Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam phát triển khá nhanh kể từ sau khi thực hiện chính
sách mở cửa 1986. Và trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng của tất cả
các lĩnh vực đều cao. Do sự tất yếu của quá trình Quốc tế hóa, toàn cầu hóa
nên nước ta không ngừng mở của hội nhập kinh tế Thế giới. Đặc biệt, năm
2006 Việt Nam gia nhập WTO, vào một sân chơi rộng lớn như vậy đó vừa là
cơ hội, cũng là thách thức lớn đối với nước ta. Một trong những khó khăn
quan trọng là sự cạnh tranh khốc liệt của các quốc gia từ bên ngoài vào trong
tất cả các lĩnh vực. Trong đó phải kể đến lĩnh vực tài chính - ngân hàng, hiện
nay hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam phát triển khá rộng cả bề dài lẫn bề sâu.
Trong những năm vừa qua, lợi nhuận của hệ thống NHTM Việt Nam liên tục
gia tăng, tuy nhiên song hành cùng với những khoản lợi nhuận đó luôn tiềm
tàng những rủi ro rất lớn. Một trong những rủi ro mang tính truyền thống và
đặc trưng của nghành ngân hàng đó là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng xảy ra
kéo theo rất nhiều hậu quả nghiêm trọng. Rủi ro tín dụng là không thể tránh
khỏi nhưng làm thế nào để quản lý được nó, hạn chế được nó luôn là câu hỏi
lớn luôn được các nhà làm ngân hàng quan tâm. Vì thế, em đã chọn đề tài:
“Nâng cao khả năng quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng ngoài quốc doanh
(VPBank)” với mong muốn có thêm những hiểu biết về lĩnh vực này cũng
như đóng góp một phần nhỏ vào công tác quản lý rủi ro tín dụng của ngân
hàng ngoài quốc doanh. Thúc đẩy hệ thống ngân hàng nói riêng, nền kinh tế
của đất nước nói chung trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới.
Chuyên đề thực tập
PHẦN I: NHỮNG VẪN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ
RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NHTM.
1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong
nền kinh tế của một quốc gia. Ngân hàng bao gồm nhiều loại khác nhau tùy
thuộc vào tình hình phát triển của hệ thống tài chính cũng như nền kinh tế của
nước đó. Song nhìn chung NHTM thường là ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn
nhiệm vụ, dịch vụ và vai trò mà chúng thực hiện trong từng lĩnh vực.
Một khái niệm chung nhất : Ngân hàng là một doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Song khái niệm này chưa thể hiện được ngân hàng
và tổ chức tài chính phi ngân hàng.
Một trong những cách tiếp cận và xem xét ngân hàng trên phương diện những
loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp
một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết
kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với
bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
2. Chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại
a) Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai đối tượng cá nhân
và tổ chức trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi
tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập nên họ là những
người cần bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu,
tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch
Chuyên đề thực tập
vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên
hoàn toàn độc lập với ngân hàng. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ
(2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi. Do đó thu nhập gia tăng là động
lực tạo ra mối quan hệ tài chính giứa hai nhóm. Nếu dòng tiền di chuyển với
điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian
nhất định thì đó là quan hệ tín dụng. Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hùn
vốn.
Trung gian tài chính đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà
khuyến kích tiết kiệm; đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư (tăng
thu nhập cho người đầu tư) dẫn đến khuyến khích đầu tư. Cơ chế hoạt động
của trung gian sẽ có hiệu quả khi nó gắn chịu rủi ro và sử dụng Các kỹ thuật
nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch.
khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc nhờ thu các
loại thẻ. . . cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung
cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù
trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm
thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả khi quy
mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán
hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lí tìm cách áp dụng rộng
rãi. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất
trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn
giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán được thiết lập
đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành
trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh
tế toàn cầu.
Chuyên đề thực tập
3. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
3.1. Khái niệm về hoạt động tín dụng
Tín dụng có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm và trong thực tế, tín dụng
được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng nghĩa phổ biến nhất là quan hệ
vay mượn giữa bên cho và bên đi vay. Trong đó, bên cho vay chuyển giao tài
sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận và
bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc cộng lãi cho bên vay
khi đến hạn. Song khi gắn tín dụng với một chủ thể nhất định (tín dụng ngân
hàng) thì tín dụng chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng cho vay. Vì vậy khi nói đến
tín dụng ngân hàng ta hiểu đó là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với các cá
nhân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội và các tổ chức tín dụng khác
theo nguyên tắc có hoàn trả gốc lãi.
Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng vốn tự có, nguồn vốn huy
động để cấp tín dụng. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền
sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với
một khoản chi phí nhất định.
hạn sử dụng lâu.
• Phân loại theo hình thức tài trợ tín dụng:
- Chiết khấu thương phiếu
- Cho vay
- Cho thuê
- Bảo lãnh
• Phân loại dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
- Cho vay không đảm bảo:
Chuyên đề thực tập
Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh cho người
khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định
cho vay.
- Cho vay có đảm bảo:
Là loại cho vay dựa trên cơ sỏ các đảm bảo cho tiền vay như thế chấp, cầm cố
hoặc bảo lãnh của bên thứ ba nào khác.
• Phân loại theo dòng tiền cho vay
- Cho vay bằng nội tệ
- Cho vay bằng ngoại tệ
• Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay
- Cho vau chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần
khi đáo hạn.
- Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp.
- Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả
năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
3.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng
3.3.1 Đối với nền kinh tế
Vốn luôn là một yếu tố rất quan trọng và nó quyết định việc thực hiện
mục tiêu của cá nhân, doanh nghiệp. Để giải quyết khó khăn này phải cần đến
sự hỗ trợ của ngân hàng.Với hình thức cho vay ngân hàng không những thu
được lợi nhuận mà còn góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
của ngân hàng. Trước hết, hoạt động tín dụng là hoạt động tiền tệ cho sự ra
đời của các NHTM, là hoạt động mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng,
khoảng 70% thu nhập của ngân hàng là do hoạt động tín dụng mang lại. Cụ
thể, trong bảng tài sản của ngân hàng có đến 2/3 “tái sản có” là các khoản cho
Chuyên đề thực tập
vay, vì vậy việc duy trì và mở rộng hoạt động tín dụng mang ý nghĩa sống còn
đối với các NHTM. Thực hiện tốt chức năng tập trung huy động vốn nhàn rỗi
trong dân cư là rất quan trọng song nếu ngân hàng không thực hiện được duy
trì và mở rộng tín dụng thì nguồn vốn ngân hàng sẽ ứ đọng lại, sẽ ảnh hưởng
đến thu nhập của ngân hàng. Hơn nữa, việc ngân hàng phát triển thêm các
hoạt động khác như dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, tư vấn…và kết quả là
ngân hàng vừa tăng được nguồn vốn, vừa phát triển các dịch vụ, tăng thu nhập
và phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
4. Rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
4.1. Khái niệm, đặc điểm của rủi ro tín dụng
4.1.1.Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất cho ngân hàng do
khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả đầy đủ vốn và lãi. Rủi ro tín
dụng gắn với hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, có quy mô lớn nhất
của ngân hàng thương mại đó là hoạt động tín dụng.
4.1.2.Đặc điểm của rủi ro tín dụng
a) Rủi ro tín dụng là tất yếu trong hoạt động ngân hàng
Trong bất kỳ họat động kinh doanh nào ở mọi lĩnh vực đều có khả năng
xảy ra rủi ro.Vì vậy, rủi ro tín dụng cũng là điều không thể tránh khỏi trong
ngân hàng.Khi thực hiện một tài trợ nào ngân hàng đều phân tích xem độ an
toàn đối với khoản tín dụng đó có cao hay không để từ đó đưa ra quyết định
có nên cung cấp khoản tín dụng đó hay không.Và nhìn chung ngân hàng chỉ
cho vay khi thấy an toàn. Song không một ngân hàng tài ba nào có thể dự
đoán chính xác cái gì sẽ xảy ra trong tương lai. Chính vì thế mà khả năng xảy
ra rủi ro cao cũng là điều hết sức bình thường trong thực tế. Điều đáng quan
Là loại rủi ro xảy ra khi người vay vốn không hoàn trả gốc và lãi tiền vay
đúng hẹn như trong hợp đồng.
- Rủi ro mất vốn
Là loại rủi ro xảy ra khi người vay vốn không hoàn trả gốc tiền vay một cách
đầy đủ như trong hợp đồng.
Dù phân chia theo cách nào đi chăng nữa thì rủi ro tín dụng cũng là một điều
không mong muốn, luôn mang lại những tổn thất đối với tất cả các ngân hàng.
4.3. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
4.3.1.Từ các nhân tố vĩ mô
- Môi trường pháp lý
Đây là nhân tố quan trọng có khả năng gây ra rủi ro cao đối với tín dụng.
Hệ thống pháp luật ban hành không đồng bộ, chưa đáp ứng kịp thới trong kinh
doanh. Bên cạnh đó ý thức tuân thủ pháp ly của các đối tượng tham gia kinh
doanh chưa cao. Dẫn đến không đảm bảo một môi trườn kinh doanh không
lành mạnh. Vì thế sẽ tạo ra nhỉều lỗ hổng để kẻ xấu lợi dụng.
