TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN LỊCH SỬ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
TÍNH “THỐNG NHẤT TRONG ĐA DẠNG” CỦA
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG ĐÔNG NAM Á Chủ tịch Hội đồng Ban Chủ nhiệm Khoa Chủ nhiệm đề tài Võ Văn Thắng Trần Thể Lê Thị Liên
Chủ nhiệm đề tài: Ths. LÊ THỊ LIÊN
Long Xuyên, tháng 6 năm 2010
MỤC LỤC
Trang
Mục lục
I. Chữ viết 40
II. Tín ngưỡng bản địa - tôn giáo 42
III. Lễ hội và phong tục tập quán 51
IV. Nghệ thuật diễn xướng 63
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 74
LỜI CÁM ƠN
""
Bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành gửi lời cám ơn đến:
Viện nghiên cứu Đông Nam Á
Thư viện Quốc Gia
Thư viện Quân đội
Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Phòng Tư liệu - Khoa Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Ban Giám Hiệu, phòng Quản lí Khoa học và Hợp tác Quốc tế, Thư viện và Hội
đồng Khoa học Trường Đại học An Giang.
Xin chân thành gửi lời cám ơn đến quý Thầy Cô, quý đồng nghiệp trường Đại học
An Giang, đặc biệt xin chân thành cám ơn PGS.TS. Ngô Văn Doanh - Viện nghiên cứu
Đông Nam Á, đã động viên và hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này trong thời gian vừa
qua.
Do điều kiện thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế, cho nên, đề tài của tôi không
thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của quý
Thầy Cô và quý đồng nghiệp, để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cám ơn!
Long Xuyên, tháng 6 năm 2010
Chủ nhiệm đề tài
Ngày nay, văn hóa Đông Nam Á, vừa là sự kế thừa và phát huy vốn văn hóa bản
địa truyền thống, vừa là sự tiếp thu có chọn lọc những yếu tố mới từ bên ngoài, cả
phương Đông lẫn phương Tây. Trong kho tàng văn hóa đồ sộ Đông Nam Á có rất nhiều
yếu tố chung, làm nên cái gọi là “khung” Đông Nam Á, song, cũng có không ít những
yếu tố đặc sắc, riêng biệt độc đáo tiêu biểu cho mỗi quốc gia, dân tộc. Hay nói cách
khác, văn hóa Đông Nam Á là nền văn hóa “thống nhất trong đa dạng”, theo cách nói
của người Inđônêxia. Cụm từ này bắt nguồn từ câu nói của nhà thơ Mpu Tantular ở
Inđônêxia “Bhineka Tungga Ika” (nghĩa là “thống nhất trong đa dạng”), và ngày nay,
câu nói này đã trở thành thuật ngữ phổ biến khi nói về văn hóa Đông Nam Á.
Có lẽ, trên thế giới, hiếm có khu vực nào vừa mang tính đa dạng mà cũng vừa
mang tính thống nhất như ở khu vực Đông Nam Á. Sự đa dạng và thống nhất ấy được
biểu hiện trên nhiều mặt, từ cơ sở nền tảng tạo thành cho đến đời sống sinh hoạt vật chất
lẫn tinh thần của cư dân Đông Nam Á.
Ở đây, đề tài không trình bày theo hệ thống tiến trình phát triển của lịch sử văn
hóa Đông Nam Á từ cổ chí kim, mà đề cập đến những thành tố cấu thành nên nền văn
hóa truyền thống Đông Nam Á đó. Trong đề tài này, được chia thành ba chương:
Chương I: Những yếu tố tạo nên tính “thống nhất trong đa dạng”
Chương II: “Thống nhất trong đa dạng” về đời sống văn hóa vật chất của cư dân
Đông Nam Á
Chương III: “Thống nhất trong đa dạng” về đời sống văn hóa tinh thần của cư
dân Đông Nam Á
Trong mỗi chương, đều có phần chú thích và hình ảnh minh hoạ cụ thể để làm rõ
nội dung đã được trình bày. Hy vọng rằng, đề tài này sẽ giúp bạn đọc có cái nhìn “tổng
thể về văn hóa Đông Nam Á”, một thực tế của nền văn hóa tương đồng và đa sắc thái,
mà chúng tôi dùng ý tưởng “thống nhất trong đa dạng” để đề cập đến. Bên cạnh đó,
chúng ta sẽ hiểu biết thêm về những người bạn láng giềng của mình, đã kết “thành hội
thành thuyền” trong quá trình phát triển, vươn lên theo xu thế khu vực và hội nhập thế
giới.
