Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam phát triển khá nhanh kể từ sau khi thực hiện chính
sách mở cửa 1986. Và trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng của tất cả
các lĩnh vực đều cao. Do sự tất yếu của quá trình Quốc tế hóa, toàn cầu hóa
nên nước ta không ngừng mở của hội nhập kinh tế Thế giới. Đặc biệt, năm
2006 Việt Nam gia nhập WTO, vào một sân chơi rộng lớn như vậy đó vừa là
cơ hội, cũng là thách thức lớn đối với nước ta. Một trong những khó khăn
quan trọng là sự cạnh tranh khốc liệt của các quốc gia từ bên ngoài vào trong
tất cả các lĩnh vực. Trong đó phải kể đến lĩnh vực tài chính - ngân hàng, hiện
nay hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam phát triển khá rộng cả bề dài lẫn bề sâu.
Trong những năm vừa qua, lợi nhuận của hệ thống NHTM Việt Nam liên tục
gia tăng, tuy nhiên song hành cùng với những khoản lợi nhuận đó luôn tiềm
tàng những rủi ro rất lớn. Một trong những rủi ro mang tính truyền thống và
đặc trưng của nghành ngân hàng đó là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng xảy ra
kéo theo rất nhiều hậu quả nghiêm trọng. Rủi ro tín dụng là không thể tránh
khỏi nhưng làm thế nào để quản lý được nó, hạn chế được nó luôn là câu hỏi
lớn luôn được các nhà làm ngân hàng quan tâm. Vì thế, em đã chọn đề tài:
“Nâng cao khả năng quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng ngoài quốc
doanh (VPBank)” với mong muốn có thêm những hiểu biết về lĩnh vực
này cũng như đóng góp một phần nhỏ vào công tác quản lý rủi ro tín dụng
của ngân hàng ngoài quốc doanh. Thúc đẩy hệ thống ngân hàng nói riêng,
nền kinh tế của đất nước nói chung trong quá trình hội nhập kinh tế thế
giới.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
1
Chuyên đề thực tập
PHẦN I: NHỮNG VẪN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ
RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NHTM.
1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong
quan trọng để đầu tư phát triển. Ngân hàng là một trong những tổ chức trung
gian tài chính vừa là kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ
nhằm ổn định kinh tế.
Ngân hàng có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và nó đựơc
định nghĩa tùy theo những góc độ khác nhau thông quan các chức năng,
nhiệm vụ, dịch vụ và vai trò mà chúng thực hiện trong từng lĩnh vực.
Một khái niệm chung nhất : Ngân hàng là một doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Song khái niệm này chưa thể hiện được ngân hàng
và tổ chức tài chính phi ngân hàng.
Một trong những cách tiếp cận và xem xét ngân hàng trên phương diện những
loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp
một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết
kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với
bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
2. Chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại
a) Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai đối tượng cá nhân
và tổ chức trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi
tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập nên họ là những
người cần bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu,
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
3
Chuyên đề thực tập
tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch
vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên
hoàn toàn độc lập với ngân hàng. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ
(2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi. Do đó thu nhập gia tăng là động
lực tạo ra mối quan hệ tài chính giứa hai nhóm. Nếu dòng tiền di chuyển với
điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian
Bằng việc cho vay hay tạo tín dụng các Ngân hàng đã tạo ra phương tiện
thanh toán phục vụ nhu cầu cho mọi đối tượng khách hàng.
Toàn bộ hệ thống Ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản
tiền gửi được mở rộng từ Ngân hàng này đến Ngân hàng khác trên cơ sở cho
vay.
c) Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ. Để việc
thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho
khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc nhờ thu các
loại thẻ. . . cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung
cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù
trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm
thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả khi quy
mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán
hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lí tìm cách áp dụng rộng
rãi. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất
trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn
giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán được thiết lập
đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
5
Chuyên đề thực tập
trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh
tế toàn cầu.
3. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
3.1. Khái niệm về hoạt động tín dụng
Tín dụng có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm và trong thực tế, tín dụng
được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng nghĩa phổ biến nhất là quan hệ
vay mượn giữa bên cho và bên đi vay. Trong đó, bên cho vay chuyển giao tài
toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách
hàng.
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới một năm. Mục
đích của loại cho vay này là tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử
dụng vốn ngắn hạn của nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân. Ngân hàng có
thể áp dụng cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp, cho vay theo món hoặc
cho vay theo mức hạn, có hoặc không cần đảm bảo, dưới hình thức
chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển.
- Tín dụng trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
Mục đích của loại cho vay này là tài trợ cho các tài sản cố định như
phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang thiết bị…
- Tín dụng dài hạn: Là loại cho vay thời hạn trên 5 năm nhằm tài trợ cho
công trình xây dựng như nhà, sân bay… các dự án có giá trị lớn có thời
hạn sử dụng lâu.
• Phân loại theo hình thức tài trợ tín dụng:
- Chiết khấu thương phiếu
- Cho vay
- Cho thuê
- Bảo lãnh
• Phân loại dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
7
Chuyên đề thực tập
- Cho vay không đảm bảo:
Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh cho người
khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định
cho vay.
- Cho vay có đảm bảo:
Là loại cho vay dựa trên cơ sỏ các đảm bảo cho tiền vay như thế chấp, cầm cố
hoặc bảo lãnh của bên thứ ba nào khác.
Doanh nghiệp thường chủ động lựa chọn cho mình những lĩnh vực đầu
tư mang lại hiệu quả nhất tuy nhiên xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế thì
cần có sự cân đối trong cơ cấu giữa vùng lãnh thổ, giữa các ngành trong nội
bộ nền kinh tế, đặc biệt là giữa các ngành kinh tế mũi nhọn và các ngành kinh
tế còn kém phát triển nhưng cần thiết cho nền kinh tế. Cũng với mục tiêu này,
tín dụng ngân hàng thông qua chính sách tín dụng, lãi suất sẽ là đòn bẩy kích
thích đầu tư phát triển góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế.
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình
mở rộng mối quan hệ giao lưu quốc tế. Thông qua việc tài trợ xuất nhập khẩu
của NHTM, các doanh nghiệp có điều kiện tiếp nhận, thay đổi những công
nghệ tiên tiến, máy móc thiết bị hiện đại giúp tăng năng suất lao động, tăng
tính cạnh tranh, tăng uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế. Bên cạnh
đó, sự phát triển của doanh nghiệp xuất khẩu cũng sẽ tác động đến sự phát
triển của ngoại thương, các dịch vụ thanh toán quốc tế sẽ phát triển mạnh mẽ
và sự hợp tác quốc tế được mở rộng.
3.3.2 Đối với ngân hàng cấp tín dụng
Tín dụng là mạng hoạt động quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng. Trước hết, hoạt động tín dụng là hoạt động tiền tệ cho sự ra
đời của các NHTM, là hoạt động mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng,
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
9
Chuyên đề thực tập
khoảng 70% thu nhập của ngân hàng là do hoạt động tín dụng mang lại. Cụ
thể, trong bảng tài sản của ngân hàng có đến 2/3 “tái sản có” là các khoản cho
vay, vì vậy việc duy trì và mở rộng hoạt động tín dụng mang ý nghĩa sống còn
đối với các NHTM. Thực hiện tốt chức năng tập trung huy động vốn nhàn rỗi
trong dân cư là rất quan trọng song nếu ngân hàng không thực hiện được duy
trì và mở rộng tín dụng thì nguồn vốn ngân hàng sẽ ứ đọng lại, sẽ ảnh hưởng
đến thu nhập của ngân hàng. Hơn nữa, việc ngân hàng phát triển thêm các
hoạt động khác như dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, tư vấn…và kết quả là
• Phân loại rủi ro theo phương diện quản lý:
- Rủi ro có thế kiểm soát được
Là rủi ro tín dụng mà ngân hàng có thể phần nào dự đoán được chủ thể gay
ra nó, ước tình được mức độ ảnh hưởng của nó, dự kiến đượ thời gian sinh ra
nó, từ đó có những biện pháp hợp lí để phòng ngừa, hạn chế những tổn thất
mà nó có thể gay ra xuống tới mức tối thiểu có thể được. Những rủi ro tín
dụng loại này thường di chủ quan con người gây ra, hay cụ thể hơn là do
khách hàng hoặc do chính bản than ngân hàng tự gây ra cho mình. Tuy nhiên
khách hàng thường là người chủ yếu gây ra loại rủi ro này.
