1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
Đề Tài:
NHỮNG CÔNG CỤ CHỦ YẾU TRONG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƯƠNG
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Học phần : Kinh tế quốc tế I_2
Lớp chuyên ngành : Kinh tế quốc tế 52A
Giáo viên hướng dẫn : Tô Xuân Cường
Nhóm thực hiện : Nhóm 1
Hà Nội, tháng 3/2013
2
Danh sách nhóm:
1. Nguyễn Thị Trang (Nhóm trưởng)
2. Nguyễn Thị Huyền
3. Trần Thị Thanh Nga
4. Bùi Thị Thùy Dung
5. Trần Thị Thu Phương
6. Trần Thị Thu Hằng
7. Trần Thị Khuyên
8. Dương Thị Việt Hà
9. Trịnh Thị Vân
10. Vũ Thị Vân
11. Nguyễn Ngọc Anh
12. Chuluunchimeg Chuluunbaatar
13. Sukhee Tergungerel
3
Mục lục
Lời mở đầu
I. Tổng quan về các công cụ của chính sách ngoại thương
I.1. Chính sách ngoại thương và vai trò với sự phát triển kinh tế…………………… 6
kinh tế quốc tế. Việc thành lập Tổ chức thương mại thế giới WTO đã tạo điều kiện thuận lợi
trong việc thúc đẩy thương mại quốc tế. Bên cạnh đó, nó đòi hỏi các quốc gia phải thực hiện
hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của mình.
Mặc dù thương mại quốc tế nói chung mang lại những lợi ích to lớn, nhưng với nhiều lý do khác
nhau, mỗi quốc gia có chủ quyền đều có chính sách thương mại quốc tế riêng, thể hiện ý chí và
mục tiêu của Nhà nước đó trong việc can thiệp và điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế
có liên quan đến nền kinh tế quốc gia. Do sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia nên
khả năng và điều kiện tham gia vào thương mại quốc tế của mỗi nước không giống nhau. Tại
Việt Nam, chính sách thương mại quốc tế ngày càng được hoàn thiện, giúp các hoạt động sản
xuất, kinh doanh diễn ra thuận lợi.
Mục đích của đề tài: nghiên cứu về các công cụ của chính sách ngoại thương, trong đó
bao gồm công cụ thuế quan và phi thuế quan. Từ đó, rút ra những đánh giá chủ quan về
chính sách thương mại quốc tế và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu: các công cụ thuế quan và phi thuế quan được áp dụng ở Việt
Nam.
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập thông tin, số liệu từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau
- Thống kê, tổng hợp, phân tích những thông tin thu được. Qua đó rút ra nội dung và
kết luận cho vấn đề.
Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu đề tài của nhóm gồm có các
phần chính như sau:
I. Tổng quan về các công cụ của chính sách ngoại thương
II. Thực trạng áp dụng các công cụ chủ yếu trong chính sách ngoại thương của Việt Nam
hiện nay
5
III. Định hướng và mục tiêu của chính sách ngoại thương của Việt Nam trong thời gian
tới
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm đã cố gắng tìm hiểu các nguồn thông tin trên mạng và
sách báo có liên quan, kết hợp với các thông tin thu được trong quá trình học tập trên giảng
1.2.1. Thuế quan
Thuế quan là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa xuất khẩu hay nhập khẩu của mỗi quốc gia
hoặc hàng quá cảnh.
1.2.1.1. Phân loại: Thuế quan có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau.
7
• Theo mục đích đánh thuế
- Thuế quan tài chính: mục đích là nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, loại thuế
này thường ở mức thấp.
- Thuế quan bảo hộ: là loại thuế đánh cao vào hàng hóa nhập khẩu, làm cho giá bán hàng
nhập khẩu tăng lên bằng hoặc cao hơn giá bán hàng cùng loại được sản xuất trong nước,
giảm sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu.
- Thuế trừng phạt: Chính phủ áp dụng thuế trừng phạt nhằm trừng phạt, hạn chế triệt để
hàng hóa ở nước khác xâm nhập vào nước mình.
