xâm nhập dạng họng nhỏ có thành phần từ mafic –
trung tính kiềm kali có thể tương ứng với kiểu lamproid thấp titan, cao nhôm kiểu Địa
Trung Hải. Phân bố rải rác trong hệ tầng Viên Nam, Si Phay và dọc theo suối Nậm So.
Chúng được phân chia thành hai nhóm chính:
- Nhóm lamproid : các đá mafic, trung tính cao magie và kali.
- Nhóm cacbonatit.
♦ Thành tạo xâm nhập chưa rõ tuổi:
Ngoài những phức hệ nêu trên và những đai mạch đã xác định được tuổi, còn một

Mường Hum
(aGPZ
2
mh)
1

103
0
42' 10''
22
0
21' 27''

8
Granit kiềm, granosyenit kiềm
và syenitodiorit
Granit biotit granosyenit, syenit,
granit, felspat, kiềm syenit pocphyr,
granosyenit pocphyr, đá phiến biotit-
epidot-sphen, amphibolit-epidot

2
Ngòi Thia
(R
p
/Knt)
1
103
0
41' 5''

Đá bazan, bazan olevin, tuf, syenit
kiềm, granosyenit kiềm, granit biotit,
syenit, granit kiềm syenitodiorit.

4 Ye Yen Sun
(G/Eyc)

1 103
0
29' 56''
22
0
32' 10''
130 Granit biotit, granit biotit-
amphibol và các đá lai tính
granodiorit, granosyenit, syenit,
các đá mạch granit aplit, granit
hạt nhỏ sáng màu dạng aplit,

25' 14'' 2,2
Bazan, bazan olevin, tuf, đá granit,
felspat, syenit pocphyr, granosyenit
pocphyr.
1 103
0
33' 15'' - 22
0
26' 26'' 1,2
1 103
0
34' 43'' - 22
0
25' 21'' 1,5
Đá granit, felspat, kiềm, syenit pocphyr,
granosyenit pocphyr, granit biotit,
granosyenit, syenit.
1 103
0
35' 42'' - 22
0
20' 30'' 0,9 Đá phiến sét, bột kết, cát kết
5
Nậm Xe-

Pu Sam Cap
(aSy
p
/Epc)
1 103
0
31' 39'' - 22
0
21' 41'' 0,3
Syenit porphyr và
granosyenit porphyr,
syenit, syenit thạch anh,
minet, shonkinit, syenit
aplit và bostonit.
Đá vôi, đá vôi sét, đá vôi silic, đá vôi bị
đolomit hoá, cuội kết, sỏi kết đá khoáng
7
Ba Vì
(Gb/T
1
bv)
6 Dạng khối nhỏ 0,3 Gaborodiabas, gabro Bazan hạnh nhân, bazan olivin,
8
Phong Thổ
(aSy/Ept)
Dạng đai mạch
Các đá mafic, trung tính
cao magie và kali
Đá phiến silic, bột kết, cát kết và đá
phiến sét, cát kết đa khoáng, đá phiến

: đới này phân bố ở Bắc- Đông Bắc vùng nghiên cứu.
Đới phân cách với đới kiến trúc Sông Đà ở phía Tây Bắc bằng đứt gẫy sâu Bản Lang -
Nậm Xe (F
1
1
) kéo dài khoảng 25km và ở phía Đông Nam bằng đứt gãy sâu Bình Lư –
Thân Thuộc (F
1
2
) với chiều dài ở vùng nghiên cứu khoảng 35km. Đới kiến trúc này được
cấu thành bởi các THTKT sau:
+THTKT Proterozoi sớm- giữa gồm các đá lục nguyên, phun trào mafic bị biến chất
tướng anmandin-tremonit thuộc hệ tầng Suối Chiềng (PR
sc
2
), hệ tầng Sinh Quyền (PR
1-2

sq
).
+THTKT Paleozoi Giữa (PZ
2
) gồm các thành tạo granit phức hệ Mường Hum
(aG/PZ
2
mh
)
+THTKT Mezozoi muộn Kainozoi bao gồm các thành tạo của phức hệ granitoid Ye
Yen Sun, Phu Sa Phìn, các thành tạo núi lửa của phức hệ Ngòi Thia.
- Đới kiến trúc Sông Đà

tl
), Đồng Giao (T
2
a
đg
), Mường trai (T
2
l
mt
),
phức hệ Ba Vì (Gb/T
1
bv
)
+THTKT Mezozoi muộn (MZ
3
) bao gồm các thành tạo lục nguyên chứa than và lục
nguyên màu đỏ hệ tầng Suối Bàng (T
3
n-r
sb
), Yên Châu (K
2
yc
), các phức hệ Phu Sa Phìn
(G
p
-Sy
p
/K


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status