Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và khả năng bảo quản hoa loa kèn trắng - Pdf 68

Kho¸ luËn tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng – BQ50B
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, do kinh tế phát triển mạnh mẽ, con người
không chỉ quan tâm về đời sống vật chất mà còn quan tâm rất nhiều về đời
sống tinh thần. Trong đời sống tinh thần đó, người ta không thể không kể đến
giá trị của các loài hoa.
Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm tạo nên các vùng sinh thái đa
dạng thích hợp cho trồng trọt nhiều chủng hoa đẹp của Việt Nam và thế giới.
Hiện nay nước ta có khoảng 5000 ha sản xuất hoa cây cảnh với tổng sản
lượng ước tính khoảng 4 tỷ cành hoa. Năm 2001, cả nước có hơn 8000 ha đất
trồng hoa, chủ yếu tập trung ở các tỉnh thành như Lâm Đồng (1254 ha), Hà
Nội (867 ha), Hưng Yên (867 ha)…, với doanh thu là 291 tỷ đồng, trong đó
giá trị xuất khẩu đạt 7 tỷ đồng. Về mặt kinh tế, nghề trồng hoa đem lại lợi
nhuận cao hơn trồng lúa. Chính vì vậy nghề trồng hoa ngày càng được phát
triển, qui mô, diện tích và chủng loại hoa cũng ngày được tăng lên [25].
Xét về cơ cấu, nước ta chủ yếu trồng các loài hoa như: lan, hồng, lay ơn,
cúc, hoa loa kèn trắng… Trong các loài hoa trên, tuy hoa loa kèn trắng còn là
loài hoa khá mới mẻ nhưng do có vẻ đẹp thanh khiết, hương thơm dịu nhẹ nên
ngày càng được ưa chuộng.
Hoa loa kèn trắng (hay còn gọi là Huệ tây) du nhập vào nước ta cùng với
hoa phăng (hoa cẩm chướng)... Huệ tây được trồng đầu tiên tại Ðà Lạt, vì nơi
đây có khí hậu ôn đới rất phù hợp với đặc tính của loa kèn, sau đó phát triển
dần sang các tỉnh khác. Trong các loài hoa du nhập vào nước ta như các loài
hồng, cẩm chướng, violet... thì hoa loa kèn được người tiêu dùng ưa chuộng
hơn cả. Nhất là với Hà Nội, hoa loa kèn được coi là một thứ hoa sang trọng,
quyền quý... một thứ gì đó trong sáng, nhẹ nhàng đặc trưng của Hà Nội mỗi
khi tháng tư về ... Trước Cách mạng Tháng Tám, hầu như loa kèn là một thú
chơi của dân nhà giàu, có một chút gì hướng ngoại, hướng về phương Tây.
1
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng – BQ50B

cắm hoa tốt nhất.
3
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng – BQ50B
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Giới thiệu chung về hoa loa kèn trắng
Hoa loa kèn (hay còn gọi là Huệ tây) là tên gọi chung cho các loài hoa
thuộc họ Liliaceae (cũng có sách ghi là họ Hành Tỏi). Tuy nhiên phần lớn các
hoa thuộc họ này có một đặc điểm chung là hoa loe ra nhìn như cái kèn, nên
được gọi là hoa loa kèn – tên đặt theo hình dáng bông hoa.
Nếu hoa hồng được coi là biểu tượng của Vua và Hoàng hậu, biểu tượng
của tình yêu thì hoa loa kèn được coi như “hoa của chúa trời” bởi sự duyên
dáng, thanh nhã trong hình dáng bông hoa và sự màu trắng tinh khiết của cánh
hoa. Hoa loa kèn trắng đã trở thành biểu tượng của sự hồi sinh của chúa Jesus.
Chính vì vậy hoa còn có tên là Easter lily- hoa của ngày lễ Phục sinh.
Lily cho mùa lễ Phục sinh (Easter Lily) xuất xứ từ Nhật Bản và mọc dại
tự nhiên ở nhiều nơi khác như Trung Quốc, Formosa, quần đảo Lichu ... Lily
đã từng được nhắc đến trong một cuốn sách về vườn cảnh Nhật Bản từ năm
1681. Easter Lily đến vương quốc Anh năm 1819 và chẳng bao lâu sau đó, nó
đã trở thành một bông hoa quen thuộc được ưa chuộng. Những củ hoa Huệ
Tây được xuất khẩu sang Anh, Mỹ từ Bermuda, bấy giờ là trung tâm sản xuất
Hoa Huệ Tây thương mại đầu tiên ngoài Nhật Bản. Các củ Huệ Tây lúc đó
còn được gọi là "Vàng Trắng" (White Gold) [26].
Trong hệ thống phân loại thực vật, cây hoa loa kèn được xếp vào nhóm
lá mầm (Monocotylendones), phân lớp hành (Lilidae), họ hành (Liliaceae), chi
Lilium. Họ hành có rất nhiều loại khác nhau với những dạng hoa và màu sắc
hết sức đa dạng, phong phú và hấp dẫn. Từ các loại hoa có hình phễu như
L.longiflorum, L.candidum, L. wallichianum, hình chén như: L.martagon hay
với những cánh hoa nhỏ hẹp đến dạng hình chuông, nõ điếu…, từ những loài
hoa có hương thơm tinh khiết đến loài hoa có mùi khó chịu [2].
4