- Môi trường kinh tế
Ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của tất cả đối tượng tham gia.
Một khi môi trường kinh tế ổn định sẽ thúc đẩy hoạt động kinh doanh hiệu
quả. Dẫn đến khả năng trả nợ vay của các đối tượng cao hơn, giảm thiểu rủi ro
tín dụng trong ngân hàng.
- Môi trường xã hội
Là một nhân tố lớn ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng. Tín dụng là sự vay
mượn dựa trên cơ sở lòng tin, đạo đức xã hội. Chính vì thế khả năng rủi ro tín
dụng là hoàn toàn có thể xảy ra.
- Những nguyên nhân bất khả kháng
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay, làm họ mất
khả năng thanh toán cho ngân hàng. Ví dụ: Thiên tai, chiến tranh, những thay
Chuyên đề thực tập
đổi ở tầng vĩ mô như thay đổi chính phủ, thay đổi trong chính sách kinh tế,
hàng rào thuế quan…vuợt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho
được đào tạo kỹ lưỡng, liên tục toàn diện. Bên cạnh đó có một bộ phận cán bộ
ngân hàng yếu kém về tư cách đạo đức đã lợi dụng chức quyền của mình để
tham ô, hối lộ, làm sai nguyên tắc.
- Cơ chế, chính sách của các ngân hàng cũng là một trong những
nguyên nhân gây ra rủi ro cao trong tín dụng.
4.3.4. Nguyên nhân khác.
Những nguyên nhân khác có thể dẫn tới rủi ro tín dụng như: Sự biến
động lớn của lãi suất. Tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát quá cao, khủng hoảng
kinh tế, môi trường pháp lý chưa đầy đủ và chặt chẽ, do các hoạt động rủi ro
chua phát triển.
4.4. Dấu hiệu của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rất nghiêm trọng, nó gây ra nhiều hậu quả đối với rất
nhiều đồi tượng.Vì thế ngân hàng phải có biện pháp hạn chế chúng có thể dựa
trên những dấu hiệu của rủi ro tín dụng để thực hiện tốt hơn.
- Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
- Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổnh dư nợ
- Nợ có vấn đề
- Tính đa dạng của tài sản
- Tình hình tài chinh và phương án, xếp hạng tín dụng của ngân hàng
- Quan hệ tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng
- Đảm bảo tiền vay
- Môi trường họat động của người vay
Chuyên đề thực tập
4.5. Hậu quả của rủi ro tín dụng
4.5.1.Đối với ngân hàng thương mại
- Rủi ro tín dụng làm tăng chi phí, giảm thu nhập của ngân hàng
Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng một mặt không thu được tiền lãi
cho vay (giảm thu nhập), mặt khác theo quy định của các NHTM còn phải
tiến hành trích lập dự phòng tín dụng, việc trích lập này làm tăng chi phí của
ngân hàng.
hàng của thể phải gánh chịu rủi ro từ nhiều phía khác nhau và đặc biệt là rủi
ro tín dụng. Vì thế quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng là điều tất yếu.
Như vậy có thể hiểu: Quản lý rủi ro tín dụng là việc sử dụng các biện
pháp nghiệp vụ để kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế hậu quả xấu trong
hoạt động tín dụng, giảm thiểu sự tổn thất không để hoạt động ngân hàng rơi
vào tình trạng đổ vỡ.
5.2. Sự cần thiết quản lý rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất trong hoạt động ngân hàng. Nó có
thể xảy ra ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào.
- Đối với nền kinh tế
Hoạt động tín dụng ngân hàng là một vấn đề rất nhạy cảm và chứa đựng
rất nhiều rủi ro. Hoạt động của ngân hàng mang tính xã hội hóa cao, nó liên
quan chặt chẽ tới hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế từ cá nhân cho tới
doanh nghiệp, từ các tổ chức xã hội cho tới Nhà nước. Chính mối quan hệ có
tính liên kết này mà chỉ ảnh hưởng nhỏ trong hoạt động ngân hàng cũng có
thể gây nên những tác động lớn tới cả nền kinh tế.