- Rủi ro không thể kiểm soát được
Là loại rủi ro tín dụng mà các ngân hàng không thể dự đoán trước được,
không thể biết chúng sẽ xảy ra vào thời điểm nào, cũng không thể tính toán
được một cách cụ thể, chính xác những ảnh hưởng mà chúng gây ra. Những
rủi ro thuộc loại này thường không gây ra mà chủ yếu do những bất lợi thuộc
về các yếu tố thiên nhiên gây ra như hạn hán, mất mùa, lũ lụt…
Các ngân hàng thương mại thường phải tập trung vào để ngăn chặn, hạn chế
những rủi ro có thể kiểm soát được, còn rủi ro không thể kiểm soát được thì
chỉ có cách chống đỡ khi chúng xảy ra.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
11
Chuyên đề thực tập
• Phân loại theo tính chất rủi ro:
- Rủi ro sai hẹn
Là loại rủi ro xảy ra khi người vay vốn không hoàn trả gốc và lãi tiền vay
đúng hẹn như trong hợp đồng.
- Rủi ro mất vốn
Là loại rủi ro xảy ra khi người vay vốn không hoàn trả gốc tiền vay một cách
đầy đủ như trong hợp đồng.
Dù phân chia theo cách nào đi chăng nữa thì rủi ro tín dụng cũng là một điều
không mong muốn, luôn mang lại những tổn thất đối với tất cả các ngân hàng.
Người vay có thể không có trình độ, hoặc trình độ yếu kém trong quản
lý, chủ định lùa đảo cán bộ ngân hàng, chây ì trong việc trả nợ là nguyên nhân
dẫn đến rủ ro tín dụng. Nhiều người vay đã không tính toán kỹ lưỡng hoặc
không có khả năng tính toán kỹ lưỡng những bất trắc có thể xảy ra, không có
khả thi thích ứng và khắc phục khó khăn trong kinh doanh. Để đặt được mục
đích của mình nhiều khách hàng không tuân theo các quy định, cố tình lừa
đảo để chiếm dụng vốn của ngân hàng. Vì thế họ đưa ra các thủ đoạn khác
nhau và đã gây ra nhiều rủi ro tín dụng cao đối với các ngân hàng.
4.3.2.Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Tùy vào chiến lược kinh doanh của mình mà mỗi ngân hàng đưa ra mức độ
chấp nhận rủi ro khác nhau.
- Áp lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng : hiện nay hầu hết
các NHTM hoạt động tín là hoạt động mang lại nguông thu chủ yếu cho ngân
hàng, do vậy để tăng trưởng tín dụng nhiều ngân hàng đã áp dụng các biện
pháp cạnh tranh bằng cách lới long các điều kiện tín dụng. Điều này làm tăng
rủi ro tín dụng
- Hệ thống thông tin khách hàng chưa đủ tính cập nhật và chính xác:
Thông tin về khách hàng là một trong những yếu tố gây ra rủi ro trong hoạt
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
13
Chuyên đề thực tập
động tín dụng. Vì vậy cần phải xác định chính xác thông tin từ phía khách
hàng.
