nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba huyện phong thổ (lai châu), nông sơn (quảng nam), hàm tân (bình thuận) và đề xuất biện pháp phòng ngừa - địa hoá môi trường ba vùng- phong thổ, nông sơn và hàm tân tỷ lệ 1-50 - Pdf 13

CỤC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT BIỂN
o0o
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
ĐỊA HOÁ MÔI TRƯỜNG BA VÙNG: PHONG
THỔ, NÔNG SƠN VÀ HÀM TÂN
TỶ LỆ 1:50.000 Thuộc Đề tài:" Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm phóng xạ tại ba
huyện Phong Thổ (Lai Châu), Nông Sơn (Quảng Nam), Hàm Tân
(Bình Thuận) và đề xuất giải pháp phòng ngừa"do TS. Đào Mạnh
Tiến làm chủ nhiệm 6383-1


Liên đoàn trưởng TS. Đào Mạnh Tiến
Chủ nhiệm chuyên đề KS. Bùi Quang Hạt
HÀ NỘI, 2006

3

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 7

Cơ sở pháp lý 7

1.5. Động - thực vật 29
1.6. Ảnh hưởng của điều kiện địa lý tới môi trường 29
2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 29
2.1. Phân bố dân cư: 29
2.2. Giao thông 30
2. 3. Các hoạt động kinh tế chủ yếu 30
2.3.1. Công nghiệp khai thác khoáng sản 30
2.3.2. Công nghiệp điện năng 31
2.3.3. Nông nghiệp 31
2.3.4. Tiểu thủ công nghiệp 31

4

2.4. Ảnh hưởng của hoạt động kinh tế - xã hội 31
3. Đặc điểm địa chất - khoáng sản vùng nghiên cứu 32
3.1. Đặc điểm địa chất 32
3.1.1. Địa tầng 32
3.1.2. Magma xâm nhập 34
3.1.3. Cấu trúc địa chất 35
3.2. Khoáng sản 36
3.2.1. Nhóm mỏ than đá chứa urani: 36
3.2.2. Nhóm mỏ urani: 37
3.2.3. Nhóm mỏ felspat: 39
3.2.4. Nhóm mỏ vật liệu xây dựng 39
3.3. Ảnh hưởng của đặc điểm địa chất - khoáng sản tới môi trường 41
3.3.1. Ảnh hưởng các đặc điểm địa chất tới môi trường 41
3.3.2. Ảnh hưởng củ
a khoáng sản tới môi trường 41
III. VÙNG HÀM TÂN 42
1. Vị trí địa lý, tọa độ và diện tích khảo sát 42


1.1.Đặc điểm môi trường địa hóa trong nước 68
1.2. Đặc điểm phân bố các nguyên tố trong nước 68
1.3. Ô nhiễm môi trường 78
2. Đặc điểm địa hóa môi trường trong trầm tích 81
2.1 Đặc điểm môi trường địa hóa trong trầm tích 81
2.2. Đặc điểm địa hoá môi trường các nguyên tố trong trầm tích 81
a. Nhóm nguyên tố không tập trung 82
b. Nguyên tố tập trung 87
c. Nguyên tố tập trung cao 88
2.3. Ô nhiễm môi trường trầm tích bởi các kim loại 89
II. VÙNG NÔNG SƠN 91
1. Đặc điểm địa hóa môi trường trong trầm tích 91
1.1. Đặc điểm môi trường địa hóa trong trầm tích 91
1. 2. Đặc điểm địa hoá môi trường các nguyên tố trong trầm tích 92
a. Nhóm nguyên tố không tập trung 92
b. Nguyên tố tập trung 99
c. Nguyên tố tập trung cao 99
2. Đặc điểm địa hóa môi trường các nguyên tố trong nước 100
3. Ô nhiễm môi trường 111
3.1. Ô nhiễm môi trường nước bởi các kim loại 111
3.2. Ô nhiễm môi trường trầm tích bởi các kim loại 113
III. VÙNG HÀM TÂN 114
A.VÙNG LỤC ĐỊA 114
1. Đặc điểm địa hóa môi trường nước 114
1.1. Đặc điểm môi trường địa hóa trong nước 114
1.2. Đặc điểm phân bố các nguyên tố trong nước 115
2. Đặc điểm địa hóa môi trường trầm tích 120
2.1. Đặc điểm môi trường địa hoá trầm tích 120
2.2. Đặc điểm địa hoá môi trường các nguyên tố trong trầm tích 121


