BCKH ứng dụng mô hình vector tự hồi quy var kiểm định và dự báo thực trạng lạm phát tại việt nam 2011 - Pdf 10



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƢỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2011”
TÊN CÔNG TRÌNH:
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH VECTO TỰ HỒI QUY VAR
KIỂM ĐỊNH VÀ DỰ BÁO THỰC TRẠNG LẠM PHÁT
VIỆT NAM THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục phụ lục
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT
1.1. Các quan điểm về lạm phát – cách đo lƣờng lạm phát. 1
1.1.1. Các quan điểm về lạm phát. 1
1.1.1.1. Luận thuyết “lạm phát lưu thông tiền tệ”. 1
1.1.1.2. Luận thuyết “ lạm phát cầu dư thừa tổng quát” 1
1.1.2. Cách đo lường lạm phát. 2

2.2.1.6. Vai trò điều hành của NHNN và sự phối hợp của các cơ quan
chức năng. ……………………………………………………………………… 24
2.2.1.7. Tăng giá điện, xăng dầu 25
2.2.2. Nhóm nguyên nhân ngoài nước 25
2.2.2.1. Tác động của dòng tiền nóng. 25
2.2.2.2. Chi phí nguyên vật liệu nhật khẩu gia tăng. 26
2.2.2.3. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. 26

CHƢƠNG 3
XÂY DỰNG MÔ HÌNH KIỂM ĐỊNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN LẠM PHÁT VÀ DỰ BÁO
3.1. Các mô hình đo lƣờng lạm phát. 30
3.1.1. Một số mô hình đo lường lạm phát truyền thống. 30
3.1.1.1. Mô hình đường cong Phillips. 30
3.1.1.2. Mô hình chi phí đẩy. 31
3.1.1.3. Mô hình lạm phát do cầu kéo. 34
3.1.1.4. Mô hình lạm phát theo quan điểm kỳ vọng. 35
3.1.1.5. Mô hình lạm phát theo trường phái tiền tệ. 36
3.1.2. Một số mô hình nghiên cứu lạm phát trong thời gian vừa qua và ý nghĩa
của nó. 40
3.2. Giới thiệu mô hình tự hồi quy vecto VAR ( Vecto Autoregression). 44
3.2.1. Mô hình tự hồi quy vecto VAR. 44
3.2.1.1. Khái niệm . 45
3.2.1.2. Phương pháp ước lượng mô hình Var. 46
3.2.1.3. Một số vấn đề trong xây dựng mô hình Var. 46
3.2.2. Ứng dụng Mô hình VAR cấu trúc nghiên cứu tác động của chính sách tiền
tệ trên thế giới. 46

NHNN
Ngân hàng nhà nước
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
NHTM
Ngân hàng thương mại
CSTT
Chính sách tiền tệ
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
TTCP
Thủ tướng chính phủ DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ năm 2000 đến năm 2003
Bảng 2.2 : Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2004
Bảng 2.3 : Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các quý giai đoạn 2004 – 2006
Bảng 2.4 : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ năm 2007 đến năm 2009
Bảng 2.5 : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm 2010 và 5 tháng đầu năm 2011
Bảng 2.6 : Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 1995-2010
Bảng 2.7 : Mức lương tối thiểu trong cơ quan nhà nước từ năm 1999 đến 2010
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 : Thâm hụt ngân sách, vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài 2000-2010
Hình 2.2 : Cơ cấu đầu tư của khu vực nhà nước, ngoài nhà nước và FDI
Hình 3.1 : Cơ chế dẫn truyền của lãi suất đến lạm phát.
Hình 3.2 : Chi phí tăng đẩy giá lên cao