Tóm lại, văn hóa là một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn, mà năng lực của người
viết lại có hạn, dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn cũng không tránh khỏi những
con người trong một cộng đồng chung, làng xóm nói riêng, cả khu vực nói chung. Một
hình thức giải trí khác cũng không kém phần hấp dẫn đối với cư dân Đông Nam Á, đó
là nghệ thuật biểu diễn sân khấu truyền thống, và do các nước có sự tiếp cận, giao lưu
và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, cho nên nền nghệ thuật truyền thống của mỗi nước
vừa có nét tương đồng về nội dung lẫn phương pháp vừa có sự đa dạng về hình thức
biểu diễn.
Nhìn chung, văn hóa truyền thống Đông Nam Á, dựa trên nền tảng của nên nông
nghiệp lúa nước, đã tạo ra cho cư dân ở đây một đời sống sinh hoạt cả vật chất lẫn tinh
thần đều vô cùng độc đáo, vừa mang tính thống nhất vừa mang tính đa dạng, một sắc
thái rất riêng Đông Nam Á.
DANH SÁCH CÁC BIỂU BẢNG, HÌNH ẢNH MINH HỌA
Danh sách biểu bảng:
Biểu bảng 1: Tộc người chủ thể và tỷ lệ đạt được so với tổng dân số trong nước
ở các nước Đông Nam Á
Biểu bảng 2: Tình hình tôn giáo ở các nước trong khu vực Đông Nam Á
Danh sách hình ảnh minh họa:
Hình 1: Bản đồ các quốc gia Đông Nam Á
Hình 2: Bản đồ vương quốc Hồi giáo Brunây
Hình 3: Bản đồ vương quốc Cămpuchia
Hình 4: Bản đồ Cộng hòa Dân chủ Đông Timo
Hình 5: Bản đồ Cộng hòa Inđônêxia
Hình 6: Bản đồ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Hình 7: Bản đồ Liên bang Malaixia
Hình 8: Bản đồ Liên bang Mianma
Hình 9: Bản đồ Cộng hòa Philippin
Hình 10: Bản đồ Cộng hòa Xingapo
Hình 11: Bản đồ vương quốc Thái Lan
Hình 12: Bản đồ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Hình 13: Núi lửa ở Philippin
Hình 43: Pho tượng Phật bằng đồng ở Đồng Dương (Quảng Nam - Việt Nam)
Hình 44: Bức phù điêu về Đức Phật của ngôi đền Bôrôbuđua ở Inđônêxia
Hình 45: Nụ cười đền Bayon ở Ăngco Thom - Cămpuchia
Hình 46: Vũ nữ Apsara ở đền Ăngco Vát
Hình 47: Bức phù điêu ở đền Sukhôthay - cố đô Thái
Hình 48: Những chạm khắc hình lá bao quanh Thạt Luổng ở Lào
Hình 49: Tượng phật bằng vàng tại chùa Mahamuni
Hình 50: Một trong 18 vị La Hán chùa Tây Phương - Hà Nội
Hình 51: Bia Võ Cạnh (Khánh Hòa) xác định chữ Sanskrit và Pali vào Chăm Pa
sớm nhất
Hình 52: Chữ Khơ Me (Sanskrit) được ghi ở đền Ăngco Vát của Cămpuchia
Hình 53: Bộ sách chữ Thái cổ
Hình 54: Di sản chữ Nôm (tiếp thu từ chữ Hán) của người Việt
Hình 55: Tục thờ sinh thực khí “nõ - nường” ở Phú Thọ - Việt Nam
Hình 56: Tín ngưỡng phồn thực được thể hiện trên những bức tượng điêu khắc
Hình 57: Tín ngưỡng phồn thực thể hiện ở Nhà mồ Tây Nguyên
Hình 58: Tượng thờ Linga và Yoni ở Mỹ Sơn - Việt Nam
Hình 59: Bàn thờ tổ tiên trong gia đình người Việt
Hình 60: Ấn Độ giáo thời ba vị thần Brama, Visnu và Siva
Hình 61: Tượng của Đức Phật được rắn thần Naga bảo vệ