MỞ ĐẦU
Trong công tác nghiên cứu môi trường thì nghiên cứu địa hoá môi trường chiếm
một tỉ trọng đáng kể và được thực hiện tại nhiều thành phố, thị xã, vùng dân cư, các khu
vực sản xuất và một số vùng mỏ. Trong những năm gần đây công tác nghiên cứu địa chất
môi trường, địa chất tai biến đã được các ngành, các cấp quan tâm.
Nhà nước đã đầu tư
một khoản kinh phí không nhỏ cho việc đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường trong cả
nước.
Nghiên cứu hiện trạng môi trường ba vùng: Phong Thổ, Nông Sơn và Hàm Tân
cũng như ảnh hưởng môi trường phóng xạ đối với dân sinh nhằm bảo vệ sức khỏe cộng
đồng, xây dựng và qui hoạch phát triển dân sinh cho phù hợp.
Cơ sở pháp lý
- Căn cứ vào Quyết định số 1771/Q
Đ-BKHCN của Bộ trưởng Bộ Khoa học và
Công nghệ ngày 28-9-2004 về việc phê duyệt các tổ chức, cá nhân trúng tuyển và chủ trì
thực hiện các đề tài độc lập cấp Nhà nước năm 2005.
- Căn cứ vào Hợp đồng số10/2005/HĐ-ĐTĐL ngày 8/4/2005 giữa Bộ Khoa học và
Công nghệ, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam và Liên đoàn Địa chất Biển về việc
thực hiện nội dung khoa h
ọc và kinh phí của đề tài độc lập cấp Nhà nước năm 2005.
- Căn cứ vào Hợp đồng thuê khoán công việc số 81/HĐ-ĐTĐL-2005/10 ngày
23/8/2005 giữa Liên đoàn Địa chất Biển và Trung tâm Địa hoá và Môi trường Biển về
việc xây dựng báo cáo chuyên đề địa hoá môi trường và lập sơ đồ địa hoá môi trường 3
vùng: Hàm Tân, Phong Thổ, Nông Sơn tỷ lệ 1/50.000.
Dưới sự chỉ đạo của ông chủ nhiệm đề tài TS.
Đào Mạnh Tiến - Liên đoàn trưởng
Liên đoàn Địa chất Biển, Trung tâm Địa hoá Môi trường đã tiến hành xử lý kết quả phân
tích và thành lập sơ đồ địa hoá môi trường ba vùng: Phong Thổ, Nông Sơn và Hàm Tân tỷ
lệ 1:50.000.

Bộ Khoa học Công nghệ, lãnh đạo Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, chủ nhiệm đề
tài TS.Đào Mạnh Tiến và các bạn đồng nghiệp gần xa
Tập thể tác giác xin chân trọng cảm ơn những sự chỉ đạo và giúp đỡ quý báu đó.
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2006
TM. TẬP THỂ TÁC GIẢ
Bùi Quang Hạt

9

CHƯƠNG I. CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN, XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI
TRƯỜNG VÙNG NGHIÊN CỨU
I.VÙNG PHONG THỔ
1. Đặc điểm địa lý tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
Vùng nghiên cứu thuộc các huyện Phong Thổ, Tam Đường và một phần của thị xã
Lai Châu mới. Phía Bắc vùng tiếp giáp với Trung Quốc, phía Tây và Tây Nam giáp với
huyện Sìn Hồ, phía Đông giáp với huyện Bát Xát-tỉnh Lào Cai.
Vùng được giới hạn bởi tọa độ:
Từ
22°16’22” đến 22°39’54” vĩ độ Bắc.
Từ 103°15’00” đến 103°44’46” kinh độ Đông.

Bản Ko La F-48-40-A (5753 IV)
7 H
103°30’39” 22°16’22”
Bản Ko La F-48-40-A (5753 IV)
1.2. Địa hình
Vùng nghiên cứu nằm trên khu vực chuyển tiếp của 2 đới kiến tạo (đới nâng Fan Si
Pan và đới sụt lún sông Đà). Vùng có độ cao tuyệt đối từ 300 – 2500m, đa phần có độ dốc
lớn trên 50
0
đây là vùng núi cao hiểm trở nhất Việt Nam. Vùng núi khu vực nghiên cứu bị
phân cắt rất mạnh, các đường phân thuỷ hẹp, hiện tượng sạt lở xảy ra nhiều. Nhìn chung ở
các miền núi cao độ phân cắt địa hình rất lớn từ 200-1000m. Địa hình núi phân bố trên
diện tích các đá magma phức hệ Ye Yen Sun, Nậm Xe, Tam Đường, Pu Sam Cap… và
thành tạo trầm tích biến chất cổ của hệ tầng Sinh Quyền…
Phần lớn các dãy núi kéo dài theo hướng Tây B
ắc - Đông Nam gần trùng với
phương của các thành tạo địa chất, càng về phía Tây Bắc địa hình càng cao, về phía Đông
Nam địa hình thấp dần. Địa hình bị bào mòn và phân cắt bởi hệ thống sông suối có
phương Đông Bắc – Tây Nam và có thể chia ra các mức địa hình như sau:
Địa hình núi cao trên 1500m: Phân bố ở phía Đông Bắc (sườn Tây Fan Si Pan) có
nhiều vách đá hiểm trở.

10

Địa hình núi cao 1000 - 1500m: Thường chạy dọc theo rìa các dãy núi có địa hình
cao trên 1500m.
Địa hình núi cao trên 500 -1000m: Phân bố dọc theo các thung lũng sông Nậm Na,
Nậm Lúc .Địa hình núi cao dưới 500m: Chiếm khoảng hơn 10% diện tích, sườn thoải,
đất phủ dày.
Địa hình cao nguyên và karst: Phân bố ở nhiều vị trí trong phạm vi vùng nghiên