biệt được ưa chuộng trong dịp lễ tết [19].
Giá trị kinh tế mà hoa loa kèn trắng đem lại cho nước Mỹ không ngừng
tăng lên.
2.2.2. Tại Việt Nam
Ở Việt Nam đang trồng phổ biến giống hoa loa kèn ta, giống hoa này có
ưu điểm là không cần xử lý củ giống, khi trồng vẫn có thể ra hoa, hoa nở
đồng đều. Tuy nhiên, nhược điểm của nó lại nở rộ vào tháng 4, tháng 5 là thời
điểm thị trường tiêu thụ hoa không cao.
Hiện nay, theo thống kê chưa đầy đủ nước ta có khoảng 100 ha đất trồng
hoa loa kèn. Diện tích ít ỏi này phân bố chủ yếu ở Đà Lạt, Hà Nội và đang
đượcph át triển ở một số tỉnh khác như: Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải
Phòng, Quảng Ninh. Trong đó, hoa phục vụ xuất khẩu chủ yếu được trồng ở
Đà Lạt. Hàng năm, Đà Lạt cung cấp khoảng 34 triệu cành hoa loa kèn cắt cho
thị trường tiêu dùng [21].
Bên cạnh đó, hiện nay nước ta đang nghiên cứu và sản xuất hoa loa kèn
chịu nhiệt. Hoa loa kèn chịu nhiệt còn có tên Raizan, có nguồn gốc từ Hà Lan.
Năm 2005, Viện Nghiên cứu rau quả Hà Nội (Viện Khoa học Nông nghiệp
Việt Nam) đã phối hợp với Công ty CP Hoa Nhiệt Đới tiến hành nghiên cứu
trồng thử nghiệm tại Gia Lâm (Hà Nội) kết quả cho năng suất và chất lượng
hoa cao; hiệu quả kinh tế cũng cao hơn 1,5 ÷ 2 lần so với các giống khác. Sau
một thời gian nghiên cứu, nhận thấy chất đất và khí hậu ở xã Việt Hưng phù
hợp, tháng 8/2008, phòng kinh tế thành phố đã triển khai thực hiện dự án:
“Trồng khảo nghiệm hoa loa kèn chịu nhiệt tại TP Hạ Long” [24].
Nhìn chung, loa kèn còn là cây trồng mới, cơ sở hạ tầng cho sản xuất
chưa được đầu tư tương xứng. Mặt khác, do thời vụ hoa loa kèn ngắn, các nhà
sản xuất chưa dám đầu tư trồng hoa với diện tích lớn vì sợ không tiêu thụ kịp
6
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng – BQ50B
trong những ngày hoa nở rộ. Mỗi năm có khoảng 8 vạn củ giống được xử lý
cho ra hoa trái vụ, chiếm khoảng 25% lượng hoa loa kèn chính vụ. Sản xuất

