Chương 1: Tổng quan về di chuyển quốc tế về lao động
1.1. Khái niệm
Sự di chuyển quốc tế về lao động là hiện tượng trong đó người lao động ở quốc gia
này di chuyển sang một quốc gia khác có kèm theo việc thay đổi chỗ ở tạm thời hoặc
vĩnh viễn nhằm thực hiện các mục đích khác nhau ở nước ngoài.
Thực tế cho thấy, sức lao động không thể tách rời người lao động, vì thế có thể gọi
di chuyển sức lao động là di chuyển lao động:
- Xuất khẩu trực tiếp sức lao động: người lao động của một quốc gia ra hẳn nước
ngoài và bán sức lao động cho các ông chủ (tư nhân hoặc Nhà nước)
- Xuất khẩu tại chỗ sức lao động: người lao động bán sức lao động của mình cho
các doanh nghiệp, tổ chức… ở trong nước có chủ là người nước ngoài hoặc có
người nước ngoài tham gia.
- Nhập khẩu sức lao động: trong phạm vi một nước, khi người lao động nước
ngoài vào, thì người đó là người nhập cư và sức lao động của anh ta được gọi là
sức lao động nhập khẩu.
1.2. Các đặc điểm của di cư lao động quốc tế
- Đa số lao động di chuyển từ các nước đang phát triển không có nghề nghiệp
hoặc bán chuyên nghiệp
- Lao động di chuyển tăng nhanh thể hiện ở mức tăng lien kết thị trường lao động
- Đa số lực lượng lao động di cư là nữ
- Di cư lao động có tính chất bất hợp pháp gia tăng
1.3. Nguyên nhân và động lực thúc đẩy
Nguyên nhân: Những đợt di chuyển lao động quốc tế, đặc biệt từ sau khi kết thúc chiến
tranh thế giới lần thứ hai có động cơ chủ yếu là mong muốn kiếm được tiền công và thu
nhập cao hơn ở nước ngoài
Động lực thúc đẩy:
- Mức tiền công và thu nhập thực tế cao hơn trong thời gian sinh sống và làm việc
ở nước ngoài.
- Có cơ hội và điều kiện tốt hơn trong học tập văn hóa và học nghề, con cái họ có
điều kiện thuận lợi để kiếm được việc làm tốt hơn trong nước
Do đó, những lợi ích thu được luôn vượt quá chi phí cho việc di chuyển sức lao động.
cư tại nước tiếp nhận lao động
Chương 2: Chính sách xuất nhập khẩu lao động của Việt Nam
Trong thời kì mở cửa, Việt Nam đang từng bước xây dựng các các quan hệ kinh tế quốc
tế mà quan hệ lao động quốc tế - gia nhập thị trường lao động quốc tế toàn cầu cũng được
chú trọng. Trong đó, Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc ban hành chủ trương chính
sách, luật pháp để định hướng hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu lao động; phối hợp chặt chẽ
các cấp, các ngành trong việc tổ chức, chỉ đạo và quản lý, kiểm soát các hoạt động xuất
nhập khẩu lao động; tìm kiếm, cung cấp thông tin, mở rộng thị trường và giải quyết các vấn
đề phát sinh ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu lao động…
2.1. Chính sách xuất khẩu lao động của Việt Nam
Từ khi thay đổi cơ chế năm 1991, Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp luật về hoạt
động xuất khẩu lao động ra nước ngoài, cụ thể:
- Ngày 9-11-1991, Chính phủ ban hành Nghị định 370-HĐBT về quy chế đưa người lao
động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, cho phép các tổ chức kinh tế được
thành lập và cấp giấy hoạt động xuất khẩu lao động.
- Năm 1995, Nghị định 370 được thay thế bằng các văn bản sau: Nghị định 07/CP Về
việc quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc có thời hạn ở nước ngoài; Nghị định 05/CP Về việc quy định chi tiết thi hành pháp
lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
- Năm 2006, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng,
chính thức được Quốc hội Việt Nam khóa XI thông qua (Số 72/2006/QH11 ngày 29 tháng
11 năm 2006), ban hành ngày 12 tháng 12 năm 2006 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm
2007.