- Thuế chống bán phá giá: một doanh nghiệp xuất khẩu sẽ bị nước nhập khẩu áp dụng thuế
chống bán phá giá nếu hội tụ đủ 2 điều kiện sau:
Điều kiện cần: giá hàng hóa nhập khẩu thấp hơn một mức giá tham chiếu.
Điều kiện đủ: hành vi trên gây thiệt hại đáng kể cho các nhà sản xuất nội địa
• Theo đối tượng đánh thuế
- Thuế xuất khẩu: là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa xuất khẩu. Chính phủ các
nước hạn chế đánh thuế xuất khẩu vì sẽ làm giá hàng hóa tăng, giảm sức cạnh tranh.
- Thuế nhập khẩu: là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa nhập khẩu, theo đó người
mua trong nước phải trả cho những hàng hóa nhập khẩu một khoản lớn hơn mức giá mà
người xuất khẩu ngoại quốc nhận được.
- Thuế quá cảnh: là thuế đánh vào hàng hóa không đi vào trong nước mà chỉ đi qua nước
đó
• Theo phương pháp tính thuế
- Thuế tính theo số lượng: là mức thuế tính theo một đơn vị vật chất của hàng hóa nhập
khẩu.
- Thuế tính theo giá trị: là mức thuế tính theo tỷ lệ phần trăm (%) của mức giá hàng hóa trả
cho nhà xuất khẩu ngoại quốc.
đảm bảo mức chênh lệch giữa giá trong nước và giá thế giới đúng bằng mức thuế đã quy
định.
• Nhược điểm
- Tính ỳ: được hiểu là độ trễ của những chính sách thuế quan của nhà nước. Khi mới thay
đổi chính sách thuế thì nó ko thể có tác động nhanh, đạt được hiệu quả ngay tức khắc
9
- Thuế quan tạo ra bộ máy hành thu cồng kềnh, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp
trong và ngoài nước.
- Gây ra hiện tượng gian lận thương mại, buôn lậu. Đặc biệt đối với thuế nhập khẩu. Việc
đánh thuế nhập khẩu cao dẫn đến tình trạng trốn thuế của một số doanh nghiệp, gây thất
thoát ngân sách Nhà nước và ảnh hưởng đến sự phát triển chung của kinh tế.
1.2.2 Công cụ phi thuế quan
Trong khuôn khổ WTO, khái niệm biện pháp phi thuế quan được coi là: “Biện pháp phi thuế
quan là biện pháp ngoài thuế quan, liên quan hoặc ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hóa
giữa các nước”, còn: “Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính
cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng.”
1.2.2.1. Phân chia công cụ phi thuế quan.
1.2.2.1.1. Nhóm các biện pháp định lượng.
- Hạn ngạch.
Hạn ngạch (hay hạn chế số lượng) là quy định của một nước về số lượng cao nhất của một
mặt hàng hay một nhóm hàng được phép xuất hoặc nhập từ một thị trường trong một thời
gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép.
Ba loại hạn ngạch là: hạn ngạch nhập khẩu, hạn ngạch xuất khẩu và hạn ngạch thuế quan.
- Giấy phép nhập khẩu:
Giấy phép nhập khẩu là một biện pháp thường được sử dụng ở những nước gặp khó khăn
trong điều hòa cán cân xuất - nhập khẩu. Giấy phép này cũng được sử dụng phổ biến để khống
chế số lượng nhập khẩu một mặt hàng nhất định hoặc thu thập dữ liệu thống kê về mặt hàng đó.
1.2.2.1.2. Nhóm các biện pháp quản lý giá cả.
- Trị giá tính thuế Hải quan.
Là một công cụ gián tiếp bảo hộ sản xuất trong nước.
- Các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn.
