TCNCYH 21 (1) - 2003
Thực trạng quản lý chất thải y tế
tại sáu bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh
Lê Thị Tài, Đào Ngọc Phong, Đinh Hữu Dung,
Nguyễn Thị Thu, Vũ Thị Vựng, Phạm Thanh Tân
Đại học Y Hà Nội
Điều tra cắt ngang thực trạng quản lý chất thải tại 6 bệnh viện (BV) đa khoa tuyến tỉnh, gồm:
Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Nam, (QN, QNg, ĐT) Quảng Ngãi, Cần Thơ, Đồng Tháp chúng tôi thu
đợc kết quả sau:
- Tổng lợng rác thải trung bình/giờng bệnh/ngày đêm: 0,6 - 1,27 kg. Trong đó, rác thải sinh
hoạt chiếm 80,8% - 81,3%, rác thải lâm sàng chiếm tỷ lệ 18,2% - 18,9%, rác thải hoá học chiếm tỷ
lệ từ 0,3% - 0,5%
- Thực trạng quản lý chất thải:
+ Chất thải rắn: Việc phân loại, thu gom chất thải rắn theo Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ
Y tế có khả năng thực hiện đợc tại các BVĐK tỉnh nhng cha có BV nào thực hiện đúng quy định
của Bộ Y tế về phân loại chất thải rắn, bao bì đựng rác, phơng tiện vận chuyển. Có 3 BV có lò đốt
đảm bảo công suất và tiêu chuẩn kỹ thuật, nhng chỉ 2 BV (QNg, ĐT) xử lý chất thải lâm sàng tại
BV bằng lò đốt
+ Chất thải lỏng và khí: Cả 6 BV đều cha hiểu biết đầy đủ về các biện pháp xử lý chất thải
lỏng, khí và các tiêu chuẩn đánh giá. Nớc thải sau xử lý cha đợc kiểm tra đầy đủ và thờng
xuyên.
- Khó khăn trong quản lý chất thải:
Thiếu cán bộ có đủ trình độ chuyên môn để đảm nhận nhiệm vụ quản lý chất thải của bệnh
viện. Không có đủ các phơng tiện, vật t để thực hiện phân loại đúng theo quy định của Bộ Y tế.
Không có kinh phí riêng cho quản lý chất thải.
I. Đặt vấn đề
Nguy cơ của chất thải y tế đối với môi
trờng và sức khoẻ là mối quan tâm của tất cả
Mô tả cắt ngang có đối chứng
2. Nội dung nghiên cứu:
- Xác định số lợng, thành phần chất thải
rắn của BV
56
TCNCYH 21 (1) - 2003
- Thực trạng QLCT, gồm: thu gom, lu giữ,
vận chuyển, xử lý chất thải (XLCT)
- Tình hình thực hiện các văn bản, quy chế,
hớng dẫn QLCT và những khó khăn của BV
trong QLCT
3. Kỹ thuật thu thập thông tin:
- Quan sát trực tiếp, lấy số liệu sẵn có tại
BV
- Thu gom, phân loại và cân định lợng rác
thải của BV trong 5 ngày
- Thảo luận nhóm, phỏng vấn trực tiếp cán
bộ BV
4. Mẫu nghiên cứu:
6 bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh đợc
chọn để đại diện cho 3 miền: Bắc, Trung, Nam.
Tại mỗi miền chúng tôi chọn 2 BV (một BV đã
XLCT và một BV cha XLCT). Cụ thể đợc
quy ớc:
Nhóm 1: gồm 3 BV cha XLCT Nhóm 2: gồm 3 BV đã XLCT
Miền Bắc
YB = BVĐK Yên Bái cha XLCT PT = BVĐK Phú Thọ
Miền Trung
S. hoạt, rác
YT
S. hoạt, tro
sau đốt
Phân loại 2 loại 3 loại 2 loại 3 loại 2 loại 3 loại
Ngời chịu trách
nhiệm phân loại
Hộ lý Y tá
Toàn bộ
CB/NV
Y tá
Y tá
HS, H.lý
Toàn bộ
CB/NV
Túi/bao bì theo QĐ Có Có
Ngời VC rác đến nơi
lu giữ
Hộ lý Hộ lý HL, CTĐ Hộ lý Hộ lý NV CNK
Thời gian chuyển đến
nơi lu giữ
Hàng
ngày
Hàng
ngày
Hàng
ngày
Hàng ngày Hàng ngày Hàng ngày
Văn bản hớng dẫn
tại khoa, phòng
toàn không đợc xử lý (YB). Tất cả các bệnh
viện đều đổ nớc thải ra hệ thống công cộng.
