Tài liệu Lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thanh Hóa potx - Pdf 10

Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
ĐẶT VẤN ĐỀ
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA DỰ ÁN
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt
không thể thay thế, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa
bàn phân bố các khu dân cư, các cơ sở kinh tế, xã hội và an ninh, quốc phòng.
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa
đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001 - QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khoá
X kỳ họp thứ 10 tại chương I, điều 5 quy định "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước có quyền định đoạt về đất
đai và điều tiết các nguồn lực từ việc sử dụng đất".
Luật Đất đai năm 2003 tại chương I, điều 6 quy định: Quản lý quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Điều 21, 22,
23, 24, 25 đã quy định nguyên tắc, căn cứ nội dung lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất được thực hiện ở 4 cấp: Cả nước, tỉnh - thành phố, huyện, xã. Tại điều 26, 27, 28,
29 xác định thẩm quyền quyết định, xét duyệt, điều chỉnh, công bố và thực hiện quy
hoạch.
Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có một ý nghĩa đặc biệt quan
trọng nhằm định hướng cho các cấp, các ngành lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết; là
cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm căn cứ cho việc giao đất,
cho thuê đất và đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Đồng thời việc lập
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm hạn
chế việc sử dụng đất chồng chéo, lãng phí, bất hợp lý, kém hiệu quả, ngăn chặn các
hiện tượng tranh chấp, lấn chiếm, huỷ hoại đất, phá vỡ cân bằng môi trường sinh thái,
kìm hãm phát triển sản xuất cũng như phát triển kinh tế - xã hội. Do yêu cầu cấp thiết
của công tác này, UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức triển khai thực hiện dự án “Lập
quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hóa” để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá…
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 1

hoạch sử dụng đất;
- Thông tư số 04/2006/TT – BTNMT ngày 22/05/2006 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường hướng dẫn phương pháp tính đơn giá dự toán, xây dựng dự toán kinh
thực hiện lập và điều chỉnh quy hoạch kế hoạch sử dụng đất;
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 2
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ quy định bổ
sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Thông tư số 06/2010/TT-BTNMT ngày 15 tháng 3 năm 2010 quy định về định
mức kinh tế - kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Thông tư số 13/2011/TT-BTNMT quy định về Ký hiệu bản đồ hiện trạng sử
dụng đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
- Chỉ thị số 01/CT-BTNMT ngày 17 tháng 3 năm 2010 về việc tăng cường công
tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Công văn số 429/TCQLĐĐ-CQHĐĐ ngày 16/04/2012 của Tổng cục Quản lý
đất đai về việc hướng dẫn về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Nghị quyết số 17/2011/QH13 ngày 22 tháng 11 năm 2011 của Quốc hội về
quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015)
cấp quốc gia;
- Công văn số 23/VPCP-KTN ngày 23 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về
việc phân bổ chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia;
- Công văn số 621/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 08/3/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường về việc hoàn thành hồ sơ thẩm định quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế
hoạch sử dụng đất 05 năm (2011-2015) cấp tỉnh và Thành phố trực thuộc Trung ương;
- Căn cứ Công văn số 180/HĐND-CV ngày 14/6/2012 của Hội đồng nhân dân
tỉnh Thanh Hóa về việc thống nhất số liệu Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế
hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thanh Hóa.

ban ngành cấp tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố.
- Công văn số 1170/STNMT-QLĐĐ ngày 02/06/2011 về việc đề nghị bổ sung,
chỉnh sửa dự thảo báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng
đất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thanh Hóa. Nội dung: chỉnh sửa theo kết luận của Bí thư
tỉnh ủy tỉnh Thanh Hóa sau khi nghe báo cáo và ý kiến của đại biểu tại Phiên họp
thường vụ Tỉnh ủy ngày 30 tháng 05 năm 2011.
- Công văn số 1803/STNMT-QLĐĐ ngày 05/08/2011 về việc đề nghị bổ sung,
chỉnh sửa dự thảo báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng
đất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thanh Hóa. Nội dung: chỉnh sửa, bổ sung báo cáo, số
liệu và bản đồ trước khi hoàn thiện hồ sơ Báo cáo Bộ Tài nguyên Môi trường tổ chức
thẩm định.
- Công văn số 1921/STNMT-QLĐĐ ngày 22/08/2011 về việc đề nghị bổ sung,
chỉnh sửa dự thảo báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng
đất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thanh Hóa. Nội dung: chỉnh sửa theo biên bản kiểm tra
của các thành viên của Ban Quản lý dự án Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Thanh Hóa.
- Công văn số 1532/TCQLĐĐ-CQHĐĐ ngày 30 tháng 11 năm 2011 về việc
góp ý báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm
(2011-2015) tỉnh Thanh Hóa.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 4
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
- Công văn số 1048/STNMT-QLĐĐ ngày 09/05/2012 về việc đề nghị bổ sung,
chỉnh sửa dự thảo báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng
đất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thanh Hóa. Nội dung: góp ý một số chỉ tiêu phân bổ đến
từng huyện, thị xã, thành phố.
- Công văn số 1240/STNMT-QLĐĐ ngày 23/05/2012 về việc đề nghị bổ sung,
chỉnh sửa dự thảo báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng
đất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thanh Hóa. Nội dung: Báo cáo giải trình thay đổi một số
chỉ tiêu trong quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu
tỉnh Thanh Hóa.