2.3.1.2. Quá trình hô hấp
Hô hấp là quá trình cây trồng hấp thụ O
2
và thải khí CO
2
, O
2
từ không
khí sẽ phân huỷ các hợp chất hydratcarbon trong cây thành CO
2
và nước.
Phản ứng này sinh ra năng lượng dưới dạng nhiệt năng. Hô hấp hảo khí sử
dụng đủ O
2
của không khí thải ra CO
2
và hơi nước, cứ 1 phân tử đường sinh
ra 674 Kcal [9].
C
6
H
12
O
6
+ 6 O
2
→ 6CO
2
+ H
2

2
/O
2
khí quyển tồn trữ có tác dụng quyết định đến quá trình hô hấp. Nếu
O
2
giảm xuống dưới 3,5% thì cường độ hô hấp bắt đầu giảm. Tuy nhiên quá
trình hô hấp yếm khí sẽ tích tụ rượu, aldehid, các chất gây độc cho hoạt động
sinh lý của mô đồng thời tiêu hao chất dinh dưỡng. Với trường hợp không đủ
không khí, nhiều nhà nghiên cứu cho thấy khi bảo quản hoa cắt các tế bào dần
mất khả năng hấp thụ O
2
, dần chuyển sang quá trình hô hấp yếm khí, tích tụ
các hợp chất trung gian của quá trình hô hấp không hoàn toàn như rượu, acid,
aldehid… có thể làm giết chết tế bào.
- Tăng nhiệt độ của sản phẩm: Hô hấp sản sinh ra nhiệt và đây là tác
nhân gây thối, hỏng hoa.
Cường độ hô hấp của mỗi loại hoa phụ thuộc vào chính bản thân hoa
bảo quản (giống, độ nở, mức độ nguyên vẹn) và các yếu tố của môi trường
tồn trữ (nhiệt độ, độ ẩm, sự thông gió, thời gian tồn trũ, ánh sáng…). Cường
độ hô hấp còn phụ thuộc vào việc cung cấp O
2
. Trong môi trường có ít O
2
,
lượng O
2
không đủ cho quá trình hô hấp bình thường, mức độ hô hấp cực đại
bị ức chế. Để cung cấp đủ oxi cho quá trình hô hấp phải có sự thông gió cho
sản phảm. Hô hấp quá mức cũng sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình bảo

có hoạt tính sinh lý ở nồng độ rất thấp (chỉ 0,5 ppm). Sự nhạy cảm với
ethylene khác nhau tuỳ theo loại hoa. Tuy nhiên sự tiếp xúc của hoa với
ethylen sẽ tăng tốc độ hoá già [23].
Ethylene được sản sinh ở tất cả các cơ quan của cây: lá, thân, rễ, hoa,
quả. Hoa cắt sản sinh một lượng rất lớn ethylene sau khi thu hoạch, đặc biệt
sau khhi thụ phấn. Ethylene có thể làm thay đổi khí quyển bảo quản xung
quanh hoa cắt ảnh hưởng đến thời gian vận chuyển và bảo quản hoa cắt.
Ethylene có thể làm:
10
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng – BQ50B
- Ức chế sự nở hoa.
- Gây rụng các cơ quan (lá, hoa, đốt).
- Rụng cánh hoa.
- Tóp cánh hoa.
- Ngăn cản sự hút nước.
- Đẩy nhanh quá trình già hóa [5].
Tính mẫn cảm với ethylene ở các loài hoa khác nhau là khác nhau. Tính
mẫn cảm trên còn phụ thuộc vào giai đoạn sinh lý của hoa lúc thu hoạch và có
thể phụ thuộc vào sự cân bằng các chất điều tiết sinh trưởng nội sinh.
Việc chống lại tác động của ethylene có thể đạt được bằng cách xua đuổi
ethylene ra khỏi phòng bảo quản, hoa cắt có thể được giữ xa nguồn sản sinh
ethylene, ức chế sự sản sinh và tác động của ethylene. Không nên bảo quản
chung hoa nở với hoa chưa nở vì hoa đã nở đã có bao phấn - nguồn sản sinh
lớn ethylene.
Ở nhiệt độ thấp, ethylene sản sinh bởi hoa là thấp và bản thân ethylene
hoạt động kém. Tuy nhiên, ngay ở nhiệt nhiệt độ này, một lượng nhỏ ethylene
được sản sỉnh ra cũng đủ làm hư hỏng hoa cắt nếu nó tích luỹ đến nồng độ đủ
lớn. Do đó trong quá trình bảo quản hoa việc làm lạnh ban đầu dể giảm tốc độ
sản sinh ethylene là rất quan trọng [15].
2.3.1.5. Sự thoát hơi nước