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xây dựng được một mô hình thực sự phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam, có thể
chỉ ra đâu là nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát trong những khoản thời gian nhất
định và có thể dự báo được tình hình lạm phát trong thời gian sắp tới. Từ đó đề xuất
các giải pháp phù hợp nhằm kiểm soát thực trạng lạm phát Việt Nam.
3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu sử dụng chủ yếu phương pháp định tính, định lượng, thống kê, so sánh
và tổng hợp nhằm làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu. Nghiên cứu định lượng được
sử dụng trong bài là mô hình Tự hồi quy vecto VAR nhằm phân tích và làm rõ vai trò
của các biến số kinh tế vĩ mô góp phần đẩy lạm phát lên cao. 4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Tổng quan về lạm phát và các tác động của lạm phát.
Chương 2: Phân tích các yếu tố đã gây nên thực trạng lạm phát ở Việt Nam từ năm
2000 đến 5/2011.
Chương 3: Tìm hiểu về các mô hình đo lường và kiểm định lạm phát từ đó xây dựng
một mô hình kiểm định các yếu tố tác động đến lạm phát trong nước và dự bào tình
hình lạm phát trong thời gian sắp tới.
Chương 4: Đề ra một số biện pháp kiểm soát tình thế và các biện pháp lâu dài nhằm
kiểm soát chặt chẽ lạm phát và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài là một bức tranh tổng quan về thực trạng lạm phát Việt Nam, nguyên nhân cũng
như diễn biến lạm phát từ năm 2000 đến năm 2011. Đồng thời, đề tài cũng đóng góp
một công cụ định lượng giúp cho các nhà điều hành chính sách vĩ mô có một cái nhìn
rõ hơn về các yếu tố tác động đến lạm phát từ đó có các giải pháp điều chỉnh thích hợp
giúp kiểm soát tình hình lạm phát.

Những người theo luận thuyết này coi sự gia tăng giá cả là lạm phát. Bất cứ thời kỳ
nào mà giá hàng hóa tằn không kể lâu hay mai, có tính chất chu kỳ hay đột xuất đều là
thời kỳ của lạm phát.
2

Trên đây mới chỉ là một vài luận điểm về lạm phát. Điều đó cũng đủ cho chúng ta
nhận định rằng lạm phát là vấn đề hết sức phức tạp và nghiên cứu rất khó khăn. Khi
nói đến lạm phát, có những người nghĩ ngay đến lạm phát tiền tệ, nhưng cũng có
người lại không nghỉ vậy, vì nếu đưa tiền vào lưu thông đúng quy luật khiến giá cả
hàng hóa không tăng thì đó không là lạm phát. Ngược lại, với một lý do đột biến nào
đó mà làm cho giá cả hàng hóa tăng lên, dĩ nhiên không liên quan đến việc phát hành
tiền, là biểu hiện của lạm phát….Tóm lại, có hai quan điểm về lạm phát được ủng hộ
và sử dụng phổ biến nhất:
Thứ nhất, đó là lạm phát là sự dư thừa tiền trong lưu thông dẫn đến sự gia tăng trong
giá cả hàng hòa.
Thứ hai, đó là lạm phát là sự suy giảm trong sức mua của đồng tiền một cách quá
mức. Sức mua của đồng tiền được đo lường bởi sự biến đổi nghịch đảo của mức giá
chung.
Hai quan điểm này tuy khác nhau về nguyên nhân nhưng lại thống nhất với nhau về
kết quả lạm phát đều làm cho giá cả hàng hóa tăng lên.
1.1.2. Cách đo lƣờng lạm phát.
1.1.2.1. Các đo lường lạm phát trên thế giới.
Ở Mỹ, cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) chọn chỉ số trượt giá tổng tiêu dùng cá nhân
làm cơ sở cho các quyết định của mình. Chỉ số này rộng hơn CPI và không bị ảnh
hưởng bới sự thay đổi thói quen tiêu dùng trong dân chúng nên nó là thước đo rất tốt
cho tình trạng lạm phát hiện thời.
Với các nước khác, ngân hàng trung ương (NHTW) thường sử dụng CPI đã được hiệu
chỉnh yếu tố mùa vụ vì không có được số liệu trượt giá tổng tiêu dùng cá nhân tốt như
Mỹ.
FED và một số NHTW của ÚC, New Zealand, Nhật Bản loại bỏ một số hàng hóa có

nhau về mặt thời gian.

4

1.2. Các loại lạm phát
Tùy vào các tiêu chuẩn khác nhau mà người ta có thể phân chia lạm phát thành nhiều
loại khác nhau:
Căn cứ vào mức độ biểu hiện của giá cả trên thị trường, lạm phát được chia thành 2
loại: lạm phát ngầm và lạm phát công khai.
Căn cứ vào biểu hiện bên ngoài của bản chất lạm phát người ta chia ra thành lạm phát
lưu thông tiền tệ, lạm phát giá cả, lạm phát sức mua và lạm phát suy thoái.
Căn cứ vào nguyên nhân lạm phát chia ra thành các loại lạm phát: cầu dư thừa tổng
quát, lạm phát cung, lạm phát chi phí, lạm phát cơ cấu, lạm phát nhập khẩu, lạm phát
tài chính – tín dụng, lạm phát hệ thống bốn yếu tố.
Căn cứ vào tốc độ lạm phát, được chia thành 3 loại: lạm phát vừa phải, lạm phát phi
mã, siêu lạm phát.
1.2.1. Lạm phát vừa phải
Mức độ tăng của giá cả cao hơn từ trên vài phần trăm đến mức lớn hơn không nhiều
so với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm được gọi là lạm phát vừa phải lạm phát
kiểm soát được. Đối với loại này thì tùy theo chiến lược và chiến thuật phát triển kinh
tế mỗi thời kỳ mà các chính phủ có thể chủ động định hướng mức khống chế trên cơ
sở duy trì một tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu để gắn với một số mục tiêu kinh tế khác như
kích thích tăng trưởng kinh tế, tăng cường xuất khẩu, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các
năm tài khóa nhất định.
1.2.2. Lạm phát phi mã
Mức độ tăng của giá cả hàng hóa lúc này cũng như một con ngựa bất kham đang tung
vó để chạy. Nhìn chung lạm phát phi mã duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những
biến dạng kinh tế nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ mất giá nhanh, cho
nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho giao dịch hằng ngày. Mọi người
có xu hướng tích trữ hàng hóa, mau bất động sản, chuyển sáng sử dụng vàng và các

6

Nếu gọi tổng là AD thì AD = C+I+G+X-M
Trong đó:
C: chi tiêu hộ gia đình.
G: chi tiêu của chính phủ.
I: đầu tư nền kinh tế.
X: nhu cầu hàng hóa cho xuất khẩu.
M: lượng hàng hóa nhập khẩu.
Tổng cầu tăng lên có thể do một số nguyên nhân sau:
Chi tiêu của chính phủ cho an ninh quốc phòng, tăng các khoản đầu tư của Chính phủ
làm tăng tổng cầu.
Thâm hụt ngân sách kéo dài và được đài thọ bằng cách vay mượn ở trong nước, ngoài
nước hoặc NHTW, khối lượng tiền tệ lưu thông tăng lên. Vay nước ngoài cũng làm
khối lượng tiền tăng. Vay trong nước khi trả mà thu không đủ chi cũng phải phát hành
và làm cho khối lượng tiền tệ tăng. Khối lượng tiền tệ tăng làm cho tổng chi tiêu bằng
tiền tăng.
Chi tiêu dùng của các hộ gia đình tăng do mức thu nhập tăng hoặc được Chính phủ
giảm thuế, hoặc chế độ an sinh xã hội hay bảo hiểm tốt nên quyết đinh cắt giảm tiết
kiệm để chi tiêu, hoặc Chính phủ tăng trợ cấp.
Tâm lý thích tiêu dùng hay tiết kiệm của dân chúng đưa đến sự gia tăng tốc độ lưu
thông tiền tệ. Nếu dân chúng có khuynh hướng thích tiêu dùng, tốc độ lưu thông tiên
tệ gia tăng nhanh hơn.
Đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên do dự đoán về triển vọng phát triển kinh tế
trong nước và cà ngoài nước hay do lãi suất giảm.
7

Do chính sách tiền tệ mở rộng tạo nên điều kiện cho các doanh nghiệp, người dân dễ
tiếp cận nguồn vốn, có thể vay dễ dàng hơn, vay nhiều hơn dẫn đến nhu cầu chi tiêu
nhiều hơn.

là đầu vào của quá trình sản xuất). Giá hàng nhập khẩu tăng lên có thể do lạm phát của
nước ngoài cao làm cho giá nguyên liệu ở nước xuất khẩu tăng, hay do đồng nội tệ bị
mất giá so với đồng tiền của những nước có quan hệ mậu dịch.
Do thuế suất tăng lên làm ảnh hưởng tới mức sinh lợi của các nhà đầu tư do vậy đẩy
giá cả tăng lên. Để duy trì mức sinh lời mong muốn, hoặc các doanh nghiệp tăng tỷ lệ
lợi nhuận bằng biện pháp tăng giá bán hàng hóa sẽ làm cho giá cả tăng, việc tăng giá
trong trường hợp này mang tính bất hành chính tích cực nhằm duy trì lợi nhuận ở mức
mong muốn. Việc này thường xảy ra trong điều kiện độc quyền. Một số nước gọi là
lạm phát hành chính.
Như vậy, một lần nữa khi phân tích về lạm phát cầu kéo và lạm phát chi phí đẩy đều
cho thấy lạm phát xảy ra sẽ làm cho giá cả hàng hóa tăng lên. Trong khi phân tích về
các loại lạm phát, nguyên nhân của lạm phát, các nhà kinh tế thừa nhận không phải
lạm phát tích cực hay tiêu cực cho nền kinh tế, song những hậu quả mà nó để lại
không nhiều thì ít cũng tác động đến nền kinh tế.
1.4. Tác động của lạm phát
Lạm phát có thể tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế thông
qua nhiều kênh khác nhau, với mức độ ảnh hưởng tổng thể khác nhau đáng kể phụ
thuộc vào cơ cấu thể chế ( cả Nhà nước và tư nhân ) của nền kinh tế, phụ thuộc vào
khả năng thích nghi với mức lạm phát hiện hành và khả năng dự báo lạm phát.
1.4.1. Tác động tích cực
Lạm phát được xem là giúp tăng trưởng kinh tế thông qua việc khuyến khích huy
động vốn và tăng tính linh hoạt trong giá cả. Tỷ lệ lạm phát thấp có thể giúp bôi trơn
thị trường hàng hóa, lao động và tăng tính linh hoạt tương đối đối với giá cả. Nếu giá
cả (kể cả tiền lương và giá các nhân tố khác) giảm xuống với tính linh hoạt thấp và
9

nếu các ngành sản xuất khác nhau có mức cầu và năng suất tăng không đồng đều thì
giá cả tăng nhẹ có thể tạo ra một mức độ linh hoạt giá cả tương đối lớn cần thiết cho
việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực. Một tỷ lệ lạm phát thấp và ổn định sẽ tạo ra một
trong những động lực mạnh nhất để giúp đạt được mức tăng trưởng ổn định.

Trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, lạm phát làm cho sức mua đồng tiền giảm, lưu thông
tiền tệ diễn biến khác thường, tốc độ lưu thông của tiền tệ tăng lên một cách đột biến
càng làm cho sức mua của đồng tiền giảm xuống nhanh chóng hơn. Hoạt động của hệ
thống tín dụng ngân hàng rơi vào tình trạng khủng hoảng, do nguồn tiền gửi trong xã
hội bị sụt giảm nhanh chóng, nhiều ngân hàng bị phá sản do mất khả năng thanh toán
và thua lỗ trong kinh doanh. Tình hình đó làm cho hệ thống tiền tệ bị rối loạn và
không thể kiểm soát.
1.4.2.4. Lạm phát làm xấu đi tình trạng cán cân thanh toán quốc tế
Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn tỷ lệ lạm phát nước ngoài ( có quan hệ mậu
dịch) thì giá cả hàng hóa trong nước trở nên đắc đỏ hơn so với giá cả hàng hóa nước
ngoài, do đó làm giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu, làm xấu đi tình trạng của tài khoản
vãng lai. Tỷ lệ lạm phát cao cùng với bội chi tài khoản vãng lai có thể thạo nên tâm lý
trông đợi một sự giảm giá của đồng nội tệ so với ngoại tệ tạo nên áp lực tăng tỷ giá, tỷ
giá tăng càng đẩy mức giá cả chung tăng lên.
1.4.2.5. Lạm phát làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp
Mức giá chung tăng lên có thể gây nên sự giảm sút của tổng cầu và công ăn việc làm,
do đó gia tăng tỷ lệ thất nghiệp (vì lý do khu vực sản xuất sẽ bị thu hẹp).
Như vậy, có thể thấy ngoại trừ trường hợp lạm phát vừa phải còn có tác động tích cực
đến nền kinh tế còn lại nói chung lạm phát đều gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Vì
vậy, việc tìm giải pháp thích hợp để kiềm chế lạm phát là một vấn đề cần thiết. 11

1.5. Các nhân tố đƣợc xem xét khi nhắc đến lạm phát
Qua những phân tích tổng quan trên đây, chúng ta cũng có thể nhận thấy vấn đề lạm
phát không còn là xa lạ với Việt Nam. Tuy nhiên cần phải nhìn nhận rằng, lạm phát
vẫn mãi là vấn đề nóng và chiếm sự quan tâm đặc biệt của các nhà làm chính sách, các
nhà kinh tế học và cả chính người lao động. Và để giải quyết vấn đề không lạ nhưng
khó khăn này không phải là công việc đơn giản, bài nghiên cứu sẽ đi sâu vào việc

thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến nay và các yếu tố đã và
đang tác động đến lạm phát . 13

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG LẠM PHÁT TẠI VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2000 - 2011
2.1. Tình hình lạm phát của Việt Nam từ 2000 đến 2011
2.1.1. Lạm phát trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2003
Số liệu thống kê cho thấy chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2003
của nước ta ở mức thấp và ổn định dưới 5%.
Bảng 2.1 : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ năm 2000 đến năm 2003

Nguồn : Tổng cục thống kê
Chỉ số giá tiêu dùng năm 2000 là -0.6, chỉ số giá tiêu dùng một số tháng trong giai
đoạn này cũng ở mức âm. Nền kinh tế rơi vào tình trạng giảm phát, thuật ngữ “kích
cầu” lần đầu tiên xuất hiện trong các chính sách điều hành kinh tế của chính phủ, một 2000
2001
2002
2003
Tháng trƣớc = 100%
100.3
99.9

Tháng 6
99.5
100.0
100.1
99.7

Tháng 7
99.4
99.8
99.9
99.7

Tháng 8
100.1
100.0
100.1
99.9

Tháng 9
99.8
100.5
100.2
100.1

Tháng 10
100.1
100.0

Bước sang năm 2003, lạm phát được tiếp tuc giữ ơ mức thấp, chỉ số giá tiên dùng tăng
3%, tăng trưởng GDP năm 2003 vẫn tiếp tuc đà của năm 2001, đạt 7,24%. Cùng với
đó, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở thành thị giảm từ 6.01% năm 2002
xuống còn 5.8% năm 2003. Tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn tăng 2.29%, đạt
77.7% ( nguồn : tổng cục thống kê)
2.1.2. Lạm phát Việt Nam giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006
Sau một thời gian hạ nhiệt thì đến năm 2004 lạm phát lại tăng trở lại. Chỉ số CPI của
năm 2004 ở mức 9,5%. Vượt xa so với kế hoạch quốc hội đề ra là 4 – 5 %. Nhưng các
chỉ tiêu kinh tế xã hội còn lại đều hoàn thành so với kế hoạch đề ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status