o
kinh độ Đông. Có ranh giới như sau:
- Phía Bắc giáp 3 tỉnh: Ninh Bình, Hoà Bình, Sơn La.
- Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An.
- Phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn - CHDCND Lào.
- Phía Đông giáp biển Đông.
Thanh hoá nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung Bộ, ở vị trí cửa ngõ
nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi như: Đường sắt
xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217, cảng biển nước sâu
Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho lưu thông Bắc Nam, với các vùng
trong tỉnh và đi quốc tế. Thanh Hoá có sân bay Sao Vàng và quy hoạch mở thêm sân
bay Thanh Hóa thuộc địa bàn 3 xã Hải Ninh, Hải An, Hải Châu huyện Tĩnh Gia phục
vụ cho kinh tế Nghi Sơn và toàn tỉnh.
1.1.2. Địa hình, địa mạo.
a. Địa hình:
Thanh Hoá có địa hình khá phức tạp, bị chia cắt nhiều và nghiêng theo hướng
Tây Bắc - Đông Nam: Phía Tây Bắc có những đồi núi cao trên 1.000 m đến 1.500 m,
thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía Đông Nam; đồi núi chiếm trên 3/4 diện tích tự
nhiên của cả tỉnh. Địa hình Thanh Hoá có thể chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng núi và
trung du, vùng đồng bằng và vùng ven biển với những đặc trưng như sau:
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 6
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
- Vùng núi và trung du
Gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi Trường Sơn phía Nam, bao gồm
11 huyện: Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc,
Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, có tổng diện tích là
7064,12 km
2

Hoá) và Hải Hoà (Tĩnh Gia) có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc nuôi
trồng thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp (Nghi Sơn), dịch vụ kinh tế biển.
b. Địa mạo
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 7
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
Do điều kiện địa hình nằm ở rìa ngoài của miền tự nhiên Tây Bắc đang được
nâng lên, tiếp giáp với miền sụt võng là các đồng bằng châu thổ. Đây là những khu
vực núi thấp uốn nếp được cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau, từ các đá trầm tích
(đá phiến, đá vôi, cát kết, cuội kết, sỏi kết…) đến các đá phun trào (spilit, riôlit,
bazan), đá xâm nhập (granit), đá biến chất (đá hoa). Chúng nằm xen kẽ nhau, có khi
lồng vào nhau, làm phong cảnh thay đổi không ngừng. Đồng bằng châu thổ Thanh
Hoá được cấu tạo bởi phù sa hiện đại, trải ra trên bề mặt rộng, hơi nghiêng về phía
biển ở mé Đông Nam. Rìa Bắc và Tây Bắc là dải đất cao được cấu tạo bởi phù sa cũ
của sông Mã, sông Chu cao từ 2 - 15 m. Trên đồng bằng có một số đồi núi xen kẽ với
độ cao trung bình 200 - 300 m, được cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau (đá phun
trào, đá vôi, đá phiến). Trên địa hình ven biển có vùng sình lầy ở Nga Sơn và các cửa
sông Mã, sông Yên địa hình vùng ven biển được hình thành với các đảo đá vôi rải
rác ngoài vụng biển, dòng phù sa ven bờ được đưa ra từ các cửa sông đã tạo nên
những thành tạo trầm tích dưới dạng mũi tên cát, cô lập dần dần những khoảng biển ở
phía trong và biến chúng thành những đầm nước mặn. Những đầm này về sau bị phù
sa sông lấp dần, còn những mũi tên cát thì ngày càng phát triển rộng thêm, nối những
cồn cát duyên hải thành những chuỗi dài chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam dạng
xòe nan quạt.
1.1.3. Khí hậu
Thanh Hoá nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: Mùa hạ
nóng, ẩm mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô, nóng. Mùa đông lạnh
và ít mưa.
- Chế độ nhiệt: Thanh Hoá có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình năm khoảng
23