N-P-K không cân đối với nhu cầu sinh trưởng của cây hoa, thiếu các nguyên
tố vi lượng đều làm giảm khả năng tồn trữ của hoa [6].
2.3.2.2 . Thời điểm thu hoạch
Mỗi loài hoa đều có thời điểm thu hoạch thích hợp. Thời điểm này phụ
thuộc vào giông, loài và mục đích sử dụng sau thu hoạch (như để bán ngay
12
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng – BQ50B
hay tồn trữ…). Hoa nếu thu hái sớm khi cuống còn non, hoa có thể không nở
được hoàn toàn, hoa thu hái muộn quá thì lại chóng tàn.
Hoa thu hoạch tốt nhất vào buổi sáng sớm, không thực hiện vào giữa
trưa vì lúc này nhiệt độ cao, ánh sáng mạnh sẽ làm cho cành hoa héo tàn
nhanh. Sau khi cắt khỏi gốc hay rời khỏi cây mẹ, sự sống của cành hoa bắt
đầu giảm dần vì khả năng hút chất dinh dưỡng, hút nước không còn nữa. Nó
chỉ sống được nhờ vào chất dinh dưỡng dự trữ còn lại trong cây, dần dần sẽ
héo tàn do sự bốc hơi nước, do nấm hay vi khuẩn xâm nhập vào các tế bào
mô làm thối rữa các mạch dẫn truyền. Vì vậy phải nhanh chóng thực hiện các
kỹ thuật phân loại và bảo quản [22].
2.3.2.3. Kỹ thuật thu hoạch
Khi cắt hoa phải dùng dao hoặc kéo sắc, cắt vát cành để diện tích tiếp
xúc của hoa với dung dịch cắm là lớn nhất và phân loại hoa ngay trong vườn
để khi đưa vào hạn chể tránh làm giập hoa. Nếu trên cành có hoa bị thối phải
dùng kéo sắc cắt bỏ để tránh lan sang những bông khác. Sau khi cắt nên cắm
ngay hoa vào chậu nước, tưới vảy nhẹ để tránh nước đọng trên mặt hoa. Đưa
vào nơi tối mát, kín gió để bảo quản trước khi đem đến nơi sử dụng.
2.3.2.4. Yếu tố ngoại cảnh
Trong quá trình bảo quản, chất lượng và tuổi thọ hoa cắt phụ thuộc vào
các nhân tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, độ ẩm, dịch hại….
a) Nhiệt độ: Nhiệt độ bảo quản có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ hoa
cắt. Khi nhiệt độ bảo quản tăng sẽ làm tăng cường độ hô hấp, tăng sự thoát
hơi nước, tăng sự sản sinh ethylene và nhanh chóng làm giảm chất lượng hoa.