C, độ ẩm không khí thấp. Nhiệt độ thấp nhất trong
năm là vào tháng 12 và tháng Trong mùa khô thường xảy ra những hiện tượng thời tiết
đặc biệt như sương muối vào các tháng 1 và 2 (Sìn Hồ, vùng cao huyện Phong Thổ). Gió
và dông thường xảy ra vào những ngày nóng và khô (tháng 3 và 4), mưa đá xuất hiện vào
cuối mùa khô.
Mùa mưa: Từ tháng 5 đến tháng 9 , nhiệt độ trung bình 20-25
0
C,

nhiệt độ có khi
lên tới trên 30
0
C. Tổng lượng mưa khoảng 2.500 mm/năm, tập trung từ tháng 6 đến tháng
8 (chiếm 65-75% lượng mưa trong năm). Độ ẩm trung bình trên 80%. Thường vào đầu
mùa mưa, mưa to kèm gió lốc và thỉnh thoảng có mưa đá còn những trận mưa cuối mùa
thường là mưa nhỏ nhưng kéo dài triền miên.
1.5. Động vật và thực vật
Hiện nay rừng chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 19% diện tích vùng nghiên cứu, phát triển
chủ
yếu trên địa hình các vùng núi cao trên 1500m ở phía Tây Fan Si Pan, vùng núi đá
vôi, đá phun trào ở phía Đông Nam Sìn Hồ, các thượng lưu sông Nậm Tần, Nậm Ten,
Nậm Ban Thảm thực vật phong phú và đa dạng từ các loại cây nhóm gỗ quý (lát, dổi, sa
mu ) đến các loại cây thân đốt, leo

11

Động vật tập trung khá nhiều loại từ các thú dữ như hổ, báo, gấu, cho đến các loại
khác như hươu, nai, lợn rừng, khỉ, trăn chúng thường sống ớ các sườn núi cao, rừng rậm.
nhưng hiện nay do phát nương, làm rẫy nên diện tích rừng bị thu hẹp dần và các loại gỗ
quý hiếm cũng đang biến mất, các loại động vật tự nhiên quí, hiếm có số lượng giảm hoặc

được chú ý. Thị trấn Tam Đường đã có các nông trường, lâm trường quốc doanh (trồng
chè, nuôi bò sữa).
Lâm nghiệp: Trong vùng đang triển khai chương trình giao đất lâm nghiệp để
trồng các loại cây lấy gỗ, gây lại các diện tích rừng đã bị khai thác và chặt phá.
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong vùng nghiên cứu chưa phát triển mạnh.
Ở th
ị trấn Phong Thổ có vài cơ sở sản xuất thủ công, chủ yếu là sản xuất và sửa chữa
công cụ thô sơ phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ở thị xã Lai Châu, thị trấn Tam Đường có
các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp như chế biến lâm sản, xí nghiệp điện máy,
xí nghiệp cơ khí.
Du lịch: Vùng nghiên cứu là một khu vực có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, giàu
tiề
m năng du lịch. Nơi đây còn có những bản làng dân tộc với nhiều phong tục tập quán
vẫn nguyên sơ có thể triển khai các tuyến du lịch sinh thái để đón du khách trong và
ngoài nước.

12

Khai thác khoáng sản:
Trong những năm qua khu mỏ Nậm Xe, Đông Pao đã được nhiều đơn vị khai thác
quặng fluorit, đất hiếm Quặng được khai thác lộ thiên, tuyển quặng bằng phương pháp
thủ công và vận chuyển tập trung ở khu vực Tam Đường, Phong Thổ chờ chuyển đến các
đơn vị sử dụng và chế biến khoáng sản.
Khu mỏ Thèn Sin-Tam Đường có các điểm vàng gốc và sa khoáng, cộng sinh với
các mạch vàng gố
c có chứa hàm lượng các nguyên tố phóng xạ. Những năm gần đây dân
địa phương và một số người ở nơi khác đến tiến hành đào bới, khai thác vàng gây ô nhiễm
nước, phá vỡ hệ sinh thái môi trường và sản xuất nông nghiệp tại vùng này. Hiện nay
chính quyền địa phương đã ngăn chặn được hoạt động khai thác vàng tự do này.

đã
được nâng cấp như Chiềng Chăn - Sìn Hồ; Lai Châu - Mường Tè - Bom Lót - Suối Lư
Tóm lại: đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế-xã hội của vùng nghiên cứu tương đối
thuận lợi cho việc phát triển các ngành lâm nghiệp, du lịch.Tuy nhiên, điều kiện địa hình
núi cao hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, đời sống kinh tế và văn hoá còn thấp sẽ ảnh

13

hưởng không nhỏ đến công tác thực địa. Hàng năm, tshời gian tổ chức khảo sát thực địa
thuận lợi nhất là vào mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 4).
3. Đặc điểm địa chất - khoáng sản

3.1. Đặc điểm địa chất
3.1.1. Địa tầng
Trên diện tích vùng nghiên cứu phân bố rộng rãi các thành tạo trầm tích phun trào
với thành phần đa dạng được hình thành từ Proterozoi đến Kainozoi. Chúng bao gồm các
phân vị sau.
GIỚI PROTEROZOI, THỐNG HẠ - TRUNG
1. Hệ tầng Suối Chiềng (PR sc
2
).
Nguyễn Xuân Bao (1969) đã xác lập và mô tả hệ tầng Suối Chiềng theo mặt cắt
điển hình tại Suối Chiềng. Hệ tầng phân bố ở Đông Nam vùng nghiên cứu tạo thành một
dải hình thước thợ kéo dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Thành phần mặt cắt và đặc
điểm biến chất các đá của hệ tầng ít thay đổi theo đường phương và đồng đều trên diện
tích phân bố. Hệ
tầng Suối Chiềng được chia làm 2 tập nhưng vùng nghiên cứu chỉ lộ ra
tập 2. (PRsc
2
): thành phần của tập 2 gồm: đá phiến biotit-epidot-sphen, amphibolit-epidot,

ng là 950m.
GIỚI PALEOZOI
HỆ DEVON
HỆ DEVON THỐNG HẠ - TRUNG
3. Hệ tầng Bản Páp (D
1-2
bp).