Bảng 2. Tình hình xử lý chất thải:
Chỉ số nghiên cứu YB PT QN QNg CT ĐT
Chất thải rắn
Loại chất thải
xử lý tại BV
Quần áo BN
HIV, vật sắc
nhọn
Tất cả rác
y tế
Mô, cơ
quan
Tất cả rác y
tế
Mô, cơ
quan, vật
sắc nhọn
Tất cả rác y
tế
Hình thức xử lý Đốt, chôn Đốt, chôn Chôn lấp Đốt Đốt Đốt
Phơng tiện đốt Thủ công Thủ công
Lò chuyên
dụng (CD)
Lò thủ
công
Lò CD
Xử lý phân Tự hoại Tự hoại Tự hoại Tự hoại Tự hoại Tự hoại
Chất thải lỏng
Lợng rác TB/gb/ngđ khối Nội - Nhi
0,60 0,09 0,43 0,05
0,0014
Lợng rác TB/gb/ngđ khối Ngoại - Sản
1,08 0,12 0,56 0,14
0,000
Lợng rác TB/gb/ngđ khối Lây - Lao
0,62 0,22 0,36 0,10
0,037
Lợng rác TB/gb/ngđ các bệnh khác
0,36 0,09 0,34 0,04
0,75
Nhận xét: bảng 4, tỷ lệ các loại rác ở hai nhóm BV tơng tự nhau, rác thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ
cao nhất (80,8 và 81,3%), rác thải hoá học chiếm tỷ lệ thấp nhất (0,3 - 0,5%)
Bảng 5. Thành phần rác thải của hai nhóm bệnh viện (kg/gb/ngđ):
Nhóm 1 Nhóm 2
Thành phần chất thải
Số lợng % Số lợng %
Sinh hoạt
1,03 0,23
80,8
0,51 0,1
81,3
Lâm sàng
0,24 0,02
18,9
0,11 0,01
18,2
Hóa học 0,002 0,3 0,0008 0,5
Khối Ngoại
Sản
0,44
0,03
0,18
0,04
0,63
0,11
0,38
0,01
0,005 0,0004
1,08
0,12
0,56
0,14
Khối Lây -
Lao
0,10
0,03
0,02
0,01
0,52
0,21
0,33
0,09
0,002 0,002
0,62
0,22
0,36
0,10
chất độc hại khác cha đợc kiểm tra. Việc đào
tạo/tập huấn "Quy chế quản lý chất thải " cha
đợc triển khai đầy đủ đến toàn bộ cán bộ,
nhân viên của BV
59
TCNCYH 21 (1) - 2003
Tại 4 BV đã có lò đốt chất thải thì 2 lò còn
hoạt động tốt (QN, QNg), lò đốt của QNg với
công suất nh hiện nay, có thể tiêu huỷ chất
thải y tế cho cả các BV huyện, lò đốt của QN
đã chạy thử tốt nhng cha hoạt động vì lý do
thiếu kinh phí. Lò đốt của PT, ĐT hỏng ngay
trong năm đầu. Hiện tại ĐT đã thay lò khác (cũ
của Pháp) hoạt động tốt đảm bảo xử lý toàn bộ
chất thải y tế của BV, PT vẫn XLCT y tế bằng
đốt thủ công ngoài trời.