- Năm 2007, nhiều Nghị định liên quan làm rõ và hướng dẫn điều Luật trên ra đời, bao
gồm: Nghị định 126/2007/NĐ-CP về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
trong Luật; Nghị định 144/2007/NĐ-CP về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt
động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
- Năm 2009: Quyết định 71/2009/QĐ-TTG: Phê duyệt hỗ trợ các huyện nghèo đẩy
mạnh xuất khẩu lao động, góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020
- Năm 2013: Quyết định 1012/QĐ-LĐTBXH Về việc “quy định chức năng, nhiệm vụ,
nơi đang làm việc theo hợp đồng (2); sau khi nhập cảnh nước tiếp nhận lao động mà không
đến nơi làm việc theo hợp đồng (3); lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc, lừa gạt người lao động Việt
Nam ở lại nước ngoài trái quy định (4). Ngoài phạt tiền, người lao động vi phạm còn bị
buộc phải về nước; cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn 2 năm hoặc 5 năm
2.2. Chính sách nhập khẩu lao động của Việt Nam
Hoạt động nhập khẩu lao động vào Việt Nam diễn ra rất hạn chế, chủ yếu là mời các
chuyên gia nước ngoài, các kỹ sư trong các dự án có liên quan đến yếu tố nước ngoài.
Những năm gần đây, số lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam ngày càng tăng lên, chủ
yếu là tại các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu công nghệ cao,…
Trên thực tế đang diễn ra một nghịch lý. Đó là lao động trong nước vẫn đang dư thừa,
nhưng vẫn có doanh nghiệp muốn tuyển lao động nước ngoài vào làm việc khi thiếu lao
động. Hiện Việt Nam không cho phép tuyển dụng lao động phổ thông nước ngoài, ngay cả
khi gia nhập WTO cũng không cam kết mở cửa thị trường lao động. Nghị định
34/2008/NĐ-CP quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam
do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 25/3/2008 quy định rõ đối tượng là lao động nước
ngoài được tuyển dụng là những người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, có nhiều kinh
nghiệm và thâm niên trong nghề nghiệp, trong điều hành sản xuất, kinh doanh hoặc những
công việc quản lý mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được.
Một mặt trái nữa đang xảy ra hiện nay là việc một số lượng lớn người nước ngoài lao
động tại Việt Nam nhưng không có giấy phép lao động. Điều này gây khó khăn cho công
tác quản lý cũng như giữ gìn trật tự an toàn xã hội, làm giảm cơ hội việc làm của lao động
trong nước, làm giảm lượng ngoại tệ trong nước. Chính phủ cần xây dựng một hệ thống
pháp lý vững chắc về vấn đề nhập khẩu lao động nước ngoài vào Việt Nam, loại bỏ những
tiêu cực đang còn tồn tại.
Chương 3: Thực trạng xuất nhập khẩu lao động của Việt Nam
3.1. Sự cần thiết của hoạt động XKLĐ:
Cùng với việc giải quyết việc làm trong nước, hoạt động xuất khẩu lao động có vị
trí quan trọng. Nhà nước ta đã xác định : "Đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước
ngoài là một hướng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động, tăng nguồn thu
ngoại tệ cho ngân sách và góp phần tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế - văn hoá, khoa
3.1.4. Lợi thế của xuất khẩu lao động Việt Nam
- Thứ nhất, xuất khẩu lao động đã trở thành chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
Đại hội VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định : "Phải đẩy mạnh xuất khẩu lao
động".
- Thứ hai, nguồn lao động nước ta dồi dào, theo số liệu mới nhất của GSO, lực
lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2012 là 52,58 triệu người, tăng 2,3% so với năm
2011, mỗi năm bình quân có thêm hơn 1 triệu người bổ sung vào lực lượng lao động đó.
- Thứ ba, cơ cấu dân số nước ta vẫn thuộc loại trẻ.
- Thứ tư, giá nhân công Việt Nam rẻ hơn nhiều so với nhiều nước trong khu vực và
trên thế giới, có sức cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế.
- Thứ năm, Thị trường lao động quốc tế đang không ngừng tăng trưởng và đa dạng.
Đây là cơ hội quan trọng để Việt Nam tham gia và phát huy lợi thế của mình trong lĩnh
vực xuất khẩu lao động.