0
C -7
0
C, nhiệt độ trung bình năm là 24,2
0
C.
+ Vùng khí hậu trung du có nền nhiệt độ cao vừa phải, tổng nhiệt độ trung bình
cả năm 7.600
0
C -8.500
0
C, nhiệt độ trung bình năm khoảng 24,1
0
C.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 8
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
+ Vùng khí hậu núi cao có nền nhiệt độ thấp, mùa đông rét có sương muối, mùa
hè mát dịu, ít bị ảnh hưởng của gió khô nóng, tổng nhiệt độ trung bình cả năm
khoảng dưới 8.000
0
C, nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,8
0
C.
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí biến đổi theo mùa nhưng sự chênh lệch độ ẩm giữa
các mùa là không lớn. Độ ẩm trung bình các tháng hàng năm khoảng 85%, phía Nam
có độ ẩm cao hơn phía Bắc, khu vực núi cao ẩm ướt hơn và có sương mù.
- Chế độ mưa: Lượng mưa ở Thanh Hóa là khá lớn, trung bình năm từ 1.456,6 -
1.762,6 mm, nhưng phân bố rất không đều giữa hai mùa và lớn dần từ Bắc vào Nam
và từ Tây sang Đông. Mùa khô (từ tháng XI đến tháng IV năm sau) lượng mưa rất ít,

tỉnh Thanh Hoá
Vào mùa hè, hướng gió thịnh hành là hướng Đông và Đông Nam; các tháng
mùa đông hướng gió thịnh hành là hướng Bắc và Đông Bắc.
Tốc độ gió trung bình năm từ 1,3 - 2 m/s, tốc độ gió mạnh nhất trong bão từ 30
-40 m/s, tốc độ gió trong gió mùa Đông Bắc mạnh trên dưới 20 m/s.
Qua theo dõi những năm gần đây vùng núi gió không to lắm, bão và gió mùa
Đông Bắc yếu hơn các vùng khác. Tốc độ gió giảm thấp, bình quân tốc độ gió khoảng
1,0-1,5 m/giây; gió bão khoảng 25 m/giây.
- Bão và áp thấp nhiệt đới: Tình hình thời tiết ở Việt Nam nói chung và Thanh
Hoá nói riêng là bất thường, bão lũ xuất hiện không theo tính quy luật, mức độ ngày
càng nhiều, cường độ ngày càng tăng, phạm vi xảy ra ở khắp các vùng miền gây hậu
quả hết sức nặng nề về người và của, làm ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ phát triển kinh
tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của tỉnh.
Thanh Hóa thuộc vùng Bắc Trung Bộ, là vùng dễ bị tổn thương do tác động của
biến đổi khí hậu. Những năm gần đây, đã có nhiều biểu hiện khá rõ những thay đổi về
thời tiết và các thiên tai thường xuyên xảy ra với mức độ ngày càng khắc nghiệt hơn.
Nhiệt độ các tháng VI, VII, VIII có xu thế tăng lên khá rõ. Lượng mưa tháng VIII
những năm gần đây cao hơn trung bình nhiều năm.
Các cơn bão ở Thanh Hoá thường xuất hiện từ tháng VIII đến tháng X hàng
năm. Tốc độ gió trung bình là 1,72 m/s, dao động từ 1,2 - 3,8 m/s, tốc độ gió mạnh
nhất trong bão ghi nhận được từ 30 - 40 m/s. Theo số liệu thống kê từ năm 1996 đến
2005 có 39 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam, trong đó có 13 cơn
bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp tới Thanh Hóa.
- Lũ cuốn và lũ ống: Đã xuất hiện ở các vùng núi đe doạ sinh mạng và tàn phá
tài sản, ảnh hưởng đến sinh thái tổn thất về kinh tế ở tỉnh.
1.1.4. Thuỷ văn
a. Hệ thống sông
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 10
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá

cấp nước tưới và tiêu cho vùng Hà Trung.
- Hệ thống Sông Mã: Dòng chính sông Mã bắt nguồn từ núi Phu Lan (Tuần
Giáo - Lai Châu) ở độ cao 800 m - 1.000 m, sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam. Đến Chiềng Khương sông chảy qua đất Lào và trở lại đất Việt Nam tại Tén Tằn
- Mường Lát, rồi chảy qua các huyện Quan Hóa, Bá Thước, cẩm Thủy, Yên Định,
Thiệu Hóa, Hoằng Hóa, Quảng Xương, đổ ra biển (cửa Lạch Hới). Tổng diện tích lưu
vực sông rộng 28.490 km
2
, trong đó phần trên lãnh thổ Việt Nam rộng 17.810 km
2
, có
chiều dài 512 km, phần chảy qua Thanh Hóa có chiều dài 242 km. Sông Mã có 39
phụ lưu lớn và 02 phân lưu.
- Hệ thống sông Chu: Là phụ lưu cấp I lớn nhất của sông Mã. Bắt nguồn từ
vùng núi cao trên đất CHDCND Lào chảy chủ yếu theo hướng Tây Tây Bắc - Đông
Đông Nam. Sông Chu đổ vào sông Mã tại ngã ba Giàng, cách cửa sông mã về phía
thượng lưu 25,5 km. Chiều dài dòng chính sông Chu 392 km, phần chảy trên đất Việt
Nam 160 km. Tổng diện tích lưu vực sông Chu 7.580 km
2
. Từ Bái Thượng trở lên
thượng nguồn lòng sông Chu dốc, có nhiều ghềnh thác, lòng sông hẹp có thềm sông
nhưng không có bãi sông. Từ Bái Thượng đến cửa sông Chu chảy giữa hai tuyến đê,
bãi sông rộng, lòng sông thông thoáng, dốc nên khả năng thoát lũ của sông nhanh.
Sông Chu có rất nhiều phụ lưu lớn như sông Khao, sông Đạt, sông Đằng, sông Âm.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 11
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
- Hệ thống Sông Yên: Sông Yên bắt nguồn từ huyện Như Xuân, chảy qua huyện
Như Thanh, Nông Cống, Tĩnh Gia, Quảng Xương rồi đổ ra biển tại Lạch Ghép, sông
có diện tích lưu vực 1.996km

Hồ thuỷ lợi, thuỷ điện Cửa Đặt; Hồ sông Mực; Hồ Cống Khê; Các hồ đang thi công
như: Hồ thuỷ điện Trung Sơn,… Chức năng chính của hồ là tích nước, ngăn lũ, phát
điện, cung cấp nguồn nước tưới và nuôi trồng thuỷ sản.
1.1.5. Chế độ hải văn
a. Chế độ thủy triều
Vùng biển Thanh Hóa nhìn chung có chế độ nhật triều chiếm ưu thế. Độ cao
mực nước chiều trung bình kỳ nước cường biến đổi trong khoảng 1,2 - 2,5 m. Tốc độ
dòng triều ở khu vực biển Thanh Hóa là khá lớn, tại cửa Hới tốc độ dòng lớn nhất của
sóng K1 tại tầng 4m đạt trên 70 cm/s.
b. Chế độ sóng biển
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 12
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
Vùng biển Thanh Hóa mang đặc điểm chung của chế độ khí tượng thủy văn
vùng biển ven bờ Vịnh Bắc bộ và có những nét đặc thù riêng. Biển Thanh Hóa là
vùng biển hở nên sóng biển khá lớn. Vào mùa đông, sóng có hướng thịnh hành là
Đông Bắc với tần suất 40%, độ cao trung bình 0,8 - 0,9m, riêng 3 tháng đầu mùa
đông, độ cao trung bình xấp xỉ đạt 1,2m và độ cao lớn nhất 2,0 - 2,5 m. Vào mùa hè,
hướng sóng thịnh hành là Đông Nam; Ngoài ra hướng Bắc, Đông Bắc cũng đóng vai
trò đáng kể ở mùa này. Độ cao sóng trung bình từ 0,6 - 0,7m, lớn nhất 3,0 - 3,5 m. Từ
tháng VI đến tháng VIII sóng có hướng thịnh hành Tây Nam và độ cao sóng đạt 0,6 –
0,7m. Đặc biệt, khi có bão lớn đổ bộ vào độ cao sóng có thể đạt khoảng 6m.
c. Dòng hải lưu
Trong vùng vịnh Bắc Bộ, dòng nước lạnh chảy sang hướng Đông, rồi cùng với
dòng nước ấm chạy ngược lên phía Bắc, tạo thành một vòng tuần hoàn ngược chiều
kim đồng hồ. Do hoàn lưu của vịnh như vậy nên, vùng biển Thanh Hóa chịu ảnh
hưởng của dòng nước lạnh theo hướng Tây Nam và Nam.
Mùa lạnh: Gió mùa Đông Bắc và các giai đoạn giao thời hoàn lưu chung của
vịnh Bắc Bộ nói chung và của biển Thanh Hóa nói riêng có hướng dòng chảy ven bờ
theo hướng Bắc - Nam (dọc theo ven biển Thanh Hóa về phía Nam). Cường độ hải lưu