- Chất lượng cán bộ tín dụng: Do sự yếu kém về trình độ nghiệp vụ
cũng như tư cách đạo đức của cán bộ tín dụng trong ngân hàng . Cán bộ tín
dụng không đủ trình độ đánh giá khách hàng hoặc đánh giá không tốt, cố tình
làm sai…là một trong những nguyên nhân của rủi ro tín dụng. Họ cần phải
được đào tạo kỹ lưỡng, liên tục toàn diện. Bên cạnh đó có một bộ phận cán bộ
ngân hàng yếu kém về tư cách đạo đức đã lợi dụng chức quyền của mình để
tham ô, hối lộ, làm sai nguyên tắc.
khả năng thanh toán, dẫn đến phá sản.
Rủi ro tín dụng đặt ngân hàng trước nguy cơ mất vốn. Đặc biệt trong
trường hợp tài sản đảm bảo của người vay mất giá trên thị trường, khi đó việc
thanh lí tài sản đảm bảo sẽ không đủ để ngân hàng thu hồi vốn. Nhiều khoản
tín dụng như vậy sẽ khiến ngân hàng mất vốn và không thể thanh toán được
các khoản tiền gửi khi đến hạn, điều này đặt ngân hàng đứng trước nguy cơ
mất khả năng thanh toán (gặp rủi ro thanh toán) và đứng bên bờ vực phá sản.
- Rủi ro tín dụng làm suy giảm uy tín của ngân hàng
Đây là hệ quả của việc ngân hàng mất khả năng thanh toán. Không ai
muốn gửi tiền vào một ngân hàng mà khi cần lại không thể rủi tiền ra. Một
NHTM phải mất rất nhiều thời gian để xây dựng được cho mình uy tín và
thương hiệu, nhưng khi mất khả năng thanh toán (mà nguyên nhân sâu xa là
do rủi ro tín dụng) NHTM đó sẽ mất hết uy tín với khách hàng.
- Rủi ro tín dụng làm xấu đi mối quan hệ của ngân hàng với người vay
Điều này rất dễ hiểu, khi một khách hàng trong lịch sử quan hệ với ngân
hàng đã từng để xảy ra tình trạng nợ quá hạn hoặc không trả được nợ, sẽ
không một ngân hàng nào muốn cho khách hàng đó vay tiền.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
15
Chuyên đề thực tập
4.5.2. Đối với nền kinh tế
Một khi rủi ro tín dụng xảy sẽ ảnh hưởng lớn hoạt động kinh doanh của
ngân hàng . Từ đó gây ra sự khó khăn trong tài chính đối nền kinh tế. Nền
kinh tế sẽ mất đi động lực vươn lên.
5. Quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
5.1. Khái niệm, các loại tín dụng và định lượng, định tính của quản lý
rủi ro tín dụng
5.1.1.Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng
Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Ngân hàng là một trung gian tài chính thể hiện thông qua việc là đầu mối liên
khi huy động vốn cho phát triển kinh tế. Kết quả là sản xuất bị đình đốn, nền
kinh tế không thể phát triển, xã hội bị rối loạn.
- Đối với ngân hàng cấp tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho
ngân hàng và nó quyết định sự tồn tại cũng như phát triển của ngân hàng.
Khi rủi ro tín dụng xảy ra, trước tiên nó sẽ gây ra những khoản nợ khó thu hồi,
vốn của ngân hàng sẽ không thể quay vòng, lãi không thể thu. Mặt khác, khi
có quá nhiều các khoản nợ khó đòi sẽ phát sinh ra các khoản chi phí giám sát,
thu nợ… Bên cạnh đó, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho các khoản tiền huy
động. Kết quả là lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị giảm sút.