14

Hệ tầng Bản Páp do Nguyễn Xuân Bao và n.n.k xác lập (1969). Các thành tạo
thuộc hệ tầng lộ ra ở hai khu vực phía Bắc và phía Tây vùng nghiên cứu (Đông Bắc-Đông
Nam Bản Lang và phía Tây Nam bản Nậm Pập). Đặc điểm mặt cắt của hệ tầng được chia
thành 2 tập:
- Tập 1: đá vôi hạt nhỏ màu xám đen phân lớp mỏng xen các lớp đá vôi silic, đá
vôi chứa sét khi phong hoá có màu vàng nâu, dày 260m.
- Tập 2: đá vôi kết tinh màu xám đến xám sáng, phân lớp dày k
ẹp giữa là lớp đá
vôi silic màu xám đen. Đá vôi màu xám đến xám sáng bị hoa hoá yếu, dày 200m.
HỆ PERMI
HỆ PERMI THỐNG HẠ-TRUNG
Loạt Bản Diệt: các trầm tích Loạt Bản Diệt do Tô Văn Thụ xác lập và mô tả (1996)
trên cơ sở hệ tầng cùng tên của Phan Cự Tiến (1977) với hai hệ tầng chuyển tiếp là hệ
tầng Si Phay (P
1-2
sp) và hệ tầng Na Vang (P
2
nv).
4. Hệ tầng Si Phay (P
1-2

HỆ TRIAS
HỆ TRIAS THỐNG HẠ BẬC INDI
6. Hệ tầng Viên Nam (T
1
ivn)

15

Hệ tầng Viên Nam do Phan Cự Tiến xác lập năm 1975.
Các thành tạo phun trào mafic trong vùng tương đương với hệ tầng Viên Nam có
tuổi Permi muộn –Trias sớm đã được Bùi Phú Mỹ phân chia (1978). Chúng phân bố rộng
ở trung tâm vùng nghiên cứu, từ bản Khoang Thèn, Vàng Pheo đến Van Hồ, Đông Phong
thành một dải dài nằm theo phương Tây Bắc - Đông Nam và có đặc điểm cấu trúc giống
nhau. Thành phần mặt cắt tại đây gồm: đá bazan, bazan olivin, bazan hạnh nhân và
andezitrachyt. Chúng được chia làm hai phầ
n:
- Phần dưới là bazan hạnh nhân, bazan olivin, và các lớp tuf của chúng.
- Phần trên chủ yếu là bazan dạng khối màu xám đen, không thấy có cấu tạo hạnh
nhân, mà phổ biến là cấu tạo định hướng và có kiến trúc porphyr. Chiều dày tầng 1000m.
HỆ TRIAS THỐNG HẠ BẬC OLENEC
7. Hệ tầng Tân Lạc. (T
1
otl)
Hệ tầng Tân Lạc do Phan Cự Tiến phân chia (1977). Các thành tạo thuộc hệ tầng
phân bố ở trung tâm vùng nghiên cứu thành 3 dải kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông
Nam nằm ở các khu vực Đông Bắc huyện lỵ Phong Thổ, khu trung tâm cao nguyên Lang
Nhị Thang và Đông Nam khu mỏ Đông Pao. Các đá thuộc hệ tầng gắn liền với hệ tầng
Đồng Giao. Tại đây mặt cắt của hệ tầng lộ không đầy đủ,
đặc biệt các lớp thuộc phần dưới
của hệ tầng không quan sát được.

mỏng cát kết, dày 350m-400m

16

- Phần trên gồm: đá phiến sét xen bột kết màu xám đen, chiều dày 300-460m.
Hệ tầng Mường Trai phủ trực tiếp không chỉnh hợp trên hệ tầng Viên Nam (T
1
i

vn) và tiếp xúc kiến tạo với hệ tầng Nậm Mu ở trên. Hệ tầng bị xuyên cắt bởi các thể xâm
nhập nhỏ phức hệ Pu Sam Cap.
HỆ TRIAS THỐNG THƯỢNG BẬC CARNI
10. Hệ tầng Nậm Mu (T
3
cnm)
Hệ tầng Nậm Mu được Dovjikov A.E., Bùi Phú Mỹ phân chia (1965). Trên diện
tích vùng nghiên cứu hệ tầng Nậm Mu phân bố thành hai dải ở Tây Bắc và Đông Nam
vùng nghiên cứu. Dải thứ nhất phân bố ở phía Đông Bắc thị trấn Phong Thổ (mới), dải
thứ hai nằm ở phía Đông Nam mỏ Đông Pao.
Thành phần gồm: đá phiến sét màu đen xen các lớp mỏng bột kết và cát kết hạt
nhỏ màu xám có chứa các dạ
ng Pelecpoda phổ biến ở Carni. Hệ tầng Nậm Mu tiếp xúc
kiến tạo với hệ tầng Mường Trai, hệ tầng Suối Bàng và bị xuyên cắt bởi các thể
magma phức hệ Pu Sam Cap, phức hệ Nậm Xe-Tam Đường.
HỆ TRIAS THỐNG THƯỢNG BẬC NORI-RET
11. Hệ tầng Suối Bàng (T
3
n-rsb)
Do Dovjikov A.E. và n.n.k xác lập (1965). Các trầm tích chứa than hệ tầng Suối
Bàng phân bố ở phía Tây Bắc và Đông Nam vùng. Thành 2 dải kéo dài theo phương Tây