Cả 6 BV đều cha thực hiện đúng các quy
định về mầu túi, hộp đựng vật sắc nhọn, thùng
đựng rác đạp chân, Phơng tiện BHLĐ, tuy
tất cả 6 BV đều đã có phơng tiện bảo hộ cho
nhân viên QLCT nhng cha đầy đủ hoặc cha
đảm bảo nh thiếu quần áo bảo hộ, thiếu găng
tay, hoặc găng tay quá ngắn, quá mỏng
Riêng YB, nhân viên không có phơng tiện làm
việc chuyên dụng và việc sử dụng phơng tiện
BHLĐ thì không thờng xuyên
Các BV đều gặp khó khăn về kinh phí mua
sắm các vật t, dụng cụ tiêu hao cho quản lý
chất thải (bao bì, hộp đựng, phơng tiện vận
Có 2/6 BV (QN, ĐT) thực hiện tất cả các
CB/NV của BV tham gia phân loại rác, các BV
khác chủ yếu do hộ lý, y tá làm. Theo quy chế
QLCT việc phân loại rác phải đợc tiến hành
ngay tại nguồn, nh vậy tất cả những ngời tạo
ra chất thải đều phải có nhiệm vụ phân loại
chất thải [1]. Nếu chất thải không đợc phân
loại ngay tại nguồn phát sinh mà tập trung lại
rồi mới phân loại sẽ dẫn đến sự nhầm lẫn trong
phân loại từ đó sẽ tăng chi phí cho XLCT nguy
hại, mặt khác, tăng nguy cơ gây thơng tích
cho những ngời thu gom vận chuyển. Theo
chúng tôi tất cả các khâu trong dây chuyền
QLCT cần có sự phân công cụ thể, hợp lý để
động viên giúp đỡ kịp thời, gắn mọi ngời với
trách nhiệm của mình và cũng tạo điều kiện
cho việc kiểm tra giám sát đợc thuận lợi
Thực hiện quy định về bao bì đựng rác và
vận chuyển chất thải: 2 BV đã đựng rác vào các
bao bì theo hớng dẫn của Bộ Y tế (QNg, ĐT),
các BV khác cha thực hiện. Tìm hiểu nguyên
nhân chúng tôi đợc biết một phần do không có
kinh phí, một phần do cha có quy định bắt
buộc
* Lu giữ, vận chuyển chất thải: Cả 6 BV
đều nằm ở vị trí bất lợi cho khu dân c, vì vậy
nếu không QLCT tốt sẽ không thể tránh khỏi
khả năng gây ảnh hởng đến khu dân c. Thực
tế, trong 6 BV nghiên cứu chỉ có một BV (ĐT)
đạt tiêu chuẩn vệ sinh nơi lu giữ chất thải: kín,
Chất thải lỏng: Cả 6 BV đều có hệ thống
cống thoát nớc thải nhng chất lợng cống
khác nhau, riêng YB, cống không có nắp đậy.
Về xử lý nớc thải, tại YB, toàn bộ nớc thải
không đợc xử lý đổ trực tiếp ra suối, 2 BV xử
lý 1 phần nớc thải (QN, CT) và 3 BV (PT,
QNg, ĐT) toàn bộ nớc thải đợc xử lý. Có 4/6
BV nớc thải trực tiếp đổ vào nguồn nớc hoặc
khu vực canh tác của nhân dân (đặc biệt ĐT,
nớc thải của BV đổ trực tiếp vào dòng sông
mà dân sử dụng cho ăn uống, tắm giặt). Nớc
thải sau xử lý của các BV đã xử lý nớc thải
mới chỉ đánh giá tiêu chuẩn vi sinh vật. Nhng
thực tế, ngoài khả năng lan truyền các vi sinh
vật gây bệnh, nớc thải của BV còn chứa nhiều
chất độc hại đợc sử dụng trong chẩn đoán và
điều trị (chất gây độc tế bào, phóng xạ) [1]. Vì
vậy cha thể đảm bảo nớc thải của các BV
này không còn khả năng gây hại
Chất thải khí: Cả 6 BV đều cha có bộ phận
XLCT khí. Qua thông tin thu thập đợc từ các
BV chúng tôi thấy rằng việc các BV cha quan
tâm đến chất thải khí là do ít hiểu biết về ảnh
hởng cũng nh biện pháp xử lý đối với chất
thải khí. Hơn nữa các bệnh viện cha có cán bộ
chuyên môn về QLCT
* Phơng tiện bảo hộ và phơng tiện làm
việc chuyên dụng: Những ngời làm việc trong
dây chuyền QLCT là đối tợng có nguy cơ cao
bị ảnh bởi chất thải [2] do vậy, cung cấp đủ
là 1,27 và 0,6 kg. So với kết quả khảo sát của
Bộ Y tế năm 1998 thì lợng này thấp hơn [2].
Lợng chất thải rắn ở nhóm 1 cao hơn nhóm 2
chủ yếu do chất thải sinh hoạt của CT rất cao.
Qua khảo sát thực tế lợng rác thải của CT cao
hơn là do ngoài lợng rác sinh hoạt nh 5 BV
kia, tại CT lợng rác ngoại cảnh chiếm một
lợng lớn phát sinh từ các dịch vụ phục vụ
bệnh nhân, ngời nhà, cán bộ nhân viên BV và
tổ từ thiện phát chẩn cho bệnh nhân nghèo.