hết đất đã bị bạc màu cần được cải tạo đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp.
- Nhóm đất đen: Diện tích 5.903 ha, chiếm 0,53% diện tích tự nhiên. Đất bị lầy
thụt và bùn, cần cải tạo đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp.
- Nhóm đất xám: Diện tích 717.245 ha, chiếm 64,6% diện tích tự nhiên toàn tỉnh,
phân bố chủ yếu ở vùng trung du miền núi, thuộc các huyện Quan Hoá, Bá Thước, Như
Xuân, Thường Xuân, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Lang Chánh Đất có tầng
dầy, dễ thoát nước, thích hợp cho phát triển lâm nghiệp và các cây công nghiệp dài ngày,
cây ăn quả như cao su, cà phê, chè, cam, chanh, dứa
- Nhóm đất đỏ: Diện tích 37.829 ha, chiếm 3,4% diện tích tự nhiên, phân bố ở
độ cao trên 700 mét tại các huyện: Quan Hoá, Lang Chánh, Thường Xuân. Nhóm đất
này có tầng dày, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, ít chua nên thích hợp với
nhiều loại cây trồng và khoanh nuôi tái sinh rừng. Tuy nhiên, do phân bố ở địa hình
cao, chia cắt mạnh và dễ bị rửa trôi nên việc khai thác sử dụng gặp nhiều khó khăn và
cần có biện pháp bảo vệ đất.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 14
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
- Nhóm đất tầng mỏng: Diện tích 16.537 ha, chiếm 1,49% diện tích đất tự nhiên,
phân bố chủ yếu ở vùng trung du và các dãy núi độc lập ở đồng bằng ven biển như
Nông Cống, Thiện Hoá, Yên Định, Hoằng Hoá, Hà Trung, Hậu Lộc, Tĩnh Gia, Đông
Sơn Đặc điểm của nhóm đất này là có tầng mỏng và bị xãi mòn trơ sỏi đá, trên cần
được đầu tư, cải tạo và đưa vào khai thác.
- Đất khác: Diện tích 97.610 ha, chiếm 8,79% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong
đó núi đá vôi là 37.909 ha và ao, hồ, sông suối là 60.701 ha.
1.2.2. Tài nguyên nước;
a. Tài nguyên nước mặt
Tài nguyên nước mặt tỉnh Thanh Hoá tương đối phong phú và đa dạng. Ngoài 4
hệ thống sông chính cung cấp nước là sông Hoạt, sông Mã, sông Chu, sông Yên,
sông Lạch Bạng còn có 264 suối nhỏ và 1.760 hồ chứa lớn nhỏ khác nhau, tạo ra một
mạng lưới thủy văn dày đặc và phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh. Tổng lượng dòng

3
.
+ Hồ Cửa Đặt có dung tích chứa W = 1,45 tỷ m
3
+ Hồ Cống Khê có dung tích chứa W = 4,38 triệu m
3
Bình quân trữ lượng nước trên đầu người trên địa bàn tỉnh là thấp so với trung
bình cả nước, chỉ có 5.600 m
3
/người.năm (cả nước: 11.000 m
3
/người.năm) và còn tiếp
tục giảm. Do vậy, ngay từ bây giờ cần có những biện pháp hữu hiệu để điều tiết và sử
dụng tiết kiệm tài nguyên nuớc nhằm đảm bảo cho nhu cầu phát triển trong tương lai.
b. Tài nguyên nước dưới đất
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 15
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
Như đã trình bày ở trên, nước dưới đất trong phạm vi tỉnh Thanh Hóa chủ yếu
được tàng trữ ở tầng chứa nước lỗ hổng và tầng chứa nước khe nứt, trữ lượng nước
dưới đất ở một số vùng được thống kê trong bảng sau:
Bảng 1: Trữ lượng nước dưới đất ở một số vùng trong tỉnh Thanh Hoá
TT
Vùng
mỏ
Diện tích
điều tra
(km
2
)

, ∈
2
- - 16.620 173.000
Báo cáo Tĩnh
Gia
5 Phúc Do 320
Qp, t
2
,
p
2
- - 3.600 52.471
Báo cáo
Phúc Do
Tổng cộng 25.300 22.480 30.020 410.471
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 16
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp kết quả điều tra địa chất thủy văn tỉnh Thanh Hóa, 2009)
Qua đó ta thấy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có những tầng giàu hoặc rất giàu
nước. Đó là tầng chứa nước lỗ hổng Qp (Q
I-III
), các tầng nước khe nứt trầm tích
cacbonat hoặc lục nguyên - cacbonat. Đây thực sự là một tiềm năng về nguồn nước
dưới đất của tỉnh. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có số liệu chính xác về trữ lượng của
chúng. Ngoài các tầng chứa nước kể trên một số tầng chứa nước khác cũng rất đáng
chú ý như: ∈
2
sm, O
1