Chuyên đề thực tập
Hoạt động tín dụng dựa trên cơ sở ngân hàng huy động vốn nhàn rỗi
trong nền kinh tế và dung nguồn vốn huy động được này để thực hiện cho
vay. Rủi ro tín dụng xảy ra se làm ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của
ngân hàng. Nếu tình trạng này bị kéo dài đến một giai đoạn nào đó sẽ khiến
cho dân chúng hoang mang, mất lòng tin vào hệ thống ngân hàng, những tin
đốn thất thiệt sẽ lan truyền tạo nên một làn song rút tiền ồ ạt. Điều này sẽ
khiến cho hàng loạt ngân hàng rơi vào tình trang khó khăn, xấu hơn nữa là sự
đổ vỡ hàng loạt của ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Hậu quả tất yếu sẽ diễn
ra chính là sự khúng hoảng xã hội, kinh tê, chính trị nặng nề. Dù sau đó khi hệ
thống ngân hàng có được phục hồi thì chắc chắn cũng sẽ gặp nhiều khó khăn
khi huy động vốn cho phát triển kinh tế. Kết quả là sản xuất bị đình đốn, nền
kinh tế không thể phát triển, xã hội bị rối loạn.
- Đối với ngân hàng cấp tín dụng
Như vậy, rủi ro tín dụng dù xảy ra ở mức độ nào cũng gây ảnh hưởng
tới sự phát triển của ngân hàng nói riêng và sự tăng trưởng của nền kinh tế nói
chung. Vì vậy quản lý tín dụng không chỉ là trách nhiệm của riêng ngân hàng
mà là toàn nền kinh tế. Thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng sẽ làm
giảm tổn thất cho ngân hàng cũng như nền kinh tế, lành mạnh hóa hệ thống tài
chính ngân hàng, tăng cường sức cạnh tranh, tạo điều kiện cho nền kinh tế
tăng trưởng.
5.3. Nội dung quản lý rủi ro tín dụng
a. Nhận biết rủi ro tín dụng
Đây là công việc rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến các bước tiếo theo
của quá trình quản lý rủi ro.Việc nhận biết rủi ro tín dụng phải được tiến hành,
Chuyên đề thực tập
xem xét một cách tổng thể đối với mọi khoản vay nói chung và trên mọi giai
đọan dựa trên mọi dấu hiệu có liên quan đối với mọi khoản vay nói chung.
b. Đo lường rủi ro tín dụng đối với một ngân hàng
Đây là các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của ngân hàng, nó cho phép
các nhà quản trị phản ánh được tình hình rủi ro tín dụng ở ngân hàng của mình
và từ đó để có các biện pháp điều chỉnh cho phù hợp. Bao gồm:
- Tỷ lệ nợ quá hạn
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu
- Tỷ lệ nợ khoản, xóa nợ
- Tỷ lệ miễm giảm lãi
- Tỷ trọng nợ khó đòi
c.Các biện pháp hạn chế tổn thất khi có rủi ro xảy ra
- Trích lập quỹ dự phòng rủi ro
- Mua bảo hiểm tín dụng
- Phân tán rủi ro
d.Công cụ quản lý rủi ro của tín dụng ngân hàng thương mại
5.3.4.1.Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là các bước mà cán bộ tín dụng, các phòng ban có lien
lại, khi nhận thấy khoản vay đang đứng trước nguy cơ rủi ro cao, ngân hàng
có các biện pháp xử lý kịp thời.
- Giai đoạn sau khi cho vay
Nội dung cần làm trong giai đoạn này là thu nợ hoặc đưa ra các phán quyết
tín dụng mới.
Chuyên đề thực tập
Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc lãi. Các khoản tín
dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn. Một
số trường hợp, các khoản tín dụng đã không hoàn trả hoặc không hoàn trả đủ,
đúng hạn. Việc thanh toán nợ không đúng hạn cho ngân hàng thấy những trục
trặc trong hoạt động của khách hàng. Việc xem xét, tìm hiểu nguyên nhân là
rất quan trọng để giúp ngân hàng kịp thời đưa ra các quyết định mới liên quan
đến tính an toàn của khoản tín dụng.