3.2. Tình hình XKLĐ của Việt Nam:
Việt Nam bắt đầu đưa chuyên gia và lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
từ năm 1980. Từ đó đến nay, cùng với sự đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế chung của đất
nước, cơ chế xuất khẩu lao động của ta cũng đã qua nhiều lần thay đổi, phù hợp với tình
hình phát triển của đất nước và quan hệ quốc tế của ta trong từng thời kỳ. Đánh giá
chung, có thể nói công tác xuất khẩu lao động của ta đã đạt được những yêu cầu cơ bản
trong mục tiêu đặt ra và góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
XKLĐ của VN có thể chia thành các giai đoạn:
3.2.1. Giai đoạn 1980-1990
Thời kỳ này, lao động Việt Nam chủ yếu được đưa sang các nước xã hội chủ nghĩa
Đông Âu, gồm : Liên Xô (cũ), Cộng hoà dân chủ Đức (cũ), Tiệp Khắc (cũ) và Bungari.
Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, khi đó nước ta là thành viên của Hội đồng tương trợ
kinh tế (SEV) nên hoạt động xuất khẩu lao động mang tính chất hợp tác lao động, giúp
đỡ lẫn nhau thông qua các Hiệp định Chính phủ trực tiếp kí kết. Tổng số lao động được
đưa đi trong thời kì này gần 300.000 người, chủ yếu là lao động phổ thông, chất lượng
lao động thấp về tay nghề và trình độ ngoại ngữ.
3.2.2. Giai đoạn 1991-2001
Angola, 65 chuyên gia nông nghiệp làm việc tại một số quốc gia Châu Phi trong khuôn
khổ hợp tác 3 bên giữa Việt Nam - FAO và các nước này. Nhu cầu nhận chuyên gia ở
khu vực còn lớn, chúng ta cần nghiên cứu để có chính sách đầu tư, hỗ trợ để thúc đẩy
hoạt động này.
Bảng 3.2.1: Lượng LĐXK của Việt Nam giai đoạn 2008-2012
Năm 2008 2009 2010 2011 2012
Số LĐXK của VN (người) 87 000 75 000 85 546 88 298 80 320
Giá trị tăng tuyệt đối(người) - 12 000 10 546 2 752 -7 978
Tốc độ tăng (%) - -13,79 14,06 3,22 -9,04
Ngun: Tổng hợp từ số liu của Cục quản lý lao động ngoài nưc
So với năm 2008, số lượng LĐXK của Việt Nam năm 2009 đã có sự sụt giảm đáng
kể 12000 người (giảm 13,79%). Nguyên nhân là do tác động cuộc khủng hoảng kinh tế
bắt nguồn từ khủng hoảng tài chính Mỹ. Đặc biệt, ở những thị trường tiếp nhận LĐXK từ
Việt Nam lớn như Đài Loan tuyên bố giảm 24 000 công nhân và người giúp việc nước
ngoài; đầu 2009, Malaysia cũng tuyên bố cấm nhập khẩu lao động nước ngoài do quá phụ
thuộc vào lao động nhập cư của nước này. Song, với sự nỗ lực của chính phủ và các ban
ngành đối với sự phát triển ngành XKLĐ, đến 2010, lượng LĐXK của Việt Nam đã có sự
hồi phục và tiếp tục tăng tưởng trong năm 2011(đạt 88 298 người, tăng 3,22% so với năm
2010).
Tuy nhiên đến năm 2012, lượng LĐXK của Việt Nam lại có sự suy giảm chỉ đạt
được khoảng 90% so với mục tiêu đã đề ra trong năm. Ngoài nguyên nhân khách quan
(như tình hình chính trị bất ổn tại các quốc gia ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi, ảnh
hưởng của khủng hoảng nợ công ở một số quốc gia châu Âu dẫn đến việc thị trường lao
động quốc tế bị thu hẹp, sụt giảm, sự cạnh tranh giữa các quốc gia cung ứng lao động vốn
đã rất gay gắt, càng trở nên gay gắt hơn trong năm 2012 và những năm tiếp theo) thì ý
thức làm việc và tác phong nghề nghiệp của người lao động vẫn là trở ngại khiến họ chưa
theo kịp với những đòi hỏi khắt khe của thị trường lao động ngoài nước. Chính điều này
đã gây cản trở đối với hoạt động XKLĐ của Việt Nam.
