Tài liệu MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ RAU AN TOÀN Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ - Pdf 10



253

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 71, số 2, năm 2012 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ RAU AN
TOÀN Ở TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Lê Thị Hoa Sen, Hồ Thị Hồng

Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế

Tóm tắt. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến sản
xuất và tiêu thụ rau an toàn ở tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất giải pháp phát triển.
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 5 năm 2011 ở tỉnh Thừa
Thiên Huế. Thông tin phân tích trong nghiên cứu này được thu thập thông qua thảo
luận nhóm người sản xuất rau ở hai hợp tác xã Kim Thành và Quảng Thọ tỉnh Thừa
Thiên Huế; phỏng vấn 161 hộ tiêu dùng ở hai Phường Tây Lộc và Thuận Hòa thành
phố Huế và các tiểu thương ở chợ và cán bộ hai phường nói trên. Kết quả cho thấy
rằng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn đang gặp rất nhiều khó khăn. Sản xuất rau an
toàn có tính rủi ro cao hơn, năng suất thấp hơn rau thường từ 15 đến 30% và mất
nhiều công lao động hơn rau thường. Trong khi đó người tiêu dùng còn thiếu nhận
thức và thiếu thông tin về rau an toàn. Bên cạnh đó chưa xác định rõ cơ quan ban
ngành quản lý và đảm bảo chất lượng rau an toàn nên khó tạo lòng tin cho người
tiêu dùng. Do vậy, chỉ khoảng 20% sản lượng rau an toàn được bán vào thị trường
cần có xác nhận rau an toàn. 80% sản lượng rau an toàn còn lại phải bán lẫn lộn với
rau không sản xuất theo qui trình an toàn. Đây là những yếu tố chính cản trở sản
xuất rau an toàn ở địa bàn nghiên cứu. Để đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ rau an
toàn tại thành phố Huế cần tiến hành đồng thời nhiều giải pháp, trong đó chú trọng
vào (i) nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng;(ii) cung cấp thông tin đầy đủ về

độc cấp tính và mãn tính cho người tiêu dùng (Ngô Thị Thuận, 2010). Nhằm thúc
đẩy sản xuất và tiêu thụ rau an toàn (RAT) ở tỉnh Thừa Thiên Huế (TTH), chúng tôi
tiến hành nghiên cứu xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ RAT
ở tỉnh TTH với các mục tiêu cụ thể sau:
(i) Tìm hiểu thực trạng sản xuất rau an toàn trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế;
(ii) Tìm hiểu thực trạng tiêu thụ rau an toàn ở thành phố Huế;
(iii) Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau an toàn từ đó
đề xuất giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Hợp tác xã (HTX) Kim Thành và HTX Quảng Thọ là hai trong 5 HTX của tỉnh
Thừa Thiên Huế được qui hoạch sản xuất RAT cung ứng cho thành phố Huế. Đây là hai
HTX tiên phong trong phát triển RAT theo qui trình VietGAP. Các vùng qui hoạch sản
xuất RAT chủ yếu để phục vụ nhu cầu RAT của người tiêu dùng thành phố Huế, trong
đó Tây Lộc và Thuận Hòa là 2 phường tập trung đông dân cư, hoạt động thương mại
phát triển có chợ loại 1 của thành phố và nhiều chợ lớn nhỏ hoạt động. Do vậy, nghiên
cứu chọn 2 HTX Kim Thành, Quảng Thọ và 2 phường Tây Lộc và Thuận Hòa làm địa
điểm nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu chính là người sản xuất rau và ban chủ nhiệm của hai
HTX nêu trên, cán bộ sở Nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế, người tiêu dùng, tiểu
1
VietGAP là nhng quy đnh v thc hành sn xut nông nghip tt do B Nông Nghip & phát
trin nông thôn cùng vi các c quan liên quan xây dng năm 2008.
2
Rau thng là rau đc trng không theo qui trình VietGAP.
TTH đã qui hoạch phát triển các vùng RAT để cung ứng cho người tiêu dùng thành
phố Huế. Dựa vào các tiêu chí về nguồn đất và nước, một số địa phương được qui
hoạch gồm HTX Kim Thành và HTX Quảng Thọ, huyện Quảng Điền; HTX Hương
An và HTX Hương Chữ, huyện Hương Trà; và HTX Hương Long, thành phố Huế.
Diện tích và chủng loại rau sản xuất ở các vùng quy hoạch được thể hiện qua bảng 1. 256