Là các biện pháp đề cập đến các sản phẩm có đặc trưng liên quan đến vấn đề kỹ thuật
như chất lượng, an toàn, kích cỡ…
- Ngoài ra còn có các biện pháp: Kiểm dịch động thực vật, an toàn VSTP, an toàn về nhãn
mác, đóng gói, quy định về môi trường…
1.2.2.1.6. Nhóm các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời.
- Chống bán phá giá
Việc bán phá giá một sản phẩm xảy ra nếu giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ
một nước đến một nước khác thấp hơn giá so sánh của sản phẩm tương tự dùng để tiêu
thụ tại nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường.
- Trợ cấp và thuế đối kháng
11
Hàng hoá của một nước nếu được Chính phủ thực hiện các biện pháp trợ cấp trong quá trình sản
xuất kinh doanh, khi nhập khẩu vào thị trường nước khác đã tạo ra một sự không công bằng
trong cạnh tranh với hàng hoá cùng loại được bán trên cùng một thị trường.
Các biện pháp áp dụng chống trợ cấp tương tự chống bán phá giá, nước nhập khẩu cũng thường
sử dụng biện pháp đánh thuế chống trợ cấp, còn gọi là “thuế đối kháng”.
1.2.2.1.7. Các biện pháp khác
- Thủ tục hành chính
- Thủ tục hải quan
- Biện pháp mua sắm chính phủ
- Các biện pháp đơn phương
1.2.2.2. Đánh giá công cụ phi thuế quan
• Ưu điểm
- Bảo hộ sản xuất trong nước, hạn chế nhập khẩu các mặt hàng không khuyến khích theo
đúng chủ trương, chính sách của Nhà nước.
- Phong phú trong việc áp dụng, đáp ứng nhiều mục tiêu.
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước kéo dài thời gian nâng cao sức cạnh tranh
trên thị trường quốc tế.
- Cải thiện cán cân thương mại.
Đối với thuế nhập khẩu
Nhìn chung trong giai đoạn này chính sách thuế nhập khẩu của nhà nước hầu hết nhằm tăng
cường bảo hộ cho sản xuất trong nước nên mức thuế suất tương đối cao.
Biểu thuế nhập khẩu năm 1991
( nguồn tổng cục thuế)
Biểu đồ thuế nhập khẩu với các loại ô tô năm 1995
14
( nguồn: Tổng cục thuế)
Nhìn vào hai bảng trên ta thấy các mặt hàng này đánh thuế cao vì đối với thuốc lá và rượu là hai
mặt hàng có hại cho sức khỏe nên hạn chế nhập khẩu, còn đối với ô tô nhằm bảo hộ sản xuất
trong nước.
- Ngày 29/4/98 Bộ tài chính đã ra quyết định về việc ban hành giá mua tối thiểu
để tính thuế nhập khẩu làm căn cứ xác định giá tính thuế nhập khẩu.
Bảng giá mua tối thiểu với một số mặt hàng:
15
Nhìn chung thì quy định trên là rất cần thiết và góp phần hạn chế tình trạng người mua và người
bán thông đồng với nhau ghi giá hàng thấp . Đồng thời cũng giúp cho việc tính thuế được nhanh
hơn và có thể hạn chế được việc bán phá giá; nhằm đẩy mạnh việc nhập hàng hoá
vào trong nước. Tuy nhiên việc tính thuế nhập khẩu theo giá mua tối thiểu có một số hạn chế.
Thứ nhất, giá cả thế giới luôn biến động nên việc tính theo giá này gây nên sự cứng nhắc. Thứ
hai, nó không phù hợp với thông lệ quốc tế là tính theo giá CIF. Thứ ba, qui định này chỉ áp
dụng với một số mặt hàng các mặt hàng còn lại thì sẽ do cục hải quan địa phương xác định nên
có thể hàng hóa bị đẩy cao hơn hoặc thấp hơn giá tri thực tế.
Thuế doanh thu
Thuế doanh thu ban hành ngày 30/6/1990 nhằm hỗ trợ cho việc thu ngân sách nhà nước và
quản lí hoạt động sản xuất kinh doanh.Giai đoạn 1996-1998 là giai đoạn cuối cùng thực hiện
thuế doanh thu. Trong giai đoạn này nhà nước thực hiện thuế doanh thu với hàng xuất khẩu
nhưng hiệu quả đạt được không cao.