Hình 62: Thứ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch Trần Chiến Thắng cũng
tham gia những đường cày đầu tiên trong Lễ hội xuống đồng ở Lào Cai -
Việt Nam
Hình 63: Lễ hội Té nước ở Thái Lan, Cămpuchia
Hình 64: Lễ hội Loi Krathồng (thả đèn trong một cái chén lá) ở Thái Lan
Hình 65: Hội đền Hai bà Trưng
Hình 66: Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây của người Khơ Me
Hình 67: Tết cổ truyền người Lào
Hình 68: Hát quan họ trên thuyền quanh giếng Ngọc - Cổ Loa
Hình 69: Chơi đu - trò chơi dân gian không thể thiếu được trong ngày hội
hòa Dân chủ Nhân dân Lào Chummaly Sayason
Hình 97: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Malaixia Abdul Razak
Hình 98: Chủ tịch hội đồng quốc gia Mianma Than Shwe tiếp Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng
Hình 99: Tổng thống Philippines Gloria Arroyo tiếp Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng
Hình 100: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Thái Lan Abhisit
Vejjajiva
Hình 101: Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đón Chủ tịch nước Nguyễn Minh
Triết
Hình 102: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đón tiếp Bộ trưởng Công thương và Du
lịch Đông Ti-mo Gil da Costa AN. Alves
Hình 103: Đông Nam Á không còn là một vùng bị chia rẽ mà sẽ gắn kết trong tổ
chức ASEAN hội nhập vào quốc tế
Hình 104: Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị APEC 2006
Hình 105: Tổng Giám đốc WTO Pascal Lamy nâng cốc chúc mừng vị thế thành
viên thứ 150 của Việt Nam
VIẾT TẮT
Viết tắt theo tiếng Anh:
APEC: Asia Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN: Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM: The Asia Europe Meeting
Diễn đàn hợp tác Á - Âu
SEAMEO: Southeast Asian Ministers of Education Organization
Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam Á
WTO: World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
Viết tắt theo tiếng Việt:
Trước tiên, đề tài sẽ đi vào xem xét về điều kiện tự nhiên, như các mặt: vị trí địa
lý, địa hình, khí hậu và động, thực vật ở Đông Nam Á. Bên cạnh đó, yếu tố dân tộc và
ngôn ngữ cũng là những điều kiện cần thiết tạo nên tính đặc trưng của nền văn hóa này.
Xuất phát từ một nguồn nhân chủng Môngôlôit phương Nam, qua quá trình giao lưu và
lan tỏa, đã hình thành nên những tộc người khác nhau ở Đông Nam Á. Đồng thời, có
chung một nguồn gốc ngôn ngữ Đông Nam Á tiền sử, dần dần cũng hình thành nên
những ngữ hệ khác nhau trong khu vực. Nền kinh tế truyền thống cũng là yếu tố cực kỳ
quan trọng tạo nên đặc trưng văn hóa khu vực, đặc biệt là nghề nông trồng lúa. Sau
cùng, sự tương đồng trong tiến trình lịch sử của các quốc gia Đông Nam Á cũng là một
trong những nhân tố quan trọng góp phần làm nên tính tương đồng trong văn hóa truyền
thống Đông Nam Á.