Bảng 1. Diện tích và chủng loại rau an toàn của tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2010
Stt Đơn vị
Diện tích
(ha)
Chủng loại rau an toàn
1
HTX Kim Thành, xã
Quảng Thành, huyện
Quảng Điền
5,6
Cải bẹ xanh (Brassica juncea), Cải cúc
(Chrysanthemum coronarium L), Xà
lách (Lactuca sativa Var.Capitta L.),
Rau thơm (Coriandrum sativum), Ngò
rí (Coriandrum sativum), Ớt xanh cao
sản (Capsicum annum L.), Rau dền
(Amaranthus mangostanus)…
2
HTX Quảng Thọ 2, xã
Quảng Thọ, huyện
Quảng Điền

L.), Rau thơm (Coriandrum sativum), Ngò rí (Coriandrum sativum), Ớt xanh cao sản
(Capsicum annum L.), Rau dền (Amaranthus mangostanus), Rau má (Centella asiatica),
Mướp đắng (Momordica charantia). Trong năm 2011 diện tích trồng RAT đã bị thu hẹp
đáng kể. Ở HTX Kim Thành và HTX Quảng Thọ là 2 điểm sản xuất RAT được duy trì
với diện tích 2,5 ha và 1,8ha.
3.1.2. Hiệu quả sản xuất RAT ở địa bàn nghiên cứu
Hiệu quả sản xuất RAT được đánh giá thông qua việc tìm hiểu chênh lệch năng suất,
chi phí, lợi nhuận của các chủng loại RAT với rau thường. Kết quả tìm hiểu năng 257

suất các chủng loại RAT ở 2 HTX Quảng Thành và Quảng Thọ trong năm 2010 được
trình bày ở bảng 2. Do sản xuất theo qui trình VietGAP nên năng suất của hầu hết các
loại RAT ở 2 xã nghiên cứu thấp hơn từ 15 đến 30% so với rau thường. Điều này do rau
là loại cây mẫn cảm với thời tiết, khí hậu và có nhiều sâu, bệnh phá hoại nên áp dụng
qui trình VietGAP sâu bệnh hại rất nhiều. Bên cạnh đó hạt giống rau thường được người
dân mua qua trung gian nên không đảm bảo chất lượng. Đó là hai yếu tố chính làm cho
năng suất của RAT ở địa bàn nghiên cứu không cao.
Bảng 2. Năng suất (tạ/ha/vụ) các loại rau an toàn và rau thường ở địa bàn nghiên cứu
Sản xuất rau
an toàn
Sản xuất rau
thường
XãLoại rau
Quảng
Thành
258

Giá bán rau được tính tại thời điểm điều tra và giá trị sản xuất được tính bằng sản
lượng*giá bán. Thu nhập (bao gồm cả công lao động) chính là hiệu của giá trị sản xuất
với chi phí trung gian và lãi ròng là hiệu của thu nhập (bao gồm cả công lao động) với
chi phí lao động. Kết quả điều tra được thể hiện ở bảng 3.
Kết quả ở bảng 3 cho thấy sản xuất RAT có chi phí trung gian thấp hơn sản xuất
rau thường nhưng chi phí lao động lại cao hơn trên 20% so với rau thường. Công lao
động tăng lên trong sản xuất RAT chủ yếu ở khâu làm đất và chăm sóc và phòng trừ
dịch hại. Mặc dù giá rau cải và xà lách an toàn cao hơn giá rau thường từ 1000- 1500/kg
(18-23%) nhưng giá trị sản xuất RAT vẫn thấp hơn rau thường 10.700.000 đồng/ha đối
với rau cải và 2.900.000đồng/ha đối với xà lách. Đây là một trong những yếu tố cản trở
đến sản xuất RAT ở địa bàn nghiên cứu.
Bảng 3. Hiệu quả kinh tế rau cải, xà lách an toàn so với rau cải, xà lách thường
ở địa bàn nghiên cứu
Rau an toàn (A) Rau thường (B)
Chênh lệch
(A) - (B)
Loại rauChỉ tiêu
Đơn vị
tính
Cải Xà lách