Xét về thị trường tiếp nhận và ngành nghề hoạt động chủ yếu của LĐXK VN
Hiện nay, các thị trường lao động ở châu Á gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan
- Bên cạnh việc duy trì những thị trường truyền thống, Việt Nam đã mở rộng ra các thị
trường có tiềm năng như Libi, Ả rập Xê Út, Pháp, Canađa, Anh và Hy Lạp…
- Hoạt động XKLĐ trong những năm gần đây đã đem lại một lượng ngoại tệ cho quốc
gia khoảng 1-1,7 tỉ USD mỗi năm, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế nước ta.
- Góp phần giảm bớt lượng thất nghiệp hằng năm cho người lao động Việt Nam
Hạn chế:
- Tính đến hết tháng 7/2013, tổng số lao động của Việt Nam được đưa ra nước ngoài
làm việc chỉ đạt 47 095. Như vây, bình quân mỗi tháng có khoảng 7000 lao động
được đưa ra nước ngoài làm việc. Nếu như vậy, đến hết năm 2013, khả năng sẽ chỉ
đạt mức 84 000 LĐXK, vẫn chưa đạt được chỉ tiêu 2013-2015 là đưa được 100 000
lao động ra nước ngoài làm việc mỗi năm.
- Chất lượng LĐXK của Việt Nam mặc dù đã được cải thiện, song vẫn chưa đáp ứng
được yêu cầu của nhiều thị trường tiếp nhận.
- Tình trạng bỏ trốn của LĐVN ở nước ngoài đã và đang là 1 vấn đề nhức nhối, khiến
cho 1 số thị trường tiếp nhận lớn (như Hàn Quốc) đang “đóng băng” ảnh hưởng đến
lượng LĐXK. Ngoài ra, sự xuất hiện của các DN XKLĐ không được cấp phép hoạt
động, các công ty “cò mồi” cũng là mối đe dọa lớn đến bản thân người lao động nói
riêng và hoạt động XKLĐ của Việt Nam nói chung.
3.3. Thực trạng nhập khẩu lao động tại Việt Nam
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam đều bức xúc
trăn trở với bài toán “tìm đâu tướng giỏi - quân tinh?”. Trước tình trạng khan hiếm nguồn
lao động chất lượng cao, đạt chuẩn chuyên nghiệp trong nước, một số doanh nghiệp đành
tìm giải pháp… nhập khẩu lao động nước ngoài.
Để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng thương hiệu, tăng thị
phần trong nước lẫn ngoài nước, các doanh nghiệp đều coi trọng việc đầu tư cho đội ngũ
quản trị viên cao cấp, nhân viên chuyên nghiệp hóa.Thế nhưng, nỗi lo lớn nhất là tìm đâu
ra người tài, nhân viên giỏi? Trong khi cầu tăng đột ngột thì chỉ có khoảng 30% ứng viên
đáp ứng nhu cầu tuyển lao động chất lượng cao trên thị trường lao động hiện nay. Các vị
trí quản trị viên cao cấp đang được các công ty săn lùng ráo riết là giám đốc điều hành,
giám đốc tài chính, giám đốc tiếp thị, giám đốc nhân sự, trưởng phó phòng các bộ phận
trường nước ngoài. Việc cầu về người lao động nước ngoài có trình độ cao của các công
ty trên thị trường Việt Nam đã dẫn đến thực trạng trên.
Thứ năm: Một số nguyên nhân khách quan khác chẳng hạn như những người nước
ngoài muốn sang Việt Nam làm việc do kết hôn với người Việt Nam, do môi trường
sống, chi phí rẻ, mức lương cho người nước ngoài cao, cơ hội thăng tiến cao hơn,….
Không thể phủ nhận rằng, lao động nước ngoài tại Việt Nam có đóng góp tích cực
vào sự tăng trưởng và hội nhập của Việt Nam nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề
bất cập còn xảy ra mà chính quyền, cơ quan chức năng còn không thể kiểm soát được
trong quá trình nhập khẩu lao động nước ngoài tại Việt Nam.
Chương 4: Một số đề xuất – giải pháp cho các vấn đề về xuất nhập
khẩu lao động của Việt Nam.
4.1. Giải pháp
4.1.1. Làm thay đổi nhận thức về XKLĐ và thực hiện xã hội hoá về XKLĐ
- Xã hội hoá về xuất khẩu lao động: làm cho mọi người dân đều hiểu đúng, có những
hiểu biết cơ bản về xuất khẩu lao động, những lợi ích cũng như thiệt hại xuất khẩu lao
động đem lại. Nhà nước cần tuyên truyền, quảng bá công khai, cần tổ chức thường
xuyên, liên tục các khoá học bồi dưỡng, bổ sung kiến thức về xuất khẩu lao động.