triển kinh tế xã hội. Theo kết quả kiểm kê đất đai về số liệu hiện trạng rừng và đất
lâm nghiệp năm 2010, diện tích đất có rừng toàn tỉnh là 600.627,66 ha; tỷ lệ che phủ
đạt 54%. Trong đó:
- Rừng phòng hộ có diện tích 180.750,84 ha; chiếm 30,0% diện tích đất lâm
nghiệp, phân bố chủ yếu ở vùng núi phía Tây và một số ít ở ven biển. Chức năng của
rừng là phòng hộ đầu nguồn các sông lớn như sông Mã, sông Chu, sông Mực, sông
Bưởi, Hồ Cửa Đặt, Hồ Yên Mỹ và phòng hộ ven biển.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 17
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
- Rừng đặc dụng bao gồm Vườn quốc gia Bến En, một phần Vườn quốc gia Cúc
Phương và các Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, Pù Luông, Xuân Liên và các di tích
danh thắng như Lam Kinh, rừng Thông. Với tổng diện tích 82.005,9 ha, chiếm 14%
diện tích đất lâm nghiệp. Chức năng của rừng là bảo tồn đa dạng sinh học, hệ động
thực vật quí hiếm, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường.
- Rừng sản xuất có diện tích 337.871,49 ha, chiếm 56% diện tích đất lâm
nghiệp; tập trung ở vùng đồi núi thấp và vùng trung du.
Rừng của Thanh Hoá chủ yếu là rừng lá rộng với hệ động thực vật khá phong
phú, đa dạng về giống loài. Về thực vật có các loại gỗ quý như lát, pơmu, trầm
hương, lim, sến, vàng tâm…; các loại thuộc họ tre có luồng, nứa, vầu, giang, bương,
tre…; ngoài ra còn có mây, song, dược liệu, cây thả cánh kiến. Tuy nhiên, trong
những năm cuối thập kỷ trước do bị khai thác quá mức nên chất lượng rừng giảm sút
nghiêm trọng, các loại thực vật quí hiếm như lim, lát chỉ còn rải rác ở một số địa bàn vùng
cao, vùng sâu, vùng xa, địa hình hiểm trở và tại các khu bảo tồn, vườn Quốc gia.
Về động vật, có thể nói hệ động vật rừng ở Thanh Hóa trước đây rất phong phú,
nhưng do trong nhiều năm bị săn bắt bừa bãi nên đã bị giảm sút nhiều. Tuy nhiên,
hiện nay vẫn thuộc loại phong phú so với nhiều tỉnh khác ở Bắc Bộ. Trong một số
khu rừng còn xuất hiện bò rừng, nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng và nhiều loại chim,
thú, bò sát khác. Đặc biệt một số nơi còn có các loài động vật quý như hổ, báo, gấu,
gà lôi, công trĩ. Riêng ở Vườn Quốc gia Bến En hiện còn hệ động vật rất phong phú

Rừng non chưa có trữ lượng: 57.899,3 ha.
Tóm lại, rừng của Thanh Hóa rất phong phú và đa dạng về chủng loại rừng và
lâm sản, nhưng chất lượng rừng thấp. Do địa hình phức tạp, giao thông cách trở nên
công tác quản lý và bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn; Tình trạng đốt nương làm rẫy và
khai thác lâm sản trái phép vẫn còn tái diễn.
1.2.4. Tài nguyên biển;
Thanh Hoá có bờ biển dài 102 km (từ cửa Càn, Nga Sơn đến Hà Nẫm, Tĩnh
Gia); vùng lãnh hải rộng hơn 1,7 vạn km
2
. Vùng biển và ven biển Thanh Hoá có tài
nguyên khá phong phú, đa dạng, trong đó nổi bật là tài nguyên thuỷ sản, tài nguyên
du lịch biển và tiềm năng xây dựng cảng và dịch vụ hàng hải.
* Về tài nguyên thuỷ sản: Vùng biển Thanh Hoá chịu ảnh hưởng của các dòng
hải lưu nóng và lạnh tạo thành những bãi cá, tôm có trữ lượng lớn so với các tỉnh phía
Bắc. Tại vùng biển Thanh Hoá đã xác định có hơn 120 loài cá, thuộc 82 giống, 58 họ
gồm 53 loài cá nổi, 69 loài cá đáy và các loại hải sản khác. Tổng trữ lượng hải sản
ước khoảng 140.000 - 165.000 tấn; khả năng khai thác từ 60.000 - 70.000 tấn/năm,
trong đó cá nổi chiếm hơn 60% và cá đáy chiếm gần 40%. Các ngư trường khai thác
chính gồm:
- Bãi cá nổi vùng Lạch Hới - Đông Nam Hòn Mê có trữ lượng 15.000 - 20.000
tấn, chủ yếu là cá lầm, cá trích, cá nục chiếm 60 - 70%, còn lại là cá thu, bạc má
Khả năng khai thác khoảng 7.000 - 10.000 tấn/năm.
- Bãi cá nổi ven bờ từ Nghệ An trở ra phía Bắc có trữ lượng khoảng 12.000-
15.000 tấn chủ yếu là cá lầm, cá trích chiếm khoảng 40 - 50%, còn lại là cá nục, cá
cơm, cá lẹp Khả năng khai thác khoảng 6.000 - 7.000 tấn/năm.
- Các bãi cá đáy phía Nam đảo Hòn Mê đến Lạch Ghép và Lạch Hới - Đông
Nam Hòn Mê.
Về tôm biển gồm 12 loài với trữ lượng hơn 3.000 tấn, trong đó tôm he chiếm
khoảng 5 - 8%. Có hai bãi tôm chính là bãi tôm Hòn Nẹ - Lạch Ghép và bãi tôm Lạch
Bạng - Lạch Quèn. Đây là bãi tôm có trữ lượng cao trong khu vực vịnh Bắc Bộ. Khả