Phần 2: đề tài sẽ tập trung nghiên cứu những biểu hiện của tính “thống nhất
trong đa dạng” về đời sống văn hóa vật chất của cư dân Đông Nam Á: thức ăn, trang
phục, nhà ở, kiến trúc và điêu khắc.
Trong bữa ăn truyền thống của cư dân Đông Nam Á chủ yếu là ăn cơm, rau, cá
hay thịt. Từ gạo, cư dân Đông Nam Á đã chế biến ra nhiều loại thức ăn khác hay các
loại bánh để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày và lễ hội. Còn về trang phục
truyền thống của cư dân Đông Nam Á là nam đóng khố, nữ mặc váy, cởi trần, dần về
sau y phục có sự thay đổi cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng: yếm, áo chui,
quần, váy… Tùy mỗi quốc gia, dân tộc mà trang phục truyền thống của họ hoặc thêm
vào hay bớt đi, tạo nên bức tranh muôn màu trong trang phục cư dân Đông Nam Á. Về
nhà ở, kiểu nhà sàn là kiểu nhà truyền thống, đồng thời, nhà hình thuyền, nhà đất, nhà
1
Phần 3: đề tài tập trung khai thác những biểu hiện của tính “thống nhất trong đa
dạng” về đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Đông Nam Á: chữ viết, tín ngưỡng - tôn
giáo, lễ hội và phong tục tập quán, nghệ thuật biểu diễn sân khấu truyền thống.
Về chữ viết Đông Nam Á chịu ảnh hưởng sâu sắc của chữ Ấn Độ (chữ Sanskrit
và Pali), Trung Quốc (chữ Hán), dần dần họ tạo ra nhiều kiểu chữ viết riêng cho dân tộc
mình, và chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, các loại chữ Latinh đã ra đời ở các
quốc gia Đông Nam Á. Về hệ thống tín ngưỡng, xuất phát từ một nền nông nghiệp lúa
Xingapo, Brunây, Đông Timo). Tuy nhiên, ở các quốc gia Đông Nam Á này, có những
quốc gia mới giành tự chủ sau này như Xingapo, Brunây, hay Đông Timo mới tách khỏi
Inđônêxia (năm 2002). Do vậy, văn hóa của các nước này thường được nhắc đến và hòa
chung vào văn hóa tộc người Mã Lai hay văn hóa Inđônêxia, cho nên, khi tiếp xúc với
đề tài, thường thấy vắng bóng các quốc gia trên là lẽ tất nhiên.
2
III. Phương pháp nghiên cứu
Dựa vào phương pháp luận sử học theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và
phương pháp lôgíc.
Trên cơ sở tìm hiểu thực tế các mô hình về văn hóa Đông Nam Á như ở Viện
bảo tàng Dân tộc học, cùng với việc tiếp cận và theo dõi những thông tin, tư liệu trên
internet, truyền hình…
Sử dụng những phương pháp chuyên ngành Lịch sử: thu thập, xử lí tư liệu, tổng
hợp, thống kê, chọn lọc, phân tích, so sánh, đối chiếu… để làm thỏa đáng vấn đề đã đặt
ra trong đề tài.
IV. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong nhiều năm trở lại đây, văn hóa Đông Nam Á đã được nhiều học giả quan
tâm nghiên cứu, tuy nhiên đến nay, vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên
cứu về tính “thống nhất trong đa dạng” của văn hóa truyền thống Đông Nam Á. Hiện
nay, vấn đề về tính “thống nhất trong đa dạng” của văn hóa truyền thống Đông Nam Á
được một số tác giả đề cập trên một số công trình cụ thể:
Tác giả Phan Hữu Dật (chủ biên) với quyển “Văn hóa lễ hội của các dân tộc
Đông Nam Á”, năm 1992, với phần đầu của tác phẩm có đề cập đến, Đông Nam Á:
thống nhất trong đa dạng, sau đó, giới thiệu chi tiết những lễ hội truyền thống của các
quốc gia: Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Mianma, Malaixia, Xingapo, Philippin,
Inđônêxia.
