Tài liệu Ảnh hưởng của các mức bổ sung bột sắn vào khẩu phần ăn đến lượng thức ăn thu nhận và tăng trọng của bò Lai Sind - Pdf 10

Ảnh hưởng của các mức bổ sung bột sắn vào khẩu phần ăn đến lượng thức ăn thu nhận
và tăng trọng của bò Lai Sind
Nguyễn Hữu Minh
1
, Nguyễn Kim Đường
1
*, Nguyễn Hữu Văn
2
,
1
Khoa Nông Lâm Ngư - Trường Đại học Vinh
2
Khoa Chăn nuôi Thú y- Trường Đại học Nông Lâm Huế

*Tác giả để liên hệ: PGS, TS. Nguyễn Kim Đường, Khoa Nông Lâm Ngư, Trường ĐH VInh
ĐT: (038) 3.552492 / 0902.798290; E-mail:

ABSTRACT
The effect of cassava meal supplêmnted to the basal over of laisind grossing cattle on feed intake and live
weight gain
20 Laisind uncastrated male (15-18 months of age, 150-180kg) were used in a completely randomized
design experiment with five treatments (1,2,3,4,5) (each of four animals). All animals was fed individually.
The following were treatment diets: Basal diet or convertional diet (Treatment dietI): CT+ fresh elephant
grass at 1.25% of live weight in dry metter basis; Treatment diet II: CT + 0.33% cassava meal (2% urea added);
Treatment diet III: CT + 0.66% cassava meal (2% urea added); Treatment diet IV: CT+ 1.32% cassava meal (2%
urea added); Treatment diet V: CT + 1.98% cassava meal (2% urea added).
The result of 3 months showed that: The maximum intake of cassava meal by cattle was around 1.4% of
body weight (BW) (1.3-1.5%) and supplementation at 1.32% of BW gave the best result. When the level of
cassava meal reached 0.33% of BW. Intake of roughage (rice straw and elephant grass) began to decrease. The
rate of reduction in roughage intake seemed to increase with increasing level of cassava meal in the diets.
However, total intake of growing cattle was not affected by level of cassava meal.

Sind (Red Shindhi x bò vàng) nuôi lấy thịt ở nước ta.
VậT LIệU Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
Gia súc thí nghiệm
Thí nghiệm tiến hành trên 20 bò đực lai Sind (chưa thiến) 15-18 tháng tuổi, khối
lượng TB 156 kg; chia làm 5 lô, 4 con/lô. Bò được nuôi mỗi con một ô, có máng thức ăn
tinh và máng thức ăn thô riêng, 2 ô chung một máng uống nước. Trước khi vào thí
nghiệm bò được nuôi 2 tuần làm quen với khẩu phần thí nghiệm. Trước khi vào thí
nghiệm bò được tẩy ký sinh trùng đường ruột và sán là gan, tiêm phòng vắc xin tụ huyết
trùng. Cân để kiểm tra khối lượng 2 ngày liên tiếp trước khi bắt đầu và kết thúc thí
nghiệm và 1 lần/tuần trong thời gian thí nghiệm tiêu hóa - cân vào 06h30 - 07h30, trước
khi cho ăn.
Thí nghiệm được thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu vật nuôi Thủy An - Khoa Chăn
nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Huế từ tháng 3 đến tháng 6/2006.
Thức ăn cho bò
Bò trong thí nghiệm được bố trí theo phương pháp CRD trong 5 lô với ăn 5 khẩu
phần ăn khác nhau như sau:
- Lô I: Khẩu phần cơ sở (KPCS): cỏ voi 1,25% (VCK) khối lượng sống.
- Lô II: KPCS + bột sắn 0,33% khối lượng sống của bò + rơm ăn tự do.
- Lô III: KPCS + bột sắn 0,66% khối lượng sống của bò + rơm ăn tự do.
- Lô IV: KPCS + bột sắn 1,32% khối lượng sống của bò + rơm ăn tự do
- Lô V: KPCS + bột sắn 1,98% khối lượng sống của bò. + rơm ăn tự do
Bột sắn dùng trong thí nghiệm đã được trộn 2% urê.
Bò được cho ăn bột sắn và cỏ voi từ 07h30 đến 18h00 với số lượng bữa khác nhau;
rơm lúa cho ăn tự do từ 18h 30 đến 07h sáng hôm sau.
Lượng bột sắn bổ sung được điều chỉnh hàng tuần theo sự tăng trưởng của từng con
bò. Lượng bột sắn ở lô II và lô III được cho ăn 2 bữa vào lúc 07h15 và 13h00; ở lô IV và
lô V cho ăn 3 bữa vào lúc lúc 07h15, 13h00 và 16h30. Lượng bột sắn dư thừa sẽ được thu
và cân vào 06h00 hôm sau.
Cỏ voi được cắt ngắn (5-10cm) trước khi cho bò ăn. Lượng cỏ cho bò ăn được điều
chỉnh theo tăng trưởng của bò hàng tuần với mức 1,25% (VCK) khối lượng sống. Cỏ