Nếu tính theo nhóm chuyên khoa thì ở tất cả
các bệnh viện đều cao nhất ở khối Ngoại Sản,
61
TCNCYH 21 (1) - 2003
rồi đến nhóm giờng bệnh Nội - Nhi. Nhóm
giờng bệnh Lây - Lao và các giờng bệnh
khác lợng rác thải ít hơn. Tỷ lệ rác thải sinh
hoạt chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả hai nhóm BV
(>80%) và không khác nhau đáng kể giữa hai
nhóm. Rác thải lâm sàng chiếm > 18%), Rác
thải hoá học chiếm tỷ lệ rất thấp (<1%). Kết
quả này cũng phù hợp với các kết quả khảo sát
của Bộ Y tế năm 1998 [2]. Nhìn chung XLCT
đều cao hơn lợng rác thải của các BV đã có
XLCT. Riêng rác thải hoá học chiếm tỷ lệ rất
thấp hoặc không có ở cả 6 BV
Qua kết quả khảo sát chúng tôi thấy khi các
BV thực hiện XLCT, lợngrác thải tại các BV
sẽ giảm đi, rõ ràng đây là một dấu hiệu tốt vừa
thực hiện đúng theo quy định của Bộ Y tế.
Không có kinh phí riêng cho quản lý chất thải
VI. Kiến nghị
1. Kiến nghị với các bệnh viện:
- Mỗi BV cần có một bộ phận chuyên môn
đợc đào tạo, trang bị kiến thức cần thiết để
đảm nhận việc QLCT của bệnh viện
- Có văn bản hớng dẫn cụ thể quy trình
QLCT và quy định chức trách nhiệm vụ cho
từng đối tợng dán tại tất cả các khoa/phòng
của bệnh viện. Thờng xuyên kiểm tra, giám
sát việc QLCT tại các khoa/phòng
- Cung cấp đủ phơng tiện bảo hộ (ủng,
găng tay, quần áo bảo hộ) và quy định sử dụng
phơng tiện bảo hộ bắt buộc cho những ngời
trực tiếp quản lý chất thải.
2. Kiến nghị với Bộ Y tế:
- Đối với các BV cha có phơng tiện
XLCT: trang bị phơng tiện XLCT đúng tiêu
chuẩn chất lợng, phù hợp với quy mô của từng
BV
- Cung ứng phơng tiện, dụng cụ, bao bì
đựng rác thải thống nhất cho toàn bộ hệ thống
BV
- Hớng dẫn các biện pháp XLCT lỏng và
khí thích hợp cho các BV. Quy định và hớng
dẫn kiểm tra định kỳ tiêu chuẩn môi trờng đối
với các BV đã XLCT. Kiểm tra/giám sát
thờng xuyên việc thực hiện QLCT của các BV
để duy trì và hỗ trợ kịp thời.
Summary
hospital waste management status
at six general hospitals at provincial level
The results of the cross sectional survey on Hospital waste management status in six general
hospitals at provincial level: Yenbai, Phutho, Quangnam, Quangngai, Cantho, Dongthap are:
- Quantity of solid wastes: total of average solid waste/hospital bed/day: 0.6 - 1.27 kg. In which,
domestic wastes: 80.8 - 81.3%; clinical wastes: 18,2 18,9%; chemical wastes: 0.3 - 0.5%.
- Waste management status:
Solid wastes: The classification, collection of solid wastes by Regulation of hospital waste
management of the Ministry of Health is feasible at provincial general hospitals. But non of the six
hospitals followed fully the regulation in terms of the classification of solid waste, and use bags,
transportation facilities. 3 of 6 hospitals (QN, QNg, ĐT) have oven with technical standards to burn
clinical wastes, but only 2 of them disposing clinical wastes at the hospital in these ovens.
Liquid and emission wastes: 3 of 6 hospitals treat liqid wastes, non of them treat emission
wastes. Both of them have poor understanding about treatment of liquid, emission wastes and
criteria for evaluation. Liquid wastes after treatment are not controlled fully and continuously
- Difficulties in hospital waste management: shortage of staff with necessary knowledge so that
it can run hospital waste management; theres not enough equipments and materials for
classification solid wastes; theres not separate fund for hospital waste management activities.
63