Thuế VAT
16
17
nguyên liệu chưa cô đặc, muối, ngô hạt và trứng gia cầm, Số lượng hàng hóa nhập khẩu sẽ
được điều chỉnh thuế suất dựa trên sự cân đối giữa nhu cầu và năng lực sản xuất trong nước
- Ban hành chính sách ân hạn thuế .Cụ thể, thời hạn nộp thuế nhập khẩu đối với hàng xuất khẩu
là 15 ngày, với nguyên phụ liệu nhập khẩu để làm hàng xuất khẩu là 275 ngày kể từ ngày ra
thông báo nộp thuế
- Về xác định trị giá tính thuế nhập khẩu, chủ trương áp dụng bảng giá tối thiểu và giá tham khảo
để tính thuế nhập khẩu với một số mặt hàng: rượu vang, rượu mạnh, gạch lát, v.v…
Năm 2006, Việt Nam thực hiện điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với hàng linh
kiện, phụ tùng điện tử, và ô tô; cho phép nhập khẩu ô tô cũ kể từ ngày 1 tháng 5 và ban hành
mức thuế tuyệt đối đối với việc nhập khẩu ô tô cũ.
( Nguyên nhân:Do sản xuất xe trong nước được đảm bảo hộ cao, nhưng tỉ lệ nội địa hóa chỉ
2%-10%,và nhà nước giảm tỉ lệ bảo hộ với sản xuất xe trong nước từ 300% xuống còn 70% năm
2006, hơn nữa mức giá xe trong nước cao hơn 1.5 đến 2 lần so với các nước trong khu vực=>
18
việc cho phép nhập khẩu xe ô tô cũ nhằm kích thích tiêu dùng trong nước đáp ứng cầu thị trường
khi sản xuất trong nước chưa đáp ứng được)
Chính sách này có tác dụng làm tăng lượng nhập khẩu ô tô, tăng tiêu dùng trong nước và đặc biệt
với viêc áp dụng thuế tuyệt đối sẽ làm các nhà nhập khẩu nhập khẩu những loại xe có chất lượng
tốt tránh cho việt Nam trở thành bãi rác của thế giới.
Tác động Tích cực:
+ Trước tiên các chính sách trên giúp hạn chế những mặt hàng xa xỉ phẩm vì một số mục
đích xã hội.
+ Thứ hai, nhà nước có những qui định khắt khe về các mặt hàng như rượu, thuốc lá, xì gà,
vì đây là những mặt hàng thực tế nếu nhập nhiều sẽ gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe con
người.
+ Thứ ba, Nhà nước có những chính sách hạn chế nhập với những mặt hàng dệt may, ô tô,
đã góp phần làm giảm cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước.
+ Thứ tư, nó còn giúp Nhà nước quản lý lượng dự trữ tài nguyên quốc gia như: than đá, kim
loại màu, điện,….
Việt Nam- Hoa Kỳ vào tháng 7-2000. Đây có thể được xem là sự kiện quan trọng, là điều
kiện để Việt Nam có thể gia nhập WTO.Đối với thương mại hàng hoá, Việt Nam cam kết
giảm thuế nhập khẩu hàng nông nghiệp và công nghiệp từ Hoa Kỳ. Ngược lại, hàng hoá
của Việt Nam sẽ chỉ chịu mức thuế suất bình quân 4,9% thay vì mức 35% (thuế suất
không ưu đãi MFN). Hàng năm, Hoa Kỳ vẫn xem xét lại quy chế MFN đối với Việt Nam.
Thuế nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ được áp theo mức
thuế MFN.
Tuy còn một số bất cập trong chính sách nhưng Việt Nam đã có những sự chuẩn bị cần thiết
cho quá trình hội nhập WTO
Năm 2007 đánh dấu một năm quan trọng trong quá trình phát triển của kinh tế Việt Nam đặc
biệt đối với hoạt động thương mại. Khi gia nhập tổ chức này Việt Nam phải cam kết thực
hiện lộ trình giảm thuế quan theo qui định của tổ chức.