trung tâm nghề cá của tỉnh, đồng thời cũng là những khu vực thuận lợi cho xây dựng
cảng biển với quy mô khác nhau.
Tóm lại, Thanh Hoá có bờ biển dài, có tiềm năng lớn về khai thác, nuôi trồng thuỷ
sản, phát triển du lịch, phát triển cảng và vận tải biển Đây là lợi thế rất lớn để Thanh
Hoá phát triển kinh tế nhanh, hội nhập mạnh với khu vực và với thế giới.
1.2.5. Tài nguyên khoáng sản
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 20
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
Tài nguyên khoáng sản ở Thanh Hoá khá phong phú về chủng loại và đa dạng
về cấp trữ lượng. Hiện toàn tỉnh có tới 257 mỏ và điểm quặng, với 42 loại khoáng
sản, trong đó có một số loại có ý nghĩa quốc tế và khu vực như Crôm, đá ốp lát, đô lô
mít, chì kẽm, thiếc, vonfram, antimoan, đá quý. Nhiều mỏ có trữ lượng lớn và phân
bố tập trung, cho phép khai thác với quy mô công nghiệp như đá vôi, đất sét làm xi
măng. Đây là một lợi thế lớn của tỉnh trong việc phát triển công nghiệp khai khoáng,
công nghiệp sản xuất xi măng, công nghiệp vật liệu xây dựng Các loại khoáng sản
chính có điều kiện khai thác gồm:
- Quặng sắt: Trên địa bàn có 59 mỏ và điểm quặng, trong đó 49 mỏ đã được
thăm dò, khảo sát, tổng trữ lượng trên 8 triệu tấn, hàm lượng sắt đạt 30 -65% có thể
khai thác phục vụ công nghiệp luyện thép, làm phụ gia cho sản xuất xi măng và sử
dụng vào một số mục đích khác. Quặng sắt phân bố tập trung ở các huyện miền núi
như Bá Thước, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Quan Hoá, Lang Chánh, Thạch Thành, Quan
Sơn, Như Thanh, Như Xuân và một số huyện đồng bằng: Hà Trung, Hậu Lộc, Nông
Cống, trong đó lớn nhất là mỏ Làng Sam - Cao Ngọc (Ngọc Lặc) có trữ lượng cấp
tìm kiếm trên 2 triệu tấn.
- Ti tan: Titan được tồn tại dưới dạng sa khoáng ven biển, phân bố dọc ven biển từ
Sầm Sơn đến cuối Quảng Xương (dài khoảng 14 km) bề rộng vỉa quặng từ 30 - 50 mét, bề
dày từ 0,3 - 4 mét. Titan được khai thác phục vụ cho công nghiệp luyện kim, sản xuất sơn
chịu nhiệt và các sản phẩm phục vụ công nghiệp cơ khí. Cần tăng cường công tác quản lý
trong khai thác, kinh doanh các loại quặng này.

tấn, chất lượng rất tốt và mỏ Nhân Sơn huyện Nga Sơn, trữ lượng khoảng 1 triệu tấn,
đá đã bị phong hoá mạnh.
- Đá trắng: có ở Khe Cang, Nà Mèo, Trung Sơn huyện Quan Sơn, có thành
phần CaO rất cao trên 54%; trữ lượng dự báo khoảng trên 2 triệu tấn dùng để sản xuất
bột nhẹ, chất độn cho công nghiệp sản xuất sơn, cao su…
- Quaczit. có ở Bản Do xã Hiền Trung - Quan Hoá được đánh giá có trữ lượng
30 triệu m
3
.
- Đá vôi trợ dung có ở Mường Hạ (xã Tam Lư - Quan Hoá), trữ lượng ước
khoảng 5 triệu m
3
.
- Cao lanh: phân bố ở nhiều nơi như Yên Cát (Như Xuân); Yên Mỹ, Bến Đìn,
Làng Cáy (Thường Xuân); Làng En (Lang Chánh); Kỳ Tân (Bá Thước); Hợp Thành
(Triệu Sơn); Tổng trữ lượng ước tính trên 5 triệu tấn; cao lanh được sử dụng sản xuất
gốm, sứ.
- Đá vôi xi măng: có 8 mỏ lớn, tổng trữ lượng trên 28 tỷ tấn, phân bố tập trung ở
các huyện Yên Định, Đông Sơn, Vĩnh Lộc, Hà Trung, Bỉm Sơn, Cẩm Thuỷ, Bá
Thước, Ngọc Lặc, Tĩnh Gia… Lớn nhất là mỏ Yên Duyệt - Bỉm Sơn với trữ lượng
trên 27 tỷ tấn đang được khai thác phục vụ sản xuất xi măng.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 22
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
- Sét làm xi măng: có 33 mỏ phân bố rộng rãi trên địa bàn tỉnh. Các mỏ có trữ
lượng lớn là mỏ Cổ Đam (Bỉm Sơn), trữ lượng thăm dò trên 59,5 tỷ m
3
; mỏ Định
Thành (Yên Định): 20,5 tỷ m
3

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 23
Báo cáo tổng hợp dự án QHSD đất giai đoạn 2011-2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015)
tỉnh Thanh Hoá
Đặc biệt Thanh Hoá có nền văn hoá đa dân tộc có ý nghĩa to lớn đối với du lịch.
Mỗi dân tộc có những nền văn hoá đặc trưng riêng gồm cả văn hoá phi vật thể và văn
hoá vật thể. Những thiết chế văn hoá xã hội truyền thống của từng dân tộc như: thiết
chế Bản mường của người Thái dựa trên lãnh thổ công, thiết chế lang đạo của người
Mường, thiết chế dòng họ của người H’Mông những phong tục tập quán trong sản
xuất, sinh hoạt và trong tín ngưỡng, hội hè cùng với những món ăn đặc sản mang
đậm nét của mỗi dân tộc là những tài nguyên du lịch nhân văn rất hấp dẫn đối với
khách du lịch, nhất là các du khách quốc tế. Thêm vào đó, tinh thần mến khách và
lòng nhiệt thành của con người Thanh Hoá cũng là nền tảng vững chắc cho ngành du
lịch phát triển.
1.3. Thực trạng môi trường.
1.3.1. Môi trường nước
+Hiện trạng chất lượng nước dưới đất
Theo báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Thanh Hoá từ năm 2000 đến nay, các
điểm quan trắc môi trường nước dưới đất tập trung hầu hết tại các đô thị, khu dân cư
tập trung ven các hệ thống sông chính như: Khu vực ven sông Mã (Bá Thước, Cẩm
Thủy, Yên Định và TP Thanh Hóa), khu vực ven sông Chu (Thường Xuân, Thọ
Xuân, Thiệu Hóa), khu vực ven biển (Nga Sơn, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương,
Tĩnh Gia) và một số khu vực có mức độ khai thác nước dưới đất cao như Bỉm Sơn,
Hà Trung, Thạch Thành, Nông Cống.
Nhìn chung chất lượng nguồn nước dưới đất còn khá tốt. Có thể khai thác sử
dụng cho mục đích sinh hoạt khi qua hệ thống xử lí sơ bộ. Tuy nhiên cũng có thể nhận
thấy vấn đề đáng quan tâm hơn cả đối với nguồn nước dưới đất là nhiễm bẩn bởi vi sinh
vật và asen.
- Ô nhiễm do asen: Theo báo cáo điều tra hiện trạng ô nhiễm asenic trong nguồn
nước sinh hoạt của 26 huyện thị trong tỉnh cho thấy:
+ Hàm lượng asenic trong nước giếng khoan cao hơn nước giếng đào.

+ Sông Chu: Giá trị COD đo được tại điểm cầu Thiệu Hóa vượt 1,9 lần QCVN
08 (cột B) và cao hơn 3,34 lần so với điểm thượng lưu (Đập Bái Thượng).
+ Sông Lèn: Giá trị COD đo được tại điểm Lạch Sung vượt 1,6 lần QCVN 08
(cột B) và cao hơn 4,9 lần so với điểm thượng lưu (Cầu Lèn).
+ Sông Bạng: Giá trị COD đo được tại điểm cầu Đò Dừa vượt 2,4 lần QCVN 08
(cột B) và cao hơn 3,65 lần so với điểm ở vùng thượng lưu (ví dụ: điểm Cầu Chuối).
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hoá 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status