Quyển “Phong tục các dân tộc Đông Nam Á” do Ngô Văn Doanh và Vũ Quang
Thiện (chủ biên), năm 1997, giới thiệu các phong tục như ăn, ở, mặc, hôn nhân, tín
giả Ngô Văn Lệ, năm 2003, trong tác phẩm giới thiệu sơ nét về tính “thống nhất trong
đa dạng” của Đông Nam Á nhìn từ khía cạnh trang phục, tổ chức gia đình, công xã.
Quyển “Văn hóa Đông Nam Á” của Nguyễn Tấn Đắc, năm 2003, giới thiệu về
khu vực văn hóa Đông Nam Á, các nhóm chủng tộc và ngôn ngữ, tiếp đến là những nền
tảng cơ bản của văn hóa khu vực là nông nghiệp và thương nghiệp. Ngoài ra, tác giả còn
đề cập đến văn hóa hiện nay ở một số nước thông qua hệ ý thức và bảng giá trị của các
nước Đông Nam Á, cuối cùng, tác giả tổng hợp Đông Nam Á và văn hóa Đông Nam Á,
quá trình nhận thức khu vực Đông Nam Á.
Đề tài cấp Bộ: “Cộng đồng Melayu một số vấn đề văn hóa” do Mai Ngọc Chừ
chủ nhiệm, năm 2004, giới thiệu về văn hóa phục vụ đời sống như ăn, ở, mặc; tôn giáo -
tín ngưỡng; một số phong tục tập quán và ngôn ngữ; nghệ thuật của cộng đồng Melayu.
Đinh Trung Kiên với quyển “Tìm hiểu nền văn minh Đông Nam Á”, năm 2007,
tác giả giới thiệu về sự ra đời, phát triển và những thành tựu rực rỡ của nền văn minh
Đông Nam Á, tiêu biểu là tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, phong tục tập quán, kiến trúc, hội
họa, điêu khắc.
Quyển “Tri thức Đông Nam Á” của hai tác giả Lương Ninh và Vũ Dương Ninh
(chủ biên), năm 2008, giới thiệu về Đông Nam Á đại cương: địa lý, lịch sử, văn hóa và
các nước Đông Nam Á cụ thể, trong đó quyển sách cung cấp cho người đọc những kiến
thức cơ bản về các quốc gia Đông Nam Á từ cổ đại cho đến đương đại.
Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Unity in Diversity Regional Identity Building in Southeast Asia (Thống nhất
trong đa dạng: xây dựng bản sắc khu vực Đông Nam Á) do Kristina Jonsson là một viên
nghiên cứu của Trung tâm Đông và Đông Nam châu Á học, năm 2008, tại Đại học
Lund, Thụy Điển. Nội dung của bài viết là vấn đề khu vực và xây dựng bản sắc văn hóa
Đông Nam Á, khu vực Đông Nam Á trong sự thống nhất.
Diversity and Unity in Southeast Asia (Sự đa dạng và thống nhất ở Đông Nam
Á), do Jan o. M. Broekp, Đại học California, Berkeley. Nội dung chứng minh được thời
kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Đông Nam châu Á vào nửa đầu của năm 1940. Vào đầu
thập kỷ này, vùng đất giữa Trung Quốc, Ấn Độ và Úc, với ngoại lệ của nhà nước Thái
Lan đệm, đều dưới sự kiểm soát trực tiếp của các nước phương Tây.
15
0
vĩ Nam, như một “ngã tư đường” của các châu lục lớn. Khu vực này gồm hai bộ
phận: bán đảo Trung - Ấn và quần đảo Mã Lai, là một quần thể gồm: các đảo, bán đảo,
quần đảo và các vịnh trong vùng biển xen kẻ với nhau rất phức tạp chạy dài suốt từ Thái
Bình Dương đến Ấn Độ Dương, với sự phân tán của những quần đảo uốn cong có số
lượng đảo nhiều và lớn nhất thế giới (chủ yếu ở hai quốc gia Inđônêxia, Philippin).
Chính vì thế, đã tạo cho Đông Nam Á có một vị trí chiến lược quan trọng, vừa nằm giữa
và gần hai quốc gia rộng lớn, với hai nền văn minh lâu đời, rực rỡ vào bậc nhất châu Á
và thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ, vừa gần với cường quốc kinh tế Nhật Bản, nằm
trên tuyến đường biển quốc tế quan trọng, giữa châu Úc với các quốc gia nằm ở phía
bắc là Hàn Quốc, Triều Tiên, Trung Quốc, Butan, Bănglađét, Nêpan.
Về mặt địa lý hành chính hiện đại, Đông Nam Á bao gồm 11 quốc gia: các quốc
gia nằm ở hải đảo gồm Inđônêxia, Xingapo, Philippin, Brunây, Đông Timo; các quốc
gia nằm ở lục địa gồm Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Mianma; và quốc gia
Malaixia là vừa hải đảo vừa lục địa.
Với vị trí đó, Đông Nam Á sớm trở thành khu vực có ý nghĩa và tầm quan trọng
lớn trên nhiều bình diện, đồng thời là điều kiện thuận lợi để các nước trong khu vực tiếp
cận, trao đổi với các nền văn hóa bên ngoài từ Ấn Độ, Trung Quốc, Ả Rập đến châu Âu,
để sáng tạo cho mình một nền văn hóa rộng lớn, đặc sắc và thấm đậm tinh thần khu vực.
2. Địa hình
Đông Nam Á là khu vực có địa hình phong phú, với núi rừng, đồng bằng và biển
cả, được nối với nhau bằng hệ thống sông ngòi chằng chịt đầy nước, cho nên văn hóa
Đông Nam Á là một chỉnh thể thống nhất của ba yếu tố: văn hóa núi, văn hóa đồng bằng
và văn hóa biển. Ở mỗi yếu tố văn hóa tự mang trong mình những đặc trưng riêng của
chủ nhân nó. Những yếu tố: núi, biển và đồng bằng được tạo nên và chi phối chặt chẽ
bởi những đặc điểm địa hình vô cùng độc đáo nơi đây, bởi, Đông Nam Á hải đảo hay
lục địa đều có sự đan xen mang tính hệ thống giữa đồi núi, đồng bằng và sông biển, mà
5
Ở khu vực thuộc bán đảo Trung - Ấn, có các cao nguyên rộng lớn, từ cao
Nam Á. Bên cạnh những nét chung đó, ở mỗi quốc gia lại chứa đựng những nét riêng,
khác biệt tạo nên cảnh sắc đa dạng, muôn màu muôn vẻ trong toàn khu vực.
3. Khí hậu
Đông Nam Á có vị trí địa lý khá quan trọng ở khu vực châu Á - Thái Bình
Dương, nơi có đường xích đạo chạy qua, cho nên cùng chịu ảnh hưởng chủ yếu của khí
hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết đặc trưng của khu vực châu Á.