Cải Xà lách


Yếu tố ảnh hưởng tích cực Yếu tố ảnh hưởng tiêu cực
1. Sự hỗ trợ của dự án về giống,
phân bón, thuốc BVTV và chi
phí lao động.
Am hiểu và lòng tin của người tiêu
dùng về RAT còn hạn chế.
2. Đảm bảo sức khỏe cho người
sản xuất và người tiêu dùng.
Thị trường tiêu thụ hạn hẹp- chỉ cung
ứng cho một số siêu thị và nhà hàng của
thành phố Huế.
3 Hình thành tập quán sản xuất
RAT và nâng cao ý thức trách
nhiệm của mọi người.
Chi phí lao động cao hơn, năng suất
thấp hơn và rủi ro cũng nhiều hơn rau
thường.
4 Tạo việc làm: chăm sóc, sơ
chế…
Chưa có chính sách hỗ trợ thích đáng
(Nguồn: Thảo luận nhóm người dân HTX Kim Thành và HTX Quảng Thọ, 2010).

Sơ đồ 1. Các kênh tiêu thụ rau an toàn ở địa bàn nghiên cứu
(Nguồn: Thảo luận nhóm người dân, 2010).
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, thị trường cho đầu ra là một trong những cản
trở chính của sản xuất RAT theo qui trình VietGAP. Mặc dầu là RAT được sản xuất
Th

tr



ngoài
đ

a
ph
ng

Bán l

t

i ch


đa phng
Bán s cho
t thng
ti ch
đa
ph
ng
260

theo quy trình VietGAP cho năng suất thấp và chi phí cao hơn rau thường nhưng trên
80% sản lượng RAT phải bán vào thị trường tự do không cần nhãn mác và không cần
chứng nhận an toàn. Giá rau an toàn bán ra ở các kênh này cũng ngang bằng với rau

Sự lựa chọn kênh cung ứng rau cũng phản ánh nhu cầu về chất lượng rau 261

của người tiêu dùng. Ở địa bàn nghiên cứu người tiêu dùng tiếp cận các kênh cung ứng
rau khác nhau gồm chợ trung tâm, chợ lẻ, siêu thị, tại vườn và người bán dạo. Bảng 6
trình bày các địa điểm thường mua rau của các hộ điều tra.
Bảng 6. Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn kênh cung ứng rau của người tiêu dùng
Kênh cung ứng
Số người trả lời
(n=161)
Tỷ lệ % Lý do chọn điểm mua rau
Chợ Tây Lộc 145 90,06 Đa dạng và thuận tiện
Người bán dạo 54 33,54 Thuận tiện
Chợ Tây Linh 29 18,01 Đa dạng, giá rẻ và thuận tiện
Tại vườn 15 9,32 Tin tưởng chất lượng
Chợ Thuận Hòa 5 3,11 Thuận tiện và giá rẻ
Siêu thị 11 6,83 An toàn
Chợ lẻ 6 3,73 Thuận tiện và giá rẻ
(Nguồn: Phỏng vấn hộ, 2010).
Số liệu bảng 6 cho thấy, người tiêu dùng chủ yếu mua rau tại các chợ lớn đóng
trên địa bàn như chợ Tây Lộc và chợ Tây Linh. Trên 90% số hộ được hỏi thường xuyên
mua rau ở các chợ này với lý do là chủng loại phong phú, đa dạng và giá rẻ. Một số hộ
lựa chọn các chợ Thuận Hòa, chợ lẻ hoặc bán dạo với lý do thuận tiện và giá cả phải
chăng. Các siêu thị ở Huế cung ứng các loại rau an toàn có xuất xứ rõ ràng, tuy vậy tỷ lệ
hộ chọn mua rau ở siêu thị vẫn còn hạn chế, chiếm dưới 7% số hộ điều tra.
Đánh giá về kênh cung ứng qua siêu thị, trên 80% số hộ cho rằng tuy rau có
nguồn gốc rõ ràng, an toàn hơn nhưng vẫn ít người dân lựa chọn. Lý do bao gồm: thứ
nhất, người dân đã có thói quen mua rau tại chợ và cách thức mua bán này thuận tiện

3.3. Giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở Thừa Thiên Huế
Để người tiêu dùng tiếp cận đến thị trường rau an toàn nhiều hơn, thúc đẩy sản
xuất và tiêu thụ rau an toàn đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng thành phố Huế, một
số kiến nghị được người dùng và cán bộ các cấp đưa ra ở bảng 8.
Bảng 8. Các giải pháp đề xuất để phát triển thị trường rau an toàn ở thành phố Huế
Giải pháp đề xuất
Người trả lời
(n=161)
Tỷ lệ (%)
Thông tin cho người tiêu dùng về RAT: chủng loại,
giá, chất lượng.
62 38,51
Tổ chức địa điểm bán thuận lợi 58 36,02
Quy hoạch vùng sản xuất RAT 54 33,54
Cam kết chất lượng của người sản xuất 48 29,81
Đa dạng chủng loại RAT 35 21,74
Cần mở đại lý cung cấp RAT 30 18,63
Có chính sách hỗ trợ giám sát, quản lý (chặt chẽ) 10 6,21
(Nguồn: Phỏng vấn hộ tiêu dùng, 2010). 263

Kết quả ở bảng 8 cho thấy rằng cung cấp đầy đủ thông tin cho người tiêu dùng
về chủng loại rau, giá cả, chất lượng và có địa điểm bán thuận lợi cho người mua là hai
trong những giải pháp được người tiêu dùng để xuất nhiều nhất. Ngoài ra, để đảm bảo
thị trường rau an toàn phát triển, các vùng qui hoạch sản xuất rau cần đa dạng chủng
loại hơn, có vùng qui hoạch rõ ràng và có cơ quan đứng ra cam kết chất lượng. Khoảng
48% số hộ được hỏi cho rằng nếu có cam kết về chất lượng và địa điểm bán thuận lợi thì
giá cả không phải là yếu tố quan trọng ảnh hưởng quyết định sử dụng RAT của người

264
265

4.2. Đề xuất
Để thúc đẩy tiêu thụ rau an toàn và phát triển sản xuất rau an toàn ở tỉnh Thừa
Thiên Huế, một số giải pháp sau được đề xuất:
- Người sản xuất phải cam kết đảm bảo chất lượng rau an toàn
- Cần xác định rõ cơ quan, ban ngành có liên quan đảm bảo chất lượng cho
người tiêu dùng
- Cần tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng về an toàn thực
phẩm và khuyến khích người tiêu dùng sử dụng RAT.
- Tổ chức địa điểm bán thuận lợi cho người tiêu dùng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đồng Sỹ Đoàn, Luận văn thạc sỹ nghiên cứu: Điều tra thực trạng sản xuất và tiêu thụ
rau an toàn tại Thừa Thiên Huế, 2005.
2. Đỗ Văn Đặng, Luận văn tốt nghiệp đại học: đánh giá hiệu quả sản xuất RAT ở tỉnh
Thừa Thiên Huế, 2010.
3. Lê Văn Tiến, Luận văn tốt nghiệp đại học: Tìm hiểu thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau
sạch tại xã Quảng Thành, Thừa Thiên Huế, 2009.
4. Ngô Thị Thuận, VietGAP trong sản xuất rau ở Hà Nội, Tạp chí khoa học Nông nghiệp,
trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, số 6, (2010), 1029-1036,
5. Sở NN & PTNT Thừa Thiên Huế, Báo cáo tình hình sản xuất và tiêu thụ rau xanh 2010.

FACTORS AFFECTING SAFE VEGETABLE PRODUCTION AND
CONSUMPTION
IN THUA THIEN HUE PROVINCE

Keywords: Safe vegetables, consumption, Hue city, production.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status