thoảng gặp cát kết, sạn kết hạt thô màu đỏ nhạt, dày 400m.
HỆ PALEOGEN
13. Hệ tầng Pu Tra (Ept)
Hệ tầng Pu Tra được Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao xác lập (1989),
trên cơ sở quan sát mô tả của Bùi Phú Mỹ (1971). Các đá của hệ tầng lộ ra ở Đông
Nam vùng nghiên cứu thành hai khối, thuộc khu vực bản Sin Câu, một khối nhỏ lộ ra
ở bản Thẳm.Thành phần thạch học của hệ tầng gồm chủ yếu là tuf dăm, tuf, cát sạn kết
và tuf tảng có thành phần là
đá phun trào trachyt màu nâu gụ, màu đỏ và trachyt porphyr
với chiều dày khoảng 350m.
GIỚI KAINOZOI
HỆ ĐỆ TỨ
Các thành tạo trầm tích Đệ tứ phân bố hạn chế dọc theo các thung lũng dưới dạng
các bãi bồi, bậc thềm, trũng giữa núi gồm có:
TRẦM TÍCH PLEISTOCEN
14. Trầm tích Pleistocen trung (aQ
1
2
)
Trầm tích Pleistocen trung (aQ
1
2
), có nguồn gốc sông phân bố trong thung lũng
khá rộng ở vùng bản Mường Mới. Thành phần trầm tích từ dưới lên trên gồm: cuội, sỏi,
cát, tảng, ít cát bột. Thành phần đa khoáng, chiều dày 2-3m.
15. Trầm tích Pleistocen thượng (aQ
1
3
)
Trầm tích Pleistocen thượng (aQ

karst chiều rộng khoảng 500m và dài tới 2-3km. Như ở thung lũng bản Vàng Bâu - Bản
Hồng Ngài, bản Giang và dọc suối Nậm So. Thành phần trầm tích gồm: cuội, tảng, sạn,
cát, bột, sét màu xám vàng, chiều dày từ 1-5m.

18

3.1.2. Các thành tạo magma
Theo kết quả khảo sát nghiên cứu của các nhóm tờ bản đồ 1:50.000 (nhóm tờ Lào
Cai và Phong Thổ) đã xác định được sự có mặt của 8 phức hệ magma có tuổi từ Paleozoi
giữa đến Kainozoi. Ngoài ra còn tồn tại một số thành tạo magma xâm nhập ở dạng đai
mạch chưa xác định được thời gian thành tạo. (bảngIII.)
Thành tạo xâm nhập Paleozoi giữa.
1. Phức hệ Mường Hum (aG/PZ
2
mh)
Các thành tạo thuộc phức hệ phân bố thành một khối nhỏ ở ngọn Suối Nậm Che
phía Đông Nam vùng nghiên cứu với diện tích khoảng 8km
2
(khối Chu Va). Thành phần
chủ yếu là: granit kiềm, ít hơn là granosyenit kiềm, syenit kiềm và syenitodiorit.
Thành tạo xâm nhập Creta.
2. Phức hệ núi lửa Ngòi Thia (Rp/Knt)

Phức hệ do Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Cự Tiến xác lập (1977) và được đề cập đến
trong nhiều công trình của các tác giả khác (Đào Đình Thục 1980, )
Phức hệ được xác định bởi các đá thuộc tướng á núi lửa, chủ yếu là ryolit, porphyr.
Phức hệ núi lửa Ngòi Thia phân bố ở phía Đông Nam vùng nghiên cứu thành dải
không liên tục, kéo dài khoảng 20 km từ Bắc Bình Lư đến Thân Thuộc theo phương Tây
Bắc - Đông Nam vớ
i diện tích khoảng 18 km

Trong hệ tầng Viên Nam Phức hệ Ba Vì lộ ra thành sáu chỏm nhỏ phân bố với
diện tích khoảng 0,3km
2
, ở gần trung tâm vùng nghiên cứu. Thành phần gồm:
gaborodiabas, gabro. Trong các đá này hàm lượng các nguyên tố chứa phóng xạ thấp.
4. Phức hệ Phu Sa Phìn (G
p
-Sy
p
/Kpp)