Đặc điểm chung của vùng này là tính chất bán đảo và điều kiện hoàn lưu gió
mùa, tạo cho Đông Nam Á, một khu vực “châu Á gió mùa” bởi đặc trưng nổi bật của
khí hậu nóng và ẩm, với hai mùa được hình thành khá rõ là mùa khô và mùa mưa trong
năm. Theo đánh giá của một số nhà nghiên cứu thì Đông Nam Á có độ ẩm cao nhất thế
giới (trên 80% - 90%), vì có đường xích đạo chạy qua. Do có đường bờ biển dài bao
quanh khiến lượng nước bốc hơi trên đất liền luôn dư thừa (Sakurai Yumlo, 1996), tạo
nên khí hậu nóng ẩm (nhiệt độ trung bình từ 20 - 27
0
C) và mưa nhiều (lượng mưa từ
1.500 đến 3.000mm/năm) (Phan Ngọc Liên, 2002). Mặc dù, khu vực Đông Nam Á cùng
6
Tuy nhiên, người ta phân chia khí hậu Đông Nam Á thành hai đới khác nhau
(Lương Ninh và Vũ Dương Ninh, 2008), vừa tạo nên tính đa dạng vừa tạo nên tính
thống nhất về khí hậu nơi đây:
Đới khí hậu xích đạo: tạo thành một dải dọc theo đường xích đạo, bao gồm các
đảo Xumatơra, Calimantan, Xulavêxi, phần tây các đảo Giava, Irian, phần nam bán đảo
Malacca và đảo Minđanao. Đới khí hậu cận xích đạo (đới gió mùa xích đạo): gồm hai
đới nằm ở phía bắc và phía nam đới khí hậu xích đạo. Trong đó, đới nằm ở phía bắc bao
gồm: phần lớn bán đảo Trung - Ấn và gần như toàn bộ quần đảo Philippin; còn đới ở
phía nam gồm toàn bộ quần đảo nằm ở phía đông của đảo Giava. Ở các đới khí hậu này,
một năm có hai mùa rõ rệt: mùa hạ
(1)
và mùa đông
(2)
chim ở đây có giá trị lớn về nhiều mặt như kinh tế, khoa học, sản xuất, văn hóa - xã hội
(Phan Ngọc Liên, 2002).
Nhà địa lý - thực vật học người Mỹ C.O Sauer, cho rằng: Đông Nam Á là nơi
phát sinh trồng trọt sớm vì đó là một vùng nhiệt đới với tính đa dạng cao về thực vật
cũng như cảnh quan địa mạo, sinh thái mà không một nơi nào sánh kịp, đó là vùng
thung lũng chân núi hoặc ven biển (Phạm Đức Dương và Trần Thị Thu Lương, 2001).
Chính đặc trưng của khí hậu nóng ẩm ở Đông Nam Á cùng với biển và gió mùa đã biến
khu vực này thành thiên đường của thế giới thực vật, làm cho hệ thực vật ở đây vô cùng
đa dạng và phong phú, đó là màu xanh cây lá, hoa trái bạt ngàn quanh năm bao phủ
7
Nhờ có khí hậu thuận lợi, không quá gay gắt về cả nhiệt độ lẫn lượng mưa nên
tạo điều kiện cho nền kinh tế nông nghiệp - nền kinh tế chính của khu vực mà cây lúa
đóng vai trò chủ đạo. Do vậy, Đông Nam Á được mệnh danh là quê hương của cây lúa
nước, cây lương thực số một của nhân loại. Những cánh đồng lúa được phân bố chủ yếu
trên các đồng bằng châu thổ, dọc theo thung lũng các con sông ở Đông Nam Á vì đây là
những vùng đất phù sa màu mỡ do các con sông bồi đắp và được con người ở đây tận
dụng trong quá trình sản xuất.
Các nhà Sử học Phan Ngọc Liên, Nghiêm Đình Vỳ, Đinh Ngọc Bảo, Trần Thị
Vinh (2002) nhận xét rất xác đáng về khu vực này:
Gió mùa kèm theo những cơn mưa nhiệt đới đã cung cấp đủ nước cho
con người dùng trong đời sống và sản xuất, tạo nên những cánh rừng nhiệt
đới phong phú về thảo mộc và chim muông. Đông Nam Á từ lâu đã trở thành
quê hương của những cây gia vị, cây hương liệu đặc trưng như hồ tiêu, sa
nhân, đậu khấu, hồi, quế, đàn hương, trầm hương… Do có những điều kiện
thiên nhiên tương đồng với các loài động, thực vật rất khác biệt với các vùng
khác, nhưng lại giống nhau trong vùng, nên Đông Nam Á còn được coi là
khu vực thực vật - dân tộc học và động vật - dân tộc học.
Trong số các loài thực vật, rõ ràng, cây lúa chiếm diện tích lớn nhất trong khu
vực Đông Nam Á và đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của các nước nơi đây
(Lương Ninh và Vũ Dương Ninh, 2008).
Trung - Ấn. Tại đây đã diễn ra sự hợp chủng giữa họ với cư dân Mêlanêdiên bản địa
(thuộc đại chủng Ôxtralôit), tạo chủng Anhđônêdiên (còn gọi là Mã Lai cổ)
(6)
. Từ đây
lan tỏa ra, người Anhđônêdiên cư trú trên toàn bộ địa bàn Đông Nam Á cổ đại.
Người Anhđônêdiên là cư dân cổ có mặt ở hầu khắp các nơi trong khu vực Đông
Nam Á, gồm những tộc ít người sinh sống chủ yếu là sâu trong các hải đảo như như
người Batắc ở Xumatơra; người Đaiắc, Kênya, Kayan, Punan ở Calimantan; Alphuru ở
Xulavêxi thuộc Inđônêxia; nhóm Bontok, Nabaloi, Iphugao, Kankanai, Pagobo,
Ghianga thuộc Philippin. Còn ở các miền rừng núi, người Anhđônêdiên có mặt khắp
trên bán đảo Đông Dương: các tộc người ở Tây Nguyên, ở dãy Trường Sơn (Việt Nam):
Bru - Vân Kiều, Xơ Đăng, Ba Na, Gia Rai, M’nông, Khơ Mú; tập trung chủ yếu ở Lào:
Thượng Lào (Khơ Mú), Hạ Lào (Hin, Bôlôven) và miền Trung Lào ít hơn; ngoài ra còn
ở Cămpuchia và Thái Lan.
1.2. Nhóm Nam Á
Nhóm Nam Á
(7)
là kết quả của sự hợp chủng giữa hai chủng Anhđônêdiên với
chủng Môngôlôit, với các nét đặc trưng Môngôlôit lại càng nổi trội, vì vậy, nó được coi
là tiểu chủng Môngôlôit phương Nam, và về sau, Bách Việt đã được sinh ra từ chủng
này (Nguyễn Đình Khoa, 1983; Lương Ninh và Vũ Dương Ninh, 2008).
Nhóm Nam Á gồm đại bộ phận người Đông Nam Á, với các nhóm đại diện chủ
yếu là Tày, Thái, Việt (Kinh), Lào, Mianma, Mã Lai, Khơ Me… ở bán đảo Trung - Ấn;
Visaya, Tagan, Giava, Sunđa, Mađura… ở quần đảo Mã Lai (Nguyễn Đình Khoa, 1983;
Lương Ninh và Vũ Dương Ninh, 2008).
1.3. Nhóm Vêđôit
Theo một giả thuyết, từ hai chủng Nam Á và Anhđônêdiên đã có một tác động
nhất định đến loại hình nhân chủng khác ở Đông Nam Á là Vêđôit, phần lớn là
Anhđônêdiên. Trong một giai đoạn lịch sử khá dài, nhóm loại hình nhân chủng Vêđôit
và Anhđônêdiên đã là thành phần chủ thể của cả khu vực Đông Nam Á với tỷ trọng có
và văn hóa Đông Nam Á (Mai Ngọc Chừ, 1999).
2. Ngôn ngữ
Mặc dù, ngày nay, bức tranh ngôn ngữ Đông Nam Á rất đa dạng nhưng theo các
nhà ngôn ngữ học, trước đây chúng đều có một gốc chung, tạm thời gọi là ngôn ngữ
Đông Nam Á tiền sử (Phạm Đức Dương, 1983). Từ ngôