Công cụ chính sách ngoại thương của việt nam hiện nay - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIÊN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: Kinh tế quốc tế 1

Chủ đề : Công cụ chính sách ngoại thương của Việt Nam hiện nay
Giảng viên hướng dẫn: Tô Xuân Cường
Lớp: Kinh tế quốc tế 52A
Nhóm 5:
1. Tạ Thị Ngọc Ánh 7. Hoàng Đình Khải
2. Nguyễn Thành Công 8. Hà Văn Linh
3. Hoàng Quốc Đạt 9. Nguyễn Thị Mai (nhóm trưởng)
4. Nguyễn Hà Giang 10. Nguyễn Thị Thuỷ
5. Trần Thị Hằng 11. Nguyễn Thị Thu Trang
6. Nguyễn Kim Hoàn 12. Phạm Thị Hải Yến
HÀ NỘI – NĂM 2013
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập,kinh tế đối ngoại là hoạt động tất yếu
khách quan đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân,phục vụ cho sự
phát triển của các nước đang phát triển,có nền kinh tế mở cửa.Đối với Việt Nam
hoạt động kinh tế đối ngoại hiện tại là kết quả của quá trình mở cửa hơn 20 năm,là
động lực phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập mới.Bởi hoạt động này làm rút
ngắn khoảng cách hội nhập kinh tế của Việt Nam với những nội dung phát triển
toàn diện của nó.
Lịch sử đã chứng minh nhiều nước trên thế giới và khu vực đã phát triển nền kinh
tế thành công bằng con đường kinh tế đối ngoại với chính sách mở cửa-khoan dung
hơn là đóng cửa cô lập và đố kỵ-nghi ngờ.Điển hình là ở Đông Á: Nhật Bản, Hàn
Quốc, Trung Quốc và một số nước ASEAN như: Singapo, Thái Lan…thông qua
hoạt động đối ngoại của mình đã nhanh chóng trở thành ‘’những con rồng kinh tế

Phần 3: Định hướng, mục tiêu và các giải pháp hoàn thiện công cụ chính sách
ngoại thương.
Phần 1: Những vấn đề cơ bản về các công cụ của chính sách ngoại thương
6
1.1.Chính sách ngoại thương và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế
1.1.1.Khái niệm
-Chính sách ngoại thương là một hệ thống các nguyên tắc, biện pháp kinh tế, hành
chính và pháp luật dùng để thực hiện các mục tiêu đã xác định trong lĩnh vực ngoạị
thương của một nước trong thời kỳ nhất định.
-Mục tiêu cơ bản của chính sách ngoại thương là hướng tới việc sử dụng và phân
bổ có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước trong quá tŕnh phát triển kinh tế
xă hội. Chính sách ngoại thương vùa thể hiện chính tất mở của nền kinh tế, vừa thể
hiện sự phân biệt đối xử đối với các nhà sản xuất, kinh doanh nước ngoài theo
nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.
1.1.2.Nhiệm vụ và vai trò
-Nhiệm vụ chủ yếu của chính sách Ngoại thương là tạo điều kiện thuận lợi nhất
nhất cho các doanh nghiệp mở rộng buôn bán với nước ngoài, cũng như thông qua
đàm phán quốc tế để đạt được mở rộng thị trường hợp pháp cho các doanh nghiệp.
Đồng thời chính sách ngoại thương cũng phải góp phần bảo hộ nền sản xuất nội
địa, hạn chế cạnh tranh bất lợi cho các doanh nghiệp trong nước.
-Chính sách ngoại thương bao gồm các bộ phận cấu thành như: chính sách thị
trường, chính sách sản phẩm, chính sách thuế quan, biện pháp cấm đoán, kiểm soát
hạn chế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu.
-Việc ban hành các chính sách ngoại thương làm giảm bớt sự bất trắc bằng cách tạo
ra một thể chế tương đối ổn định cho công cuộc kinh doanh của doanh nghiệp, để
khi họ muốn lập một công ty, muốn bán một hàng hoá, muốn vay tiền Doanh
nhân phải biết tôn trọng các chính sách của các nước khác, nếu họ muốn kinh
doanh ở nước ngoài. nhưng sự ổn định của các chính sách ngoại thương không phủ
nhận một thực tế là chúng luôn thay đổi. Và sự thay đổi của chính sách ngoại
7

quan với các loại thuế khác thu được từ xuất khẩu, nhập khẩu như thuế chống phá
giá, thuế trả đũa các loại thuế như vậy chuyên thu với hàng nhập khẩu không gắn
với thuế quan.
1.2.1.1 Vai tṛò của thuế quan
Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ nhà nước nào cũng sử dụng để
hoàn thành chức năng của ḿnh. Mục đích đánh thuế của mỗi quốc gia, ở vào các
thời kỳ khác nhau không giống nhau. Trong xă hội phong kiến, thu thuế chủ yếu là
tăng thu nhập tài chính quốc gia. Bước sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa, thuế quan
không chỉ là nguồn thu tài chính mà c̣òn là công cụ thực hiện chính sách ngoại
thương của các nước. Tuy nhiên, trong tất cả các nền kinh tế xă hội, thuế đều có
vai tṛò như sau:
a. Tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
+ Đối với nhà nước, thuế suất phải đem đến một năng suất thu tối đa mà lại
không gây cản trở, thậm trí c̣òn kích thích sự phát triển kinh tế xă hội. Thuế không
được triệt tiêu thuế mà trái lại thuế phải nuôi thuế.
+ Đối với người chịu thuế, thuế suất cần phải hạ, làm sao để người chịu thuế bớt
cảm thấy gáng nặng của thuế.
b. Thuế là công cụ quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân
9
Khi kinh tế phát triển, chính phủ có thể gia tăng thuế để làm cán cân thu nhập
nghiêng về phía nhà nước, hạn chế thu nhập có thể sử dụng, tăng tích luỹ nhà
nước, tạo ra một nguồn nhất định dự pḥòng khi kinh tế bị suy thoái hay gặp những
điều kiện bất lợi. Nói cách khác, chính phủ sẽ giảm thuế khi nền kinh tế đang khó
khăn.
Để phù hợp với chính sách của chính phủ trong từng giai đoạn, thuế được sử
dụng như một biện pháp điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất thông qua các mức thuế
suất phân biệt đối với từng sản phẩm, dịch vụ hoặc giữa các ngành sản xuất kinh
doanh khác nhau, có chính sách ưu đăi thuế đối với một số mặt hàng, ngành hàng.
c. Bảo hộ và thúc đẩy sản xuất nội địa phát triển :
Để bảo hộ sản xuất trong nước, một trong những biện pháp hữu hiệu mà chính

các nước công nghiệp phát triển c̣òn khoảng không quá 5%, trừ hàng dệt và may
mặc, mức trung b́nh khoảng 10-40% chủ yếu là đối với hàng nhập khẩu từ các
nước đang phát triển. Mức thuế quan trung b́ình ở các nước Đông Á chỉ c̣òn từ 5-
15%, Nam Á 10-60%, Mỹ Latinh, Trung Đông, Châu Phi 10-25%.
1.2.1.2.Phân loại thuế quan:
a. Phân loại theo mục đích đánh thuế :
- Thuế tài chính (c̣òn gọi là Thuế ngân sách) : là thuế đánh vào hàng hoá để
tăng thu cho ngân sách nhà nước.
- Thuế quan bảo hộ : là mức thuế suất cao đánh vào hàng nhập khẩu, làm cho
giá cả hàng nhập khẩu cao hơn so với giá hàng trong nước và bị suy giảm sức cạnh
tranh, tạo điều kiện phát triển sản xuất trong nước.
b. Phân loại theo đối tượng chịu thuế :
11
- Thuế xuất khẩu : chủ yếu đánh vào những mặt hàng mà nhà nước hạn chế
xuất khẩu ra nước ngoài. Những mặt hàng xuất khẩu này sau khi chịu thuế sẽ bị
hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới do những bất lợi về giá cả.
- Thuế nhập khẩu : đánh vào hàng nhập khẩu, thực hiện đồng thời cả hai
chức năng về tài chính và bảo hộ.
- Thuế quá cảnh : là loại thuế đánh vào hàng hoá khi đi qua biên giới hay
lănh thổ của một quốc gia.
c. Phân loại theo phương pháp tính thuế :
- Thuế tính theo giá : là loại thuế tính theo tỷ lệ phần trăm so với trị giá của
lô hàng.
- Thuế tính theo lượng : là loại thuế tính ổn định theo số lượng hoặc trọng
lượng của lô hàng.
- Thuế hốn hợp : là loại thuế kết hợp cả tính theo giá và tính theo lượng.
d. Phân loại theo mức tính thuế :
- Thuế suất ưu đăi : áp dụng đối với hàng hoá có xuất xứ từ những nước hay
những khu vực hợp tác kinh tế trên cơ sở kí kết các thoả thuận dành cho nhau
những ưu đăi về thuế quan.

thiên nhiên nhưng vấn đề bảo vệ môi trường cũng không được qui định một cách
rơ ràng. Trên thực tế, các nước vẫn đưa ra những biện pháp khác nhau để bảo vệ
môi trường đối với hoạt động ngoại thương, trong đó tích cực sử dụng các biện
pháp phi thuế quan như đặt ra những tiêu chuẩn về vệ sinh đối với mặt hàng lương
thực thực phẩm, tiêu chuẩn về kỹ thuật đối với mặt hàng máy móc thiết bị
13
1.2.2.3. Các biện pháp phi thuế quan.
a. Hạn ngạch nhập khẩu.
Hạn ngạch nhập khẩu là giới hạn về khối lượng hoặc giá trị đối với những
hàng hoá nhất định được phép mang từ nước ngoài vào trong một thời gian nhất
định, thường là một năm. Trên thực tế việc quản lý các hạn ngạch về giá trị khó
thực hiện thế các hạn ngạch về số lượng được áp dụng một cách phổ biến. Nhà
nước quy định hạn ngạnh nhập khẩu là để bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ tài
nguyên và cải thiện cán cân thanh. toán.
b. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER).
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biến tướng của hạn chế nhập khẩu, là
thoả thuận theo đó một nước đồng ư hạn chế xuất khẩu của ḿnh sang nước khác
đối với một mặt hàng xác định với một mức tối đa. Các thoả thuận này tự nguyện
chỉ ở mức độ nước xuất khẩu muốn tránh một mối đe dọa lớn hơn đối với ngoại
thương của ḿnh và do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn đối với ngoại thương của
mình và do đó chọn biện pháp ít thiệt hại hơn.
Nói cách khác, hạn chế xuất khẩu tự nguyện được đưa ra theo yêu cầu của
nước nhập khẩu và được nước xuất khẩu chấp nhận nhằm ngăn chặn những mối đe
dọa và những hạn chế đối với ngoại thương nước mình.
c. Giấy phép nhập khẩu.
Giấy phép nhập khẩu hàng hoá là một biện pháp quản lý nhập khẩu của Nhà
nước. Nó đ̣i hỏi khi nhập khẩu hàng hoá phải có giấy phép của cơ quan quản lý
Nhà nước. Trong hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của WTO, giấy
phép nhập khẩu được coi là thủ tục hành chính của chế độ giấy phép nhập khẩu,
yêu cầu các nhà nhập khẩu phải đệ tŕnh đơn hoặc các tài liệu khác cho cơ quan

phong phú và đa dạng. Tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế, mỗi quốc gia
đưa ra những biện pháp hành chính kỹ thuật khác nhau để kiểm soát hàng hoá xuất
khâủ, nhập khẩu.
1.3. các dạng chính sách TMQT điển hình
1.3.1.Chính sách mặt hàng:
Bao gồm các danh mục,các mặt hang được chú trọng trong việc xuất nhập
khẩu,sao cho phù hợp với trình độ phát triển và đặc điểm của nền kinh tế cũng như
các mặt hang cần hạn chế hoặc cấm xuất nhập khẩu trong 1 thời gian nhất định,do
những đòi hỏi khách quan của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và yêu cầu của
việc đảm bảo an ninh,n toàn xã hội.Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là phải
xác định rõ mặt hang truyền thống,mặt hang trọng điểm,mũi nhọn,chủ lực và mặt
hàng mới.
1.3.2.Chính sách thị trường:
Bao gồm định hướng và các biện pháp duy trì và mở rộng thị trường,xâm nhập thị
trường mới,xây dựng thị trường trọng điểm,các biện pháp có đi có lại giữa các
quốc gia mang tính chất song phương hoặc đa phương,việc tham gia vào các hiệp
định thương mại và thuế quan trong phạm vi khu vực hay toàn cầu nhằm tạo điều
kiện cho hoạt động thương mại quốc tế phát triển phục vụ cho các mục tiêu chiến
lược phát triển kinh tế-xã hội.
1.3.3.Chính sách hỗ trợ:
Bao gồm các chính sách và biện pháp kinh tế nhằm tác động 1 cách gián tiếp đến
hoạt động thương mại quốc tế như chính sách đầu tư,tín dụng,giá cả và tỷ giá hối
đoái cũng như chính sách sử dụng các đoàn bẩy kinh tế…Các chính sách này có
16
thể gây tác động thúc đẩy hay điều chỉnh sự phát triển của hoạt động TMQT.Tuy
nhiên,trong điền kiện hội nhập kinh tế quốc tế,các chính sách này phải phù hợp với
nguyên tắc,quy định quốc tế,đặc biệt là của WTO theo lộ trình cam kết của từng
quốc gia.
Phần 2. Thực trạng việc áp dụng các công cụ chủ yếu trong chính sách ngoại
thương của VN từ 1986 đến nay.

tươi…Đối với thuế nhập khẩu có khoảng 28 thuế suất danh nghĩa khác nhau tính
theo giá CIF. Mức thuế cao nhất áp dụng cho ô tô, đồ uống và các hàng sa xỉ khác
cụ thể 150% với bia, rượu mạnh, ô tô dưới 5 chỗ; 100% đối với ô tô từ 5 đến 24
chỗ; xe máy, máy tu hình từ 40% đến 50%. Còn thuế quan đánh vào nguyên liệu
thô, các thiết bị cơ bản và các sản phẩm trung gian nói chung thấp hơn nhiều như
0% với thiết bị dụng cụ y tế; 5% đối với dầu ăn; 8% với sơn chống rỉ…
Thuế xuất nhập khẩu giai đoạn này còn bao gồm cả thuế doanh thu và thuế tiêu
thụ đặc biệt nên thuế suất cao. Tuy có thuận tiện cho việc thu tập trung nhưng
không phù hợp với thông lệ quốc tế khiến hạn chế hàng nước ngoài vào Việt Nam.
Thuế nhập khẩu còn quá nhiều thuế suất (28 thuế suất từ 0-15%) tuy giúp bảo hộ
từng nhóm doanh nghiệp trong nước nhưng lại làm cho biểu thuế quá phức tạp,
thuế nhập khẩu nhìn chung còn khá cao làm gia tăng tình trạng buôn lậu, nhập lậu
qua biên giới và cửa khẩu. Bên cạnh một số mặt hàng chịu thuế suất cao còn có
mặt hàng không thu thuế, miễn thuế, diện mặt hàng có thuế suất từ 0-2% nhiều dẫn
đến bất hợp lý không khuyến khích sản xuất trong nước.