19

Phức hệ Phu Sa Phìn được Izokh E.P. (1965) phân chia bao gồm các đá xâm nhập
á núi lửa, các đá thuộc phức hệ núi lửa phân bố trong vùng nghiên cứu thuộc phần Tây
Bắc của khối Nậm Khế - Đông Tam Đường với diện tích khoảng 110 km
2
. Phía Tây Nam
khối được vẽ giả định xuyên cắt các thành tạo núi lửa phức hệ Ngòi Thia (R
P
/Knt). Phía
Đông Bắc khối có quan hệ kiến tạo với granitoid phức hệ Ye Yen Sun (G/Eys). Trong
granit phức hệ Ye Yen Sun còn có chứa thể tù syenit porphyr phức hệ Phu Sa Phìn. Bên
trong khối có nhiều khối nhỏ và các thân dạng tường syenit kiềm, granosyenit kiềm của
phức hệ Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Ent), granit biotit hạt nhỏ, đá mạch granit aplit
của phức hệ Ye Yen Sun. Ngoài ra xung quanh khối còn có quan hệ kiến tạo với phức hệ
Mường Hum (aG/PZ
2
mh), hệ tầng Suối Chiềng (PRsc), hệ tầng Viên Nam (T
1

ivn), phức
hệ Nậm Xe - Tam Đường (aG-aSy/Ent). Phía Đông Bắc phức hệ có quan hệ xuyên cắt với
hệ tầng Suối Chiềng (PRsc), hệ tầng Bản Páp (D
1-2
bp), phức hệ Mường Hum (aG/PZ
2
mh).
Trong khối Ye Yen Sun còn gặp các thể syenit kiềm, granit kiềm phức hệ Nậm Xe-Tam
Đường (aG-aSy/Ent).
Nhìn tổng thể trong khối nhận thấy ở trung tâm khối đá thường kết tinh hạt vừa,
còn rìa khối đá kết tinh hạt nhỏ. Các đá mạch granit aplit, granit hạt nhỏ sáng màu dạng
aplit, pegmatit và granit pegmatit xuyên căt các đá trong khối và hầu hết các thành tạo vây
quanh. Phức hệ Ye Yen Sun được hình thành bởi hai pha xâm nhập:
- Pha1: granit biotit, granit biotit-amphibol và các đá lai tính granodiorit,
granosyenit, syenit.
- Pha 2: các đá mạ
ch granit aplit, granit hạt nhỏ sáng màu dạng aplit, pegmatit và
granit pegmatit.

6. Phức hệ Nậm Xe-Tam Đường (aG-aSy/Ent).
Phức hệ Nậm Xe - Tam Đường do Izokh E.P. phân chia (1965). Các thân xâm
nhập của phức hệ Nậm Xe - Tam Đường thường có kích thước nhỏ hơn 2 km
2
phân bố
chủ yếu ở nửa Đông Nam của vùng nghiên cứu (gồm 10 khối nhỏ với diện tích 10,5 km
2
).
Chúng thường có dạng khối nhỏ hoặc đai mạch xuyên cắt các đá granitoid phức hệ Ye
Yen Sun (G/Eys), phức hệ Phu Sa Phìn (G
P

.
Quan hệ giữa các khối với đá vây quanh như sau: khối Đông Pao xuyên cắt và gây
hoa hoá đá vôi hệ tầng Đồng Giao (T
2
a đg), khối Tam Đường xuyên cắt và gây sừng hóa
các đá phiến sét và cát kết hệ tầng Suối Bàng (T
3
n-r sb). Các đá syenittoid của phức hệ Pu
Sam Cap luôn luôn gần gũi về không gian với phun trào trachyt và tuf của chúng.
Hệ thống các đá mạch của phức hệ phân bố chủ yếu ở khu vực phía Tây Bắc, vùng
nghiên cứu, thành phần của chúng rất phong phú và đa dạng bao gồm từ minet, shonkinit,
syenit aplit đến bostonit. Chúng xuyên cắt các đá granitoid của phức hệ
Ye Yen Sun, syenitoid pha 1 của phức hệ Pu Sam Cap, phun trào của hệ tầng Pu Tra và
các phân vị địa tầng tuổi Mesozoi t
ừ Trias đến Creta có mặt trong vùng.
Phức hệ Pu Sam Cap được hình thành bởi hai pha xâm nhập:
- Pha 1 gồm 2 tướng:
+ Tướng ven rìa: syenit porphyr và granosyenit porphyr.
+ Tướng trung tâm: syenit hạt nhỏ đến hạt vừa và syenit thạch anh.
- Pha 2: các đá mạch minet, shonkinit, syenit aplit và bostonit.
Các thành tạo quặng đất hiếm phóng xạ có quan hệ mật thiết với phức hệ Pu Sam
Cap, toàn bộ hệ thống mỏ Đông Pao nằm trên khối Bản Thẳm.
8. Phức hệ Phong Thổ (aSy/Ept)
Phức hệ Phong Thổ
được Bùi Minh Tâm và Tô Văn Thụ xác lập khi đo vẽ và
thành lập nhóm tờ bản đồ Phong Thổ bao gồm các đai mạch minet, shonkinit, cocit Các
mạch cacbonatit, đai cơ và xâm nhập dạng họng nhỏ có thành phần từ mafic – trung tính
kiềm kali có thể tương ứng với kiểu lamproid thấp titan, cao nhôm kiểu Địa Trung Hải.
Phân bố rải rác trong hệ tầng Viên Nam, Si Phay và dọc theo suối Nậm So. Chúng được
phân chia thành hai nhóm chính:

: đới này phân bố ở Bắc- Đông Bắc vùng nghiên cứu.
Đới phân cách với đới kiến trúc Sông Đà ở phía Tây Bắc bằng đứt gẫy sâu Bản Lang -
Nậm Xe (F
1
1
) kéo dài khoảng 25km và ở phía Đông Nam bằng đứt gãy sâu Bình Lư –
Thân Thuộc (F
1
2
) với chiều dài ở vùng nghiên cứu khoảng 35km. Đới kiến trúc này được
cấu thành bởi các THTKT sau:
+ THTKT Proterozoi sớm- giữa gồm các đá lục nguyên, phun trào mafic bị biến
chất tướng anmandin-tremonit thuộc hệ tầng Suối Chiềng (PRsc
2
), hệ tầng Sinh Quyền
(PR
1-2
sq).
+ THTKT Paleozoi Giữa (PZ
2
) gồm các thành tạo granit phức hệ Mường Hum
(aG/PZ
2
mh)
+ THTKT Mezozoi muộn Kainozoi bao gồm các thành tạo của phức hệ granitoid
Ye Yen Sun, Phu Sa Phìn, các thành tạo núi lửa của phức hệ Ngòi Thia.
- Đới kiến trúc Sông Đà
: đây là miền sụt lún được hình thành bởi các
THTKT sau:
+THTKT Paleozoi giữa (PZ

) bao gồm các thành tạo lục nguyên chứa than và

22

lục nguyên màu đỏ hệ tầng Suối Bàng (T
3
n-rsb), Yên Châu (K
2
yc), các phức hệ Phu Sa
Phìn (G
p
-Sy
p
/Kpp)
+THTKT Kainozoi (KZ) bao gồm các thành tạo phun trào và lục nguyên của các
hệ tầng Pu Tra (Ept) và các thành tạo bở rời Đệ tứ, các phức hệ xâm nhập Ye Yen Sun
(G/Eys), Nậm Xe- Tam Đường (aG - aSy/Ent) và Pu Sam Cap (aSy
p
/Epc)
2. Cấu trúc nếp uốn

Trên các đới kiến trúc phát triển những cấu trúc nếp uốn . Cơ sở cho việc xác lập
các cấu trúc nếp uốn trên diện tích nghiên cứu là các phức hệ vật chất kiến trúc, sự khống
chế trong không gian của các loại đứt gẫy. Trong đó các đứt gẫy cấp II giữ vai trò quan
trọng. Những cấu trúc nếp uốn dạng tuyến kéo dài theo phương Tây Bắc- Đông Nam có
các đối tượng cụ thể sau:
- N
ếp uốn dạng đơn nghiêng
Nếp uốn Mu Sang: phân bố dạng tuyến, phương trục Tây Bắc-Đông Nam, nằm ở
phần cánh phía Bắc của đới Sông Đà, phức hệ vật chất kiến trúc có mặt trong nếp uốn

Suối Bàng); cuội kết, sạn kết, cát kết, bột kết màu nâu đỏ (hệ tầng Yên Châu) và các đai
mạch, khối xâm nhập granitoid (Pu Sam Cap, Phong Thổ) có mặt trong nếp vồ
ng thường
có thế nằm cắm về Tây Nam hoặc Đông Bắc, góc dốc 40
0
-60
0
, ở gần đứt gẫy độ dốc lên
tới 70
0
-80
0
. Ở phức nếp vồng này đã xác lập được 3 nếp vồng và 1 nếp võng nhỏ
như sau:
+ Nếp vồng Lang Nhị Thang
+ Nếp vồng Nam Mường So
+ Nếp vồng Pu Sam Cap
+ Nếp võng Nam Long
Về phía Đông Nam vùng nghiên cứu còn một số nếp vồng, nếp võng. Đây là
những dấu hiệu tốt liên quan đến khoáng sản.
3. Đứt gẫy

* Các đứt gẫy cấp I
- Đứt gẫy Bản Lang-Nậm Xe (F
1
1
): phân bố dọc theo thung lũng giữa núi, kéo dài
từ Bản Lang đến Nậm Xe theo phương Tây Bắc-Đông Nam dài khoảng 25km, trong vùng
nghiên cứu giữ vai trò là đường ranh giới giữa đới kiến trúc Fan Si Pan với đới kiến trúc


0
-70
0
. Đứt
gẫy được xác định có phương 30
0
-40
0
và phương á kinh tuyến 15
0
-20
0
. Đứt gẫy có lẽ
được hình thành và hoạt động rõ rệt trong Trias sớm tạo đới dập vỡ mạnh mẽ thuận lợi
cho các hoạt động phun trào (hệ tầng Viên Nam). Đôi chỗ còn phát hiện được các di chỉ
của một số họng núi lửa. Vào Mesozoi muộn tái hoạt động theo cơ chế dồn ép tạo bồn
trũng dọc theo sườn phía Đông, Đông Nam tạo điều kiện thuận lợ
i cho việc tích tụ các
thành tạo lục nguyên chứa than (hệ tầng Suối Bàng) và phức hệ vật chất vụn thô màu nâu
đỏ (hệ tầng Yên Châu). Đứt gẫy này khống chế diện phân bố các thể granitoid và các đai
mạch, dọc đứt gẫy đã khoanh định được nhiều diện tích có tiềm năng quặng hóa: đồng,
chì, kẽm, vàng.
* Các đứt gẫy cấp II

Vùng nghiên cứu đã phân định được nhiều đứt gẫy có qui mô cấp II (F
2
), chúng là những
đứt gẫy phân nhánh tựa vào các đứt gẫy cấp I (F
1
) và thường có độ dài từ 10-15km, có thể thuộc

trong cát kết, bột kết và sét vôi hệ tầng Mường Trai. Trong các đới khoáng hoá rộng từ
vài chục mét đến gần 100m, dài 450m - 2000m, có biểu hiện sulfur có vàng. Biể
u hiện
quặng nằm trong đới biến đổi biến propilit hoá. Quặng có cấu tạo dạng xâm tán đều, dạng
ổ nhỏ và dạng mạch mỏng nhét đầy khe nứt. Hàm lượng vàng biến thiên trong khoảng
rộng (0,4-7,0g/T).
Ngoài vàng Tà Lèng trong vùng nghiên cứu còn một số vùng có biểu hiện khoáng
sản vàng như ở Yên Thang, Thèn Sin, Suối Thầu và Đông Nam Sỉn Chải.
- Vàng sa khoáng: có ở nhiều nơi nhưng qui mô nhỏ ít có ý nghĩa.
3.2.2. Chì - Kẽm
Phát hiện ở nhiề
u nơi với đặc điểm quặng hóa khá đa dạng ở Si Phay chì kẽm đi
cùng với vàng- bạc; ở bản Lang, bản Nậm Khan, Sin Chải chì kẽm đi cùng với đất hiếm,
barit, fluorit… Phần lớn biểu hiện quặng chì kẽm phân bố trong đá vôi của hệ tầng Bản
Páp, Đồng Giao và một ít trong đá lục nguyên có chứa các thấu kính carbonat của hệ tầng
Si Phay. Hàm lượng quặng thay đổi trong khoảng r
ộng từ rất nghèo đến giàu. Nói chung
biểu hiện quặng chì kẽm cần được đầu tư nghiên cứu cùng với vàng bạc ở khu vực Si
Phay và lấy kèm khi khai thác mỏ đất hiếm Bắc Nậm Xe.
3.2.3. Đất hiếm
Đây là loại hình khoáng sản quan trọng trong vùng nghiên cứu và cũng là nguồn
chính có khả năng gây ô nhiễm môi trường. Mỏ đất hiếm Nậm Xe được chia làm hai khu
mỏ Bắc Nậm Xe và mỏ Nam Nậm Xe.
+ Mỏ B
ắc Nậm Xe
Thuộc xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
Quặng đất hiếm chứa kim loại phóng xạ phân bố chủ yếu nằm trong các đá phiến
sét, đá phiến silic, đá vôi, đá hoa thuộc hệ tầng Si Phay (P
1-2
sp) và hệ tầng Na Vang

25

+ Mỏ Nam Nậm Xe
Mỏ Nam Nậm Xe liên quan chặt chẽ với đá phun trào bazơ với thành phần chủ yếu
bazan hạnh nhân, bazan olivin thuộc hệ tầng Viên Nam (T
1
ivn). Chúng bị xuyên cắt, biến
đổi bởi các hệ thống đứt gẫy và các đai mạch.Quặng đất hiếm phân bố chủ yếu theo các
đới dập vỡ của đá phun trào bazơ tạo thành các thân mạch chạy dày theo phương Tây Bắc
và cắm về phía Đông Bắc với góc thoải (10-30
0
)
Mạch quặng kéo dài từ 200m-1000m và dày 2,5m thường bị phân nhánh phức tạp
và đôi khi thay đổi kích thước khá đột ngột. Theo kết quả tìm kiếm đã khống chế được 4
thân quặng. Dài từ 450m đến 1030m, chiều dày từ 0,2m đến 1,75m, thường dài từ 530m
đến 800m và dày từ 0,2m đến 1,35m. Quặng đất hiếm ở mỏ Nam Nậm Xe cũng thuộc loại
nhóm nhẹ. Thành phần khoáng vật của quặng tương đối đơn giản g
ồm chủ yếu là barit,
parizit, ankerit, calcit, biotit ít pyrit, galenit, sphalerit, magnetit, fluorit và thạch anh. Hàm
lượng tổng oxit đất hiếm thay đổi từ 0,8 – 36,2%, trung bình 10,6%. Ngoài những thân
quặng kể trên, ở mỏ Nam Nậm Xe còn có một thể đá carbonat chứa quặng đất hiếm dưới
dạng xâm tán với hàm lượng TR
2
O
3
0,4-1%. Trữ lượng B+C
1
= 199.168 tấn TR
2
O

t quặng ở Đông Pao gồm: fluorit, barit, batnhezit , đất hiếm do
phong hoá, lantanit, monazit và xenotim. Quặng cấu tạo khối tinh thể, dạng mạch ổ xâm
tán dày và dạng đất bở rời. Hàm lượng quặng gồm: đất hiếm TR
2
O
3
= 0,3 – 12%; BaSO
4

= 20 – 70%; CaF
2
= 10 – 60%. Quặng đất hiếm – barit – fluorit – uran – thori ở đây có
nguồn gốc nhiệt dịch, hoặc nguồn gốc nhiệt dịch cacbonatit.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status