Ngân hàng bao giờ cũng lên kế hoạch cân đối giữa dòng tiền ra và dòng
tiền vào tại các thời điểm được xác định sẵn trong tương lai. Khi các khoản
vay không thu lại được như kế hoạch sẽ dẫn tới sự mất cân đối này sẽ gây ra
sự suy yếu và hạn chế cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán cho các khoản
tiền ra. Khả năng thanh toán xẽ bị giảm sút nếu ngân hàng không kịp thời đi
vay hoặc bán tài sản của mình để chi trả.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
17
Chuyên đề thực tập
Nếu tình trạng mất khả năng chi trả của ngân hàng tái diễn qua nhiều
lần, hay những thông tin về rủi ro tín dụng của nội bộ ngân hàng bị rò rỉ ra
bên ngoài thì uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính sẽ giảm sút. Điều
tất yếu theo đó là khả năng cạnh tranh của ngân hàng cũng sẽ yếu đi, do đó
việc huy động tiền gửi sẽ gặp nhiều khó khăn, việc thiết lập các giao dịch với
các doanh nghiệp và các ngân hàng khác cũng chắc chắn sẽ không được thuận
lợi. Uy tín đối với khách hàng là một tài sản vô hình hết sức quý giá của ngân
hàng, một khi đã mất đi thì khó có thể lấy lại hoặc nếu có thì cũng sẽ phải tốn
nhiều tiền của cũng như thời gian.
Nếu mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể chịu đựng được thì ngân hàng
có thể bù đắp bằng các quỹ dự phòng rủi ro hoặc vốn tự có, còn nếu rủi ro xảy
c.Các biện pháp hạn chế tổn thất khi có rủi ro xảy ra
- Trích lập quỹ dự phòng rủi ro
- Mua bảo hiểm tín dụng
- Phân tán rủi ro
d.Công cụ quản lý rủi ro của tín dụng ngân hàng thương mại
5.3.4.1.Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là các bước mà cán bộ tín dụng, các phòng ban có lien
quan trong ngân hàng phải thực hiện khi tiến hàng tài trợ cho khách hàng. Một
quy trình tín dụng hợp lý, thống nhất sẽ giúp cán bộ tín dụng quản lý khoản
vay một cách chặt chẽ, tránh sự chủ quan, tùy tiện, duy ý chí. Về cơ bản, một
quy trình tín dụng được chia làm 3 giai đoạn: trước, trong và sau khi cho vay.
- Giai đoạn trước khi cho vay
Công việc cần làm trong giai đoạn này là phân tích tín dụng trước khi cho
vay. Đây là bước quan trọng nhất, quyết định chất lượng của phân tích tín
dụng. Nội dung chủ yếu là thu thập thông tin liên quan đến khách hàng bao
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
19
Chuyên đề thực tập
gồm năng lực sử dụng vốn, uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận, nguồn ngân quỹ,
quyền sở hữu các tài sản và các điều kiện kinh tế khác có liên quan đến người
vay. Việc xem xét hồ sơ khách hàng càng được tiến hành cẩn thận bao nhiêu
càng giúp cho ngân hàng tránh được những rủi ro đáng tiếc bấy nhiêu. Nội
dung phân tích bao gồm:
+ Đánh giá tổng thể về khách hàng và phương án trả nợ
+ Khả năng trả nợ tiền vay và biện pháp quản lý
+ Kiểm soát của ngân hàng về nguồn tiền trả nợ của khách hàng
+ Khả năng đảm bảo tiền vay và biện pháp quản lý, kiểm soát của ngân hàng
về tài sản đảm bảo tiền vay
- Giai đoạn trong khi cho vay
Sau khi hợp đồng tín dụng được kí kết, vốn vay đã được giải ngân, ngân
- Các khoản đảm bảo
- Điều kiện giải ngân và điều kiện thanh toán
- Chính sách đối với các tài sản có vấn đề
Kết luận: Rủi ro nói chung là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất
ổn. Rủi ro tín dụng trong ngân hàng là một loại rủi ro phát sinh do khách hàng
mất khả năng trả nợ một khoản vay nào đó. Khi ngân hàng thực hiện nghiệp
vụ cho vay thì đó mới chỉ là thực hiện giao dịch chưa hoàn thành. Giao dịch
tín dụng chỉ được xem là hoàn thành khi nào ngân hàng thu hồi về được khoản
cho vay cả gốc lẫn lãi. Do đó, rủi ro tín dụng xảy là điều không thể tránh khỏi
và đem lại nhiều tổn thất cho ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng phải có các biện
pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng xảy ra. Đó chính là quản lý rủi ro tín dụng
trong các ngân hàng. Hoạt động này rất phức tập, muốn thành công phải kết
hợp nhiều yếu tố với nhau.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
21
Chuyên đề thực tập
PHẦN II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NGOÀI QUỐC
DOANH (PVBANK).
1. Tổng quan về VPBank
1.1. Sự hình thành và phát triển của VPBank
Ngân hàng Thương mại Cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh
VIệt Nam (VPBANK) được thành lập theo Giấy phép hoạt động 0042/ NH-
GP của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VIệt Nam cấp ngày 12 tháng 8 năm
1993 với thời gian họat động 99 năm. Ngân hàng bắt đầu họat động từ ngày
40/09/1993 theo Giấy phép thành lập số 1535/QĐ-UB ngày 04 tháng 09 năm
1993.
Khi mới thành lập thì vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ VNĐ. Sau đó, do nhu
cầu phát triển, theo thời gian VPBANK đã tăng vốn điều lệ nhiều lần. Đến
tháng 8 năm 2006 vốn điều lệ của VPBANK đạt 500 tỷ đồng. Tháng 9 năm
Chi nhánh mới tại Vinh (Nghệ An); Thanh Hóa, Nam Định, Nha Trang, Bình
Dương; Đồng Nai, Kiên Giang và các phòng giao dịch, nâng tổng số điểm
giao dịch trên toàn Hệ thống của VPBank lên 50 chi nhánh và phòng giao
dịch. Hiện tại VPBank đã có 90 Chi nhánh và Phòng giao dịch hoạt động tại
34 tỉnh, thành trên cả nước.
Số lượng nhân viên của VPBank trên toàn hệ thống tính đến nay có trên
2.600 người, trong đó phần lớn là các cán bộ, nhân viên có trình độ đại học và
trên đại học (chiếm 87%). Nhận thức được chất lượng đội ngũ nhân viên
chính là sức mạnh của ngân hàng, giúp VPBank sẵn sàng đương đầu được với
cạnh tranh, nhất là trong giai đoạn đầy thử thách sắp tới khi Việt Nam bước
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
23
Chuyên đề thực tập
vào hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, những năm vừa qua VPBank luôn
quan tâm nâng cao chất lượng công tác quản trị nhân sự.
Kể từ khi thành lập đến nay VPBank không ngừng mở rộng và còn tiếp
tục phát triển các chi nhánh cả nước. VPBank ngày càng khẳng định vị trí của
mình là một trong những Ngân hàng bán lẻ hàng đầu
1.2. Chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm của VPBank
1.2.1. Chức năng
- Huy động vốn ngắn hạn, dài hạn và trung hạn từ các tổ chức kinh tế
và dân cư.
- Cho vay vốn ngắn hạn, dài hạn và trung hạn đối với các tổ chức kinh
tế và dân cư từ khả năng nguồn vốn của Ngân hàng.
- Kinh doanh ngoại hối
- Dịch vụ thanh toán quốc tế
- Chiếu khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá trị khác.
- Cung cấp các dịch vụ giao dịch giữa các khách hàng.
- Cung cấp các dịch vụ chuyển tiền trong nước và Quốc tế.
- Các dịch vụ Ngân hàng khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
đoạn khách hàng.Do đó, đòi hỏi sự thâm nhập sâu vào thị trường để tìm hiểu
và thỏa mãn tối đa nhu cầu đa dạng của từng phân đoạn khách hàng cụ thể.
Ngân hàng VPBank sẽ phát huy thế mạnh năng động và linh hoạt trong việc
biến đổi bản thân để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu đa dạng đó của thị trường.
- VPBank phục cụ đối tượng khách hàng chủ yếu là các ngân hàng vừa
và nhỏ trong nước và cá nhân trung lưu ở khu vực đô thị.
1.3. Các lĩnh vực hoạt động của VPBank
- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn dưới các hình thức tiền
gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; tiếp nhận vônd ủy thác đầu tư và phát
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
25