18
Do đó , sau khi gia nhập ASEAN , Chính phủ Việt Nam đã sửa đổi khung thuế xuất
nhập khẩu, một số mặt hàng theo hướng giảm mức tối đa khung thuế suất xuống
60%, phần chênh lệch giữa mức thuế nhập khẩu cũ và mới đã được chuyển sang
thuế tiêu thụ đặc biệt. Đặc biệt, vào tháng 12 năm 1995 tại Hội nghị thượng đỉnh
các nước ASEAN lần thứ 5, Việt Nam đã thực hiện Chương trình ưu đãi về thuế
quan có hiệu lực chung CEPT nên theo Nghị định 91/CP ngày 18/12/1995 chính
phủ Việt Nam công bố có 875 mặt hàng được đưa vào danh mục cắt giảm thuế
quan theo CEPT. Còn năm 1997, theo Nghị định 82/CP ngày 13/12/1996, có 1496
mặt hàng được đưa vào thực hiện CEPT.
Các danh mục hàng hóa trong khuôn khổ CEPT của Việt Nam năm 1995
Danh mục hàng hóa Số nhóm mặt hàng chịu
thuế
Tỷ lệ % trong tổng số các
mặt hàng

chịu thuế 100 % Và có thêm thuế suất ưu đãi đặc biệt được áp dụng cho hàng
nhập khẩu có xuất xứ từ nước hoặc khối nước có thỏa thuận về ưu đãi đặc biệt về
thuế nhập khẩu theo thể chế khu vực thương mại tự do, liên minh thuế quan tạo
thuận lợi cho gaio lưu thương mại.
Năm 1999, danh mục CEPT của Việt Namg được ban hành kèm theo Nghị định số
14/1999/NĐ-CP ngày 23/3/1999 của Chính phủ gồm 3952 mặt hàng tăng 1949 mặt
hàng so với danh mục CEPT năm 1998. Năm 2000 Việt Nam đã đưa thêm 640
dòng thuế nữa vào danh mục CEPT nâng tổng số các mặt hàng được đưa vào danh
mục cắt giảm ngay(IL) lên tới 4230 mặt hàng, trong đó có 2960 mặt hàng có thuế
suất 0-5% trên tổng số hơn 6400 mặt hàng trong Biểu thuế nhập khẩu.
Phân bố các mức thuế suất thuế nhập khẩu so với các dòng hàng hóa nhập
khẩu năm 2000
Mức thuế suất
(%)
Số lượng mặt hàng
chịu thuế nhập khẩu
Tỷ trọng trong tổng số
mặt hàng chịu thuế
Ghi chú
20
nhập khẩu (%)
0
1,5
4,4
7,5-60
67,5-82,5
90
150
1988
143

chuẩn bị lớn để chúng ta nhanh chóng trở thành thành viên chính thứ của WTO,
mặt khác qua hiệp định thương mại Việt - Mỹ quan hệ giữa hai nước Việt Nam -
21
Hoa Kì ngày một trở nên tốt đẹp hơn với việc quốc hội Mỹ và Việt Nam thông qua
hiệp định này, đặc biệt là Quốc hội Mỹ ngay sau Hiệp định này đã và đang thông
qua Quy chế Thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) cho Việt Nam trong thời
gian tiếp sau.
Theo hiệp định này, Việt Nam và Mỹ cam kết thực hiện đối xử thuế quan tối huệ
quốc đối với tất cả các mặt hàng nhập khẩu vào mỗi nước (mức thuế quan này là
50% đối với các quốc gia không nhận được MFN).
Cắt giảm thuế quan: Việt Nam đồng ý cắt giảm thuế quan (mức cắt giảm điển hình
là từ 1/3 đến 1/2 ) đối với một loạt các sản phẩm được các nhà xuất khẩu Mỹ quan
tâm như các sản phẩm vệ sinh, phim, máy điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh, xe gắn máy,
điện thoại di động, video games, thịt cừu, bơ, khoai tây, cà chua, hành, tỏi, các loại
rau xanh khác, nho, táo và các loại hoa quả tươi khác, bột mỳ, đậu tương, dầu thực
vật, thịt và cá đã được chế biến, các loại nước hoa quả Việc cắt giảm thuế quan
các mặt hàng này được áp dụng dần dần trong giai đoạn 3 năm. Phía Mỹ thực hiện
cắt giảm ngay theo quy định của Hiệp định song phương. Do chưa được hưởng quy
chế Tối huệ quốc (MFN) nên hàng hoá Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ phải chịu các
rào cản thuế quan và phi thuế quan. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam
sang Mỹ gồm thuỷ sản chiếm 15,6% kim ngạch xuất khẩu năm 1998, cà phê chiếm
18,54%, dầu thô chiếm 17%, gạo chiếm 8,38% và giày dép các loại chiếm 20,4%.
Các nhóm hàng này chiếm đến 80% kim ngạch xuất khẩu và là các mặt hàng có
hàm lượng chế biến thấp.
2.1.2.2 Lộ trình giảm thuế khi gia nhập AFTA
Để thực hiện cam kết này, Lịch trình cắt giảm thuế qua tổng thể thực hiện AFTA
giai đoạn 2001 - 2006 của Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn về
mặt nguyên tắc tại công văn số 5408/VPCP - TCQT ngày 11/12/2000 của Văn
phòng Chính phủ. Đồng thời căn cứ vào lộ trình này Thủ tướng Chính phủ đang
22

hàng hóa của Việt Nam (chủ yếu là gạo, dầu thô, giày dép, hàng dệt may, cao su,
hải sản ) được hưởng thuế suất ưu đãi CEPT chiếm gần 20% trong tổng số kim
ngạch xuất khẩu sang ASEAN và chỉ chiếm 3,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam trong năm 2001. Tuy nhiên, lợi ích rõ ràng nhất khi tham gia
CEPT/AFTA là mở được thị trường tiêu thụ. Sau sáu năm thực hiện CEPT,
ASEAN đã trở thành một trong những thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam,
bên cạnh EU, Nhật Bản, Mỹ.
2.1.2.3. Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005
Luật xuất nhập khẩu được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 5 năm 2005 và có
hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2006. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và luật
hải quan của Việt Nam về cơ bản đã được xây dựng phù hợp với những quy tắc và
định chế của pháp luật kinh tế quốc tế, góp phần quan trọng trong việc phát triển
kinh tế đối ngoại và yêu cầu thu ngân sách của nhà nước.
Luật thuế nhập khẩu đã phát huy vai trò của mình trong việc bảo hộ một cách hiệu
quả những mặt hàng có thế mạnh sản xuất trong nền sản xuất nội địa như sản phẩm
từ sản xuất nông nghiệp hay các ngành sản xuất còn non trẻ khác xét điều kiện
trong nước còn chưa thể đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như chất lượng so
với các quốc gia khác trên thế giới như ngành sản xuất ô tô
Để khuyến khích xuất nhập khẩu, đặc biệt đối với việc nhập khẩu hàng hoá phục
vụ cho sản xuất và xuất khẩu, chính sách thuế XNK còn quy định các trường hợp
được miễn giảm và hoàn lại thuế. Và trong những năm gần đây thì sự điều chỉnh
trong cơ cấu thuế quan là đáng kể nhất. Thuế suất trung bình (không gia quyền)
tăng chút ít từ 13,4% năm 2003 lên 15,7% năm 2006. Sự gia tăng này kèm theo đó
24
là sự giảm đáng kể về độ phân tán của từng loại thuế riêng biệt xung quanh thuế
suất trung bình, hệ số biến thiên giảm từ 131% năm 2003 xuống 116,3% năm
2006. Cơ cấu thuế quan năm 2006 chỉ có 15 dòng thuế, so với 35 dòng năm 2000.
Thuế suất tối đa cũng giảm từ 200% xuống 120% trong giai đoạn này, kèm theo đó
là giảm số dòng thuế nằm ở mức cao nhất của biểu thuế. Cho đến đầu năm 2005,
chỉ có 1,1% tổng số dòng thuế (74/6269) là có thuế suất trên 50%.Việc giảm độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status