Cam kết cắt giảm thuế trong WTO
Việt nam cam kết giàng buộc với toàn bộ biểu thuế nhập khẩu hiện hành với 10.600 dòng thuế.
Thuế suất bình quân giảm 23% so với mức thuế bình quân hiện hành, từ 17,4% xuống còn 13,4%
thời gian ân hạn được thực hiện dần trong vòng 5 - 7 năm.Một số mặt hàng đang có mức thuế
cao từ trên 20% sẽ được cắt giảm thuế ngay sau khi gia nhập. Những nhóm mặt hàng có cam kết
cắt giảm thuế nhiều nhất gồm: Hàng dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế toạ khác,
máy móc thiết bị - điện tử
- Đối với thuế xuất khẩu
WTO không có nội dung nào yêu cầu cam kết về thuế xuất khẩu. Tuy nhiên, một số thành viên
(chủ yếu là các nước phát triển) yêu cầu cắt giảm tất cả thuế xuất khẩu, đặc biệt đối với phế liệu
kim loại màu và kim loại đen vào thời điểm gia nhập.
- Đối với thuế nội địa
Việt Nam cam kết thực hiện thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu, bia trong vòng 3 năm kể từ khi
gia nhập. Tất cả các loại rượu được chưng cất có nồng độ từ 20 độ cồn trở lên sẽ chịu mức thuế
tuyệt đối tính theo lít của rượu cồn nguyên chất hoặc một mức thuế phần trăm. Đối với bia trong
vòng 3 năm kể từ khi gia nhập sẽ áp dụng một mức thuế phần trăm chung, không phân biệt hình
thức đóng gói, bao bì.
- Về thuế nhập khẩu
22
Theo lộ trình, năm 2009, chính phủ tiếp tục cắt giảm 1.770 dòng thuế trong 337 nhóm mặt hàng
với mức giảm dao động trong khoảng từ 1-10%. Năm 2010, số dòng thuế được giảm là trên
1.650 với mức giảm thêm từ 1-6%.
Năm 2011 cắt giảm 924 dòng thuế, mức cắt giảm cao nhất là 10% như xì gà từ 120% xuống
110%, giảm thấp nhất là 1%, còn lại chủ yếu là từ 1-3%. Đặc biệt, thực hiện kiên định mục tiêu
đã đề ra, năm 2011, Việt Nam tiếp tục giữ các mức thuế suất trần theo cam kết WTO đối với một
số nhóm hàng có mức thuế cao và mang tính chất nhạy cảm như thuế thuốc lá 135%, xì gà
110%, ô tô nguyên chiếc 82% và 77% với rượu, bia.Nhìn chung các cam kết về thuế được thực
hiện tuân thủ đầy đủ các cam kết trong WTO theo đúng lộ trình. Mức thuế bình quân giản đơn
của Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi năm 2011 là 10,47% và trong một số trường hợp, mức thuế suất
áp dụng đã được quy định thấp hơn so với mức cam kết để phù hợp với mục tiêu điều hành kinh
tế vĩ mô và khuyến khích sản xuất kinh doanh trong nước, thúc đẩy xuất khẩu, trong đó chủ yếu
là nhóm hàng vật tư, nguyên nhiên vật liệu, linh kiện phục tùng và máy móc, thiết bị trong nước
không sản xuất được…
Đặc biệt, năm 2012 là năm có sự thay đổi lớn, theo đó, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi năm 2012
gồm 9.558 dòng thuế, tăng 1.258 dòng thuế. Trong số 9.558 dòng thuế này thì phải cắt giảm 945
dòng thuế theo cam kết WTO cho năm 2012 với mức cắt giảm chủ yếu từ 1-3%, gồm các mặt
hàng thủy hải sản, hoa quả, thực phẩm chế biến, bánh kẹo, rượu, thuốc lá
Các chính sách thuế khác trong giai đoạn này
- Năm 2008 chứng kiến một tần suất hiếm thấy trong điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu đối
với nhiều mặt hàng. Một mặt, những điều chỉnh này được thực hiện theo các cam kết thuế
quan giữa các nước thành viên khối ASEAN và theo lộ trình gia nhập WTO; mặt khác,
đây cũng là ứng xử của nhà điều hành chính sách trước những biến động mạnh và bất
thường trên thị trường thế giới nhằm hỗ trợ cho sản xuất, bình ổn thị trường trong nước,
cũng như hỗ trợ các ngành hàng xuất khẩu.
Thuế một loạt các mặt hàng nông sản, đồ gỗ, sắt thép, xăng dầu, gas, ôtô, giấy, nguyên
vật liệu cho sản xuất… liên tục được điều chỉnh; điển hình như thuế xuất khẩu thép(tăng
lên 20% sau đó lại giảm về 10%), thuế nhập khẩu xăng dầu giảm từ 5%-0% sau đó lại
tăng 5% do dự đoán giá dầu thế giới tăng ảnh hưởng đến giá xăng
gánh nặng về tài chính qua đó giảm được giá bán cho người tiêu dùng, nhưng lại gây sức ép rất
lớn cho sản xuất trong nước vì tạo ra áp lực cạnh tranh với hàng nhập khẩu
Tóm lại trong năm 2009, nhà nước đã có những chính sách thuế phù hợp để hạn chế nhập siêu,
So với con số nhập siêu trên 18 tỷ USD của năm 2008, năm nay, chênh lệch thương mại quốc tế
đã được kiềm chế chỉ còn khoảng 2/3, đạt gần 12,25 tỷ USD.Tuy nhiên, những điều chỉnh trong
chính sách thuế trên còn chưa đem lại hiệu quả cao gây khó khăn cho sản xuất trong nước
Đến năm 2010
Khởi đầu năm 2010, chính sách thuế nhập khẩu có nhiều điều chỉnh theo hướng giảm để phù hợp
với các cam kết Việt Nam đã đưa ra. Đáng chú ý, Bộ Tài chính theo chức năng nhiệm vụ đã ban
hành kèm theo Thông tư số 217/2009/TT-BTC biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt
Nam giai đoạn 2010-2012
24
Tuy nhiên trước những tác động tiêu cực từ nhập siêu mang lại, ngay 16/4 Bộ Công Thương đã
ban hành các danh mục các mặt hàng xuất khẩu không thiết yếu, hàng tiêu dùng không được
phép nhập khẩu.
Một số dòng xe ô tô nhập khẩu giảm mức thuế suất 83% xuống còn 80%. Thuế giá trị gia tăng
với ô tô tăng lên 10% chứ không như trước kia5%
Năm 2011
Để hạn chế việc các cá nhân doanh nghiệp lợi dụng chính sách thuế lách các qui định để nhập
khẩu vàng nên nhà nước đã tăng thuế nhập khẩu vàng lên 10% thay cho 0% trước đó. Các loại
vàng trang sức khác có hàm lượng cao; vàng miếng vàng thỏi, vàng bột có hàm lượng dưới
99,99% cũng chịu thuế suất 10% so với mức 0% hiện hành
Từ ngày 1-1-2011, thuế nhập khẩu ô tô có xuất xứ từ ASEAN giảm thêm 13%, theo cam kết Khu
vực thương mại tự do ASEAN (AFTA).
Theo đó, thuế suất thuế nhập khẩu các dòng ô tô chở người dưới 9 chỗ ngồi nhập khẩu từ các
nước ASEAN vào Việt Nam giảm từ mức 83% hiện nay xuống còn 70%.
Đây là chính sách phù hợp với lộ trình cắt giảm thuế quan theo cam kết để hướng tới đến năm
2018 thuế nhập khẩu ô tô có xuất xứ ASEAN vào Việt Nam là 0%.
Năm 2012
- Biểu thuế năm 2012 có nhiều điểm thay đổi cả về danh mục hàng hóa và thuế suất. Cụ