giảm sinh trưởng của nấm, khuẩn. Các loại hoa cắt có nguồn gốc ôn đới như:
14
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng – BQ50B
cẩm cẩm chướng, loa kèn, thược dược,... yêu cầu nhiệt độ ở 0÷1
o
C. Các loại
hoa cắt có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới rất mẫn cảm với hư hỏng lạnh
nên đòi hỏi nhiệt độ bảo quản cao hơn: lay ơn (2÷4
o
C), lan (7÷10
o
C) [23].
Hoa trước khi đưa vào bảo quản lạnh cần làm mát sơ bộ để tránh số
nhiệt gây hư hỏng hoa. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các vùng trồng
hoa nhiệt đới, nơi nhiệt độ không khí tương đối cao.
Người ta có thể bảo quản hoa trong kho lạnh hay kho mát được xây một
tầng trên mặt đất. Trong kho lạnh ngoài các phòng tồn trữ còn có phòng máy,
phòng đóng gói, phòng phụ trợ. Tường, trần và sàn đều phải có khả năng cách
nhiệt tốt, chiều cao phòng từ 6 ÷ 7 mét. Từ những năm 60, người ta đã xây
dựng các kho lạnh tiền chế vừa nhẹ, rẻ tiền lại lắp ráp nhanh.
Nhiệt độ tối thích cho hoa cắt cũng là một vấn đề hết sức quan trọng.
Nói chung những hoa có nguồn gốc ôn đới cần nhiệt độ bảo quản thấp hơn
ngưỡng hoa có nguồn gốc nhiệt đới hoặc á nhiệt đới. Hoa cắt ở giai đoạn nụ
cần nhiệt độ thấp hơn hoa cắt đã nở một phần hay nở hoàn toàn.
Người ta có thể dùng phương pháp bảo quản lạnh khô hay lạnh ướt để
tồn trữ hoa cắt. Bảo quản lạnh khô là phương pháp bảo quản lạnh hoa cắt
trong kho mà không cắm hoa trong nước hay dung dịch hoá chất. Còn bảo
quản lạnh ướt thì hoa cắt vào nước hay dung dịch hoá chất trong phòng lạnh.
Không có phương pháp nào là tối ưu cho tất cả các loài hoa. Một số loài hoa
thích hợp cho bảo quản lạnh khô như: hồng, cúc, layơn… Trong khi đó đồng

giảm hàm lượng nước, sự giảm hydratcarbon và các chất dinh dưỡng dự trữ
khác, sự tăng sản sinh và tác dụng của ethylene, sự giảm hấp thu nước của
hoa và sự xuất hiện nấm khuẩn ở hoa.
Khác với nông sản khác, hoa cắt có khả năng hấp thụ nước, chất dinh
dưỡng, các chất kháng ethylene qua vết cắt của cuống hoa. Do đó bảo quản
hoa tươi bằng dung dịch hoá chất cho chất lượng hoa tương đối cao đồng thời
16
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng – BQ50B
ít tốn kém. Việc sử dụng một dung dịch hoá chất hợp lý để bảo quản hoa là
đúng đắn.
Quá trình già hoá của hoa trong bảo quản có liên quan tới:
- Sự giảm hàm lượng nước.
- Sự giảm hydratcarbon và các chất dinh dưỡng khác.
- Sự sản sinh và tác động của ethylene
- Sự xuất hiện nấm khuẩn ở cuống hoa.
Chính vì thế các hoá chất dùng để bảo quản hoa thường gồm:
- Chất dinh dưỡng.
- Chất làm giảm pH xuống 3÷3,5 để hạn chế nấm khuẩn và tăng cường
sự hấp thu nước.
- Chất kháng ethylene.
- Chất diệt nấm khuẩn.
Một số chất kích thích sinh trưởng cũng được sử dụng để hoa có thể nở
hoàn toàn, để giữ màu xanh cho lá và hoa có thể bền hơn trong lọ cắm.
* Chất dinh dưõng.
Đường saccharose và glucose là nguồn cung cấp dinh dưỡng chủ yếu
trong các chất bảo quản hoa thường dùng hiện nay. Tuỳ loại hoa và phương
pháp xử lý mà hàm lượng đường có thể dao động từ 0,5÷20%.
Glucose là cơ chất trực tiếp cho quá trình hô hấp.
C
6

– COOH
COOH OH
Acid citric có trong rau quả với hàm lượng khá cao. Trong cây họ citrus
phần lớn đều chứa acid này.
Trong bảo quản hoa cắt, acid citric có khả năng làm giảm pH môi trường
bảo quản. Hầu hết các vi sinh vật thích hợp với pH trung tính nên khi pH thấp
vi sinh vật sẽ bị co nguyên sinh và chết.
* Chất kháng ethylene.
Các chất kháng ethylene có thể là:
- Các chất kích thích sinh trưởng – các chất kháng ethylene gián tiếp.
Nên cân bằng các chất kích thích sinh trưởng và ức chế sinh trưởng hay
cụ thể là cân bằng gibberellin/ ethylene, tác động của ethylene có thể được
giảm bớt. Trong các chất kích thích sinh trưởng gibberellin có ứng dụng nhiều
để kháng lại tác động của ethylene.
- Các ion kim loại nặng như như bạc (Ag), coban (Co), titan (Ti)… có
thể đã ức chế quá trình chuyển triptophan thành ACC (chất tiền thân của
ethylene), do đó ethylene không được hình thành. Các hợp chất như AgNO
3
,
thiosunfat bạc (STS), TiCl
2
, CoCl
2
được bổ sung vào dung dịch cắm hoa hay
xử lý hoa cắt trước hoặc sau bảo quản lạnh là các chất kháng ethylene có hiệu
quả.
18
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng – BQ50B
- Các chất oxi hóa mạnh như ozon (O
3

Hà Lan Kogl (1934) đã xác định chất đó là axit β-indol axetic (β-IAA) và gọi
là auxin. Bằng con đường hoá học hàng loạt các hợp chất có bản chất auxin
19
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng – BQ50B
đã ra đời trong đó các chất quan trọng nhất là α-NAA (axit α- Naphtyl axetic);
IBA (axit indolbutiric)…. Dưới đây là công thức hoá học của một số auxin
quan trọng:
Auxin có tác dụng sinh lý đến quá trình sinh trưởng của tế bào, hoạt
động của tầng phát sinh, sự hình thành rễ, hiện tượng ưu thế ngọn, tính hướng
của thực vật, sự sinh trưởng của quả và tạo quả không hạt ...
Auxin kích thích sự sinh trưởng giãn của tế bào, đặc biệt giãn theo chiều
ngang của tế bào làm tế bào to về chiều ngang, vì vậy làm cho các bộ phận
của cây to về chiều ngang. Auxin hoạt hoá bơm proton, bơm các ion H
+
vào
trong màng tế bào làm giảm pH của màng tế bào nên hoạt hóa enzyme phân
hủy các polisaccharit liên kết giữa các sợi cellulose làm cho chúng lỏng lẻo và
tạc điều kiện cho thành tế bào giãn ra dưới tác dụng của áp suất thẩm thấu của
20
N
H
CH
2
- COOH
N
H
(CH
2
)
3

Auxin điều khiển ưu thế ngọn: Ưu thế ngọn là một hiện tượng đặc biệt
của cây trồng. Hiện tượng ưu thế ngọn gây ra có sự tích luỹ nhiều auxin ở
đỉnh ngọn và đầu rễ. Khi chồi ngọn và rễ chính sinh trưởng mạnh sẽ ức chế
sinh trưởng của chồi bên và rễ phụ.
Auxin kìm hãm sự rụng lá, rụng hoa …, sử dụng các loại auxin ngoại
sinh (IBA, α- NAA…) để hạn chế sự rụng lá, cánh hoa của các loại hoa cắt.
Gibberellin A
3
(GA
3
)
Gibberellin (GA) là nhóm phytohormone thứ 2 được phát hiện sau
Auxin. Năm 1955, hai nhà nghiên cứu người Anh và Mỹ đã phát hiện ra axit
gibberellic ở cây lúa von và xác định công thức hoá học của nó là C
19
H
22
O
6
.
Gibberellin có tác dụng kích thích sinh trưởng, kéo dài thân lóng của cây hòa
21
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng – BQ50B
thảo, kích thích sự nảy mầm của hạt, củ căn hành, ngăn cản quá trình rụng của
các cơ quan ( lá, hoa, quả), làm chậm quá trình chín và già hóa của các cơ
quan.... Hiện nay người ta đã phát hiện ra được hơn 100 gibberellin và ký
hiệu là A
1
, A
2

chóng của ngồng hoa. Hiệu quả này có được là do của gibberellin kích thích
mạnh lên pha giãn của tế bào theo chiều dọc. Vì vậy khi xử lý của gibberellin
cho cây đã làm tăng nhanh sự sinh trưởng dinh dưỡng nên làm tăng sinh khối
của cây. Dưới tác động của gibberellin làm cho thân cây tăng chiều cao rất
mạnh. Do vậy, xử lý GA cho cây dài ngày thì chúng có thể ra hoa trong điều
22
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng – BQ50B
kiện ngày ngắn.Ảnh hưởng đặc trưng của sự ra hoa của gibberellin là kích
thích sự sinh trưởng kéo dài và nhanh chóng của cụm hoa. Hoa loa kèn trắng
có thể ra hoa sớm hơn so với bình thường 5÷7 ngày nếu được phun GA
3
50
ppm sau khi trồng 90 ngày.
Công thức hoá học của GA
3
:
O

CO
HO OH
CH
3
COOH CH
2
GA
3
được tổng hợp ở trong phôi đang sinh trưởng, trong các cơ quan
sinh trưởng khác như lá non, quả non, rễ non… chúng được vận chuyển
không phân cực, có thể hướng ngọn hoặc hướng gốc tuỳ nơi sử dụng. Trong
tế bào, GA được tổng hợp mạnh nhất ở lục lạp. Để làm hoa nở lúc cần thiết,

2
, CO
2
với thiết bị đo nhiệt độ, độ ẩm
và nồng độ độ các khí này được diều chỉnh một cách tự động. Tất cả các
thông số này được kiểm soát một cách chặt chẽ. Phương pháp này cho chất
lượng bảo quản cao nhưng tốn kém vì thiết bị đắt tiền do đó chi phí tồn trữ
cao nên phương pháp này chưa được sử dụng phổ biến ở nước ta.
* Bảo quản hoa cắt trong khí quyển cải biến (MAS):
Cách đây khoảng 50 năm người ta đã sử dụng các túi chất dẻo như PE,
PVC để bao gói hoa cắt. Thành phần không khí trong túi trong quá trình bảo
quản bị thay đổi do hô hấp của hoa trong túi. Tùy theo lượng chiếm chỗ của
hoa so với thể tích túi, giống, loại, độ nở của hoa, nhiệt độ của môi trường và
tính chất thấm khí của túi mà sự hô hấp, sư bốc hơi nước cũng như thời hạn
tồn trữ của hoa khác nhau.
2.4. Bảo quản hoa loa kèn trắng
So với các loại hoa truyền thống như hồng, cúc… thì hoa loa kèn trắng
là loại hoa thực sự mới mẻ đối với thị trường hoa cắt nói chung và thị trường
hoa cắt Việt Nam nói riêng. Với những đặc tính ưu việt về vẻ đẹp trong hình
dáng bông hoa, hương thơm dịu nhẹ và màu trắng tinh khiết, hoa loa kèn
trắng đã được nhiều người tiêu dùng ưu chuộng. Tuy nhiên hoa loa kèn chỉ có
một mùa chính trong năm và thời vụ rất ngắn. Điều này ảnh hưởng lớn đến
hiệu quả kinh tế của sản xuất. Bên cạnh đó, mặc dù hoa cắm tươi khá lâu, đẹp,
trắng tinh khiết và thơm nhẹ nhưng lá hoa lá hoa bị vàng rất nhanh (thông
thường chỉ sau 3 ngày cắm lá đã có hiện tượng bị vàng trong khi hoa có thể
tươi 7÷9 ngày) làm giảm giá trị thẩm mỹ của hoa. Vì vậy trong những năm
24
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Vò ThÞ Hêng – BQ50B
gần đây, đã có rất nhiều nghiên cứu về hoa loa kèn trắng cả về những yếu tố
kỹ thuật trước, trong khi trồng cũng như sau thu hoạch. Trong đó những

thu hoạch, một số nghiên cứu cho thấy khi cắm hoa ở nhiệt độ phòng khoảng
20
o
C, để gần cửa sổ có nhiều ánh sáng (tránh ánh sáng trực tiếp) sẽ cho hoa
tươi lâu với cánh hoa có màu sắc và trạng thái tốt hơn. Bên cạnh đó, ngắt nhị
hoa khi hoa chưa tung phấn cũng giúp kéo dài tuổi thọ hoa loa kèn trắng.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status