- Thiết lập một kênh thông tin hai chiều giữa Cục Quản lý lao Động Ngoài nước và các
địa phương nhằm thông báo chính xác tình hình xuất khẩu lao động và một số vấn đề
khác có liên quan.
4.1.2. Nhà nước cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động nước ngoài và
cung cấp miễn phí, công khai
- Cục Quản lý lao Động Ngoài nước (Bộ LĐ-TB&XH) cần phối hợp chặt chẽ với bộ
ngoại giao, đại sứ quán nước ngoài ở Việt Nam và đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài
để luôn có những tin tức cập nhật về thị trường lao động nước ngoài, bao gồm các thông
tin về: kinh tế, chính trị, phong tục tập quán của nước tiếp nhận lao động, cung, cầu lao
động chung ở trên thị trường và với riêng từng khu vực, ngành nghề; giá cả sức lao động
với nhân công nước ngoài; các chế độ ưu đãi; luật pháp của quốc gia tiếp nhận về nhập
khẩu lao động nước ngoài, điều kiện làm việc…
ít nhất là trong giai đoạn đầu.
4.1.6. Về luật pháp:
- Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống luật pháp liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu lao
động, siết chặt cơ chế quản lý (nhất là bộ máy quản lý hành chính từ trung ương đến địa
phương), giám sát chặt chẽ việc thực hiện theo luật định của người lao động xuất khẩu
sang nước ngoài, doanh nghiệp XKLĐ và doanh nghiệp Việt Nam sử dụng lao động nước
ngoài.
4.1.7. Về công tác giáo dục người lao động đi xuất khẩu lao động
- Tuyển chọn giáo viên có trình độ ngoại ngữ tốt, kỹ năng sư phạm giỏi, có thể sử
dụng những người lao động đã đi xuất khẩu lao động về có trình độ ngoại ngữ tốt (đã qua
sát hạch và đạt tiêu chuẩn) và bồi dưỡng thêm cho họ kỹ năng sư phạm.
- Thi sát hạch ngoại ngữ trước khi đưa lao động đi: cần xây dựng tiêu chuẩn sát
hạch qua tham khảo ý kiến của đại sứ quán Việt Nam tại các quốc gia nước ngoài.
- Về giáo dục nghề nên tuyển chọn từ các trường dạy nghề, trung cấp đến đại học để
tiết kiệm chi phí đào tạo cho doanh nghiệp cũng như người lao động.
- Công tác giáo dục ý thức kỷ luật của người lao động trong một thời gian nhất định
song song với quá trình đào tạo nghề cho người lao động do doanh nghiệp tiến hành.
Tóm lại, trên đây chỉ là một số giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả của xuất khẩu lao
động. Trong quá trình thực hiện cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế.
4.2. Định hướng
4.2.1. Về phía nhà nước:
- Thiết lập quan hệ Nhà nước với các nước có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài.
- Phân định rõ vai trò và trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan và chính quyền các cấp
trong xuất khẩu lao động.
- Hoàn thiện chính sách về tài chính làm đòn bẩy thúc đẩy mở rộng và nâng cao hiệu quả
xuất khẩu lao động.
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp, siết chặt cơ chế quản lý đối với hoạt động xuất
nhập khẩu lao động.
4.2.2. Về phía doanh nghiệp:
- Tổ chức tuyển chọn trực tiếp đúng người, đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn… Cương
6 http://Việt Nameconomy.Việt Nam/20100119123834655P0C9920/ty-le-that-nghiep-
nam-2009-la-466.htm
7 ệtNam/c133/s133-404901/xuat-khau-lao-dong-sang-
nhat-canh-cua-them-rong.htm
8 Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam
ệt Nam/home/index.php
9 Thanh Thương, 29/3/2010
ệt Nam/Home/thoisu/doisong/31878/
10 Nguyễn Thiêm
ệtNam/vi-Việt Nam/ktvhkh/2010/3/71738.cand
11 ệtNam/Home/Viet-Nam-dan-dau-xuat-khau-lao-dong-
sang-Han/20103/36021.Việt Namplus
12 ệt Nam/Pages/ArticleDetail.aspx?
siteid=1&sitepageid=57&articleid=91
/c133s133/nghe-