5.3.4.2.Chính sách tín dụng
Bao gồm các quy định về cho vay của ngân hàng:
- Chính sách khách hàng
- Chính sách quy mô và giới hạn tín dụng
- Lãi suất và phí suất tín dụng
- Thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ
- Các khoản đảm bảo
- Điều kiện giải ngân và điều kiện thanh toán
- Chính sách đối với các tài sản có vấn đề
Kết luận: Rủi ro nói chung là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất
ổn. Rủi ro tín dụng trong ngân hàng là một loại rủi ro phát sinh do khách hàng
mất khả năng trả nợ một khoản vay nào đó. Khi ngân hàng thực hiện nghiệp
vụ cho vay thì đó mới chỉ là thực hiện giao dịch chưa hoàn thành. Giao dịch
tín dụng chỉ được xem là hoàn thành khi nào ngân hàng thu hồi về được khoản
cho vay cả gốc lẫn lãi. Do đó, rủi ro tín dụng xảy là điều không thể tránh khỏi
và đem lại nhiều tổn thất cho ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng phải có các biện
pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng xảy ra. Đó chính là quản lý rủi ro tín dụng
tách bộ phận trực tiếp kinh doanh trên địa bàn Hà Nội ra khỏi Hội sở; Chi
nhánh Huế; Chi nhánh Sài Gòn. Trong năm 2005, VPBank mở thêm một số
Chi nhánh nữa đó là Chi nhánh Cần Thơ. . . Cũng trong năm 2005, VPBank
đã nâng cấp một số phòng giao dịch thành chi nhánh đó là Phòng Giao dịch
Cát Linh, Phòng giao dịch Trần Hưng Đạo . . .Năm 2006, VPBank tiếp tục
được NHNN cho mở thêm Phòng Giao dịch Hồ Gươm (đặt tại Hội sở chính
của Ngân hàng) và Phòng Giao dịch Vĩ Dạ, phòng giao dịch Đông Ba (trực
thuộc Chi nhánh Huế . . . Bên cạnh việc mở rộng mạng lưới giao dịch trên
đây, trong năm 2006, VPBank cũng đã mở thêm hai Công ty trực thuộc đó là
Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản; Công ty Chứng Khoán.
Tính đến tháng 8 năm 2006, Hệ thống VPBank có tổng cộng 37 điểm
giao dịch gồm có: Hội sở chính tại Hà Nội, 21 Chi nhánh và 16 phòng giao
dịch tại các Tỉnh, Thành phố lớn của đất nước là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí
Minh, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Vĩnh
Phúc; Bắc Giang và 2 Công ty trực thuộc. Năm 2006, VPBank mở thêm các
Chi nhánh mới tại Vinh (Nghệ An); Thanh Hóa, Nam Định, Nha Trang, Bình
Dương; Đồng Nai, Kiên Giang và các phòng giao dịch, nâng tổng số điểm
giao dịch trên toàn Hệ thống của VPBank lên 50 chi nhánh và phòng giao
dịch. Hiện tại VPBank đã có 90 Chi nhánh và Phòng giao dịch hoạt động tại
34 tỉnh, thành trên cả nước.
Số lượng nhân viên của VPBank trên toàn hệ thống tính đến nay có trên
2.600 người, trong đó phần lớn là các cán bộ, nhân viên có trình độ đại học và
trên đại học (chiếm 87%). Nhận thức được chất lượng đội ngũ nhân viên
chính là sức mạnh của ngân hàng, giúp VPBank sẵn sàng đương đầu được với
cạnh tranh, nhất là trong giai đoạn đầy thử thách sắp tới khi Việt Nam bước
Chuyên đề thực tập
vào hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, những năm vừa qua VPBank luôn
quan tâm nâng cao chất lượng công tác quản trị nhân sự.
Kể từ khi thành lập đến nay VPBank không ngừng mở rộng và còn tiếp
tục phát triển các chi nhánh cả nước. VPBank ngày càng khẳng định vị trí của
phiếu, duy trì mức cổ tức cao hằng năm. . .
- Đối với cộng động: VPBank cam kết thực hiện tốt các nghĩa vụ đối
với Ngân hàng Nhà nước, quan tâm chăm lo đến công tác xã hội, từ
thiện để chia sẻ khó khăn của cộng đồng.
- VPBank phấn đấu năm 2010 trở thành Ngân hàng bán lẻ dẫn đầu khu
vực phía Bắc, đồng thời là Ngân hàng trong top năm của cả nước và một
Ngân hàng có tầm cỡ của khu vực Đông Nam Á về chất lượng, hiệu quả và độ
tin cậy.
1.2.3.Đặc điểm
- Là một ngân hàng bán lẻ và theo đuổi chiến lược bán lẻ:
Thể hiện: VPBank cung cấp những sản phẩm dịch vụ cho từng phân
đoạn khách hàng.Do đó, đòi hỏi sự thâm nhập sâu vào thị trường để tìm hiểu
và thỏa mãn tối đa nhu cầu đa dạng của từng phân đoạn khách hàng cụ thể.
Ngân hàng VPBank sẽ phát huy thế mạnh năng động và linh hoạt trong việc
biến đổi bản thân để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu đa dạng đó của thị trường.
- VPBank phục cụ đối tượng khách hàng chủ yếu là các ngân hàng vừa
và nhỏ trong nước và cá nhân trung lưu ở khu vực đô thị.
1.3. Các lĩnh vực hoạt động của VPBank
- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn dưới các hình thức tiền
gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; tiếp nhận vônd ủy thác đầu tư và phát