Tập hợp và tính toán số liệu
Lượng thức ăn thu nhận được ghi chép hàng ngày và tính toán bằng lượng cho ăn trừ
đi lượng còn thừa của mỗi loại thức ăn.
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng được xác định theo công thức tổng quát như sau:
Lượng thức ăn thu nhận (kg/con/ngày)
TTTĂ/kgTT =
Tăng trọng (kg/con/ngày)
Tăng trọng của bò được tính bằng cách phân tích hồi qui tuyến tính dựa trên kết quả
của 28 lần cân cho mỗi bò kể từ khi bắt đầu cho đến kết thúc thí nghiệm.
Số liệu được phân tích thống kê sinh vật học trên phần mềm Microsoft Excel 2003 và
Minitab version 13.0.
KếT QUả Và THảO LUậN
nh hưởng của việc sử dụng bột sắn trong khẩu phần đến lượng thức ăn thu nhận
của bò
Qua theo dõi thí nghiệm chúng tôi đã thu được các kết quả trên Bảng 2.
Kết quả Bảng 2 cho thấy, lượng bột sắn thu nhận thực tế của bò tăng dần theo mức
bổ sung bột sắn (2% urê) trong khẩu phần theo thứ tự lô I, II, III, IV, V với lượng thu
nhận thực tế là 0; 0,63; 1,22; 2,28 và 2,41 kg/con/ngày, tương đương với tỷ lệ: 0; 0,33;
0,66; 1,32 và xấp xỉ 1,40% so với khối lượng sống của bò.
Steen và cs., (2003)
cho biết, bò thịt có thể ăn vào lượng thức ăn tinh hỗn hợp tương
đương với 2,2% khối lượng cơ thể. Dự án đa dạng hóa nông nghiệp. Hợp phần khuyến
nông thức ăn chăn nuôi cũng khuyến cáo nông dân nước ta nuôi bò thịt vỗ béo với mức
đầu tư thức ăn tinh hỗn hợp lên đến 2,5% khối lượng cơ thể. Trong thí nghiệm này, mặc
dù bò ở lô V được cho ăn bột sắn ở mức 1,98% trong suốt thời gian thí nghiệm nhưng
lượng ăn vào bình quân chỉ xấp xỉ 1,40% (dao động 1,3-1,5%) khối lượng cơ thể. Câu hỏi
đặt ra ở đây là yếu tố nào hạn chế mức ăn vào của bò đối với bột sắn? Thực tế là bò trong
thí nghiệm này không thể thu nhận lượng bột sắn quá 1,5% khối lượng cơ thể của chúng.
Bảng 2. Lượng thức ăn thu nhận của bò thí nghiệm
Loại thức ăn

1,81
a
1,73
ab
1,64
ab
1,48
b
0,07 0,003 Cỏ voi
kg/100kgP/ngày 1,05
a
1,04
a
0,98
ab
0,92
bc
0,82
c
0,02 0,001
kg DM/con/ngày 1,72
a
1,39
b
1,28
b
0,57
c
0,68
c

2,36
b
2,38
b
0,07 0,005
Trong cùng một hàng ngang, các chữ cái khác nhau có sự sai khác với p < 0,05.
Khi bổ sung lượng bột sắn tăng dần ở các lô đã làm giảm lượng thu nhận khẩu phần
cơ sở (rơm và cỏ voi). Lượng rơm ăn vào có sự biến động ở các lô; giảm từ lô I đến lô IV
và có xu hướng tăng lên không đáng kể ở lô V, tuy nhiên vẫn có sự sai khác so với lô I, lô
II và lô III (P<0,05), có sự sai khác giữa lô I so với các lô còn lại và giữa lô II, III với lô
IV, V (P<0,05).
Cũng tương tự như lượng rơm mà bò thu nhận, khi tăng lượng bột sắn trong khẩu
phần đã làm giảm khả năng thu nhận cỏ voi, giảm từ lô I đến lô V. Có sự sai khác có ý
nghĩa giữa lô I với các lô còn lại và giữa lô II, III với lô IV, V (P<0,05).
Như vậy, khi mức bột sắn bổ sung trong khẩu phần tăng dần từ lô I đến lô V đã làm
giảm khả năng thu nhận thức ăn thô (rơm và cỏ voi) của bò. Điều này có thể do khi lượng
bột sắn ăn vào tăng đã có tác dụng dần thay thế lượng thức ăn thô ăn vào, làm cho nó
giảm; và có thể bột sắn trộn urê chứa nhiều năng lượng trao đổi mà bò thu nhận được đã
thay thế dần lượng năng lượng mà chúng cần từ rơm và cỏ voi.
Tổng lượng thức ăn tiếp nhận có sự tăng dần từ lô I đến lô IV, lô V bắt đầu chững lại.
Tổng lượng thức ăn thu nhận cho 100 kg P của bò có sai khác giữa lô I với các lô III, IV,
IV với P<0,05. Các lô có bổ sung bột sắn đều có lượng thức ăn tiếp nhận cao hơn so với
lô không bổ sung bột sắn. Điều này chứng tỏ rằng, bổ sung bột sắn vào khẩu phần đã có
ảnh hưởng tích cực đến khả năng thu nhận thức ăn của bò.
Thông thường khi bổ sung một lượng nhỏ thức ăn tinh vào khẩu phần ăn của bò có
vai trò như tác nhân xúc tác làm tăng khả năng thu nhận thức ăn thô xơ, ngược lại khi bổ
sung với lượng lớn thì nó có thể, làm giảm thu nhận thức ăn thô xơ. Kết quả thí nghiệm
cho thấy, ở mức 0,33% bột sắn bổ sung đã xẩy ra hiện tượng thay thế thức ăn. Tổng
lượng ăn vào của bò ở các lô có bổ sung bột sắn đều cao hơn so với lô không bổ sung và
có xu hướng tăng dần rõ rệt (P<0,05) ở lô III so với lô I.

11,26

7,59

8,93

Chi thêm (đồng/ngày) 0,00 1096,00

2175,00 3912,00 4011,00
Thu thêm (đồng/ngày) 0,00 2508,00

3652,00 6930,00 5346,00
Lãi (đồng/ngày) 0,00 1412,00

1477,00 3018,00 1335,00
Ghi chú: Giá rơm:300 đồng/kg; giá cỏ voi: 200 đồng/kg; giá bột sắn có bổ sung urê: 2000
đồng/kg; giá bò hơi: 22000 đồng/kg
Như vậy, khi bột sắn bổ sung vào khẩu phần ăn của bò tăng dần từ 0 đến 1,32% khối
lượng cơ thể của bò đã làm tăng khả năng tăng trọng của bò. Nhưng khi sử dụng bột sắn
trong khẩu phần cao hơn 1,32% thì tăng trọng của bò có xu hướng giảm. Có thể việc bổ
sung bột sắn vào khẩu phần ăn của bò đã làm tăng tính ngon miệng nên bò thu nhận thức
ăn tốt hơn, kết quả là tăng trọng của bò tăng.
Tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng trọng của bò ở các lô thí nghiệm giảm dần từ lô I
đến lô V, cao nhất ở lô I (16,04), tiếp đến là lô II (12,05), III (11,26), V (8,93) và thấp
nhất là lô IV (7,59). Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng của bò ở các lô thí nghiệm có sai khác
với P<0,05. Việc bổ sung bột sắn vào khẩu phần của bò đã giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg
tăng trọng của bò.
Kết quả ở Bảng 3 cũng cho thấy khi bổ sung bột sắn vào khẩu phần ăn của bò với các
mức khác nhau đã gián tiếp ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu hiệu quả chăn nuôi bò thịt. Khi
lượng bột sắn bổ sung tăng từ 0,33 đến 1,32 % thì tăng trọng tăng thêm so với lô không bổ

Arlington, Virginia.
Hassall. H, A. Conway and Le Ba Lich. 1991. Polices and Strategies for the Deverlopment of Cattle and
Buffalo Production in Vietnam. (Report prepared for the Government of the Socialiat Republic of
Vietnam), UNDP, FAO, Roma, 1991.
Koakhunthod S, Wanapat M, Wachirapakorn N, Nontaso N, Rowlinson P and Sorsungnern. 2001. Effect of
cassava hay and high-quality feed block supplementation on milk production in lactating dairy cows.
In International Workshopon Current Reseach and Deverlopment on Use of Cassava as Animal feed.
Konkaen University, Khon kaen, Thailand. pp: 21-25.
Lê Viết Ly. 1995. Giới thiệu một số kinh nghiệm nuôi bò thịt (bò vàng Trung Quốc) bằng phụ phẩm công
nông nghiệp. Trong: Lê Viết Ly - chủ biên. Nuôi bò thịt và những kết quả nghiên cứu bước đầu ở Việt
Nam, trang: 38-44. NXB nông nghiệp, 1995.
Nguyễn Xuân Bả. 2006. Đánh giá khả năng sử dụng cây dâu tằm (Morusalba), cây dâm bụt (Hisbicus Rosa
Sinensis L.) làm thức ăn cho gia súc nhai lại ở Miền Trung Việt Nam. Huế, 2006 (Luận án tiến sĩ).
R W.J. Steen, N.P. Lavery, D.J. Kilpatrick and M.G. Porter. 2003. Effect of pasture and hight concentrate
diets on the perfonmance of beef cattles carcass composition equal growth rate and the fatty acid
coposition of beef. New Zealand Joural of Agricultural Research, 2003. Vol, 46: 69-81.
Vũ Chí Cương. 2002. Nghiên cứu sử dụng có hiệu quả thức ăn protein trong nuôi dưỡng
bò thịt. Hà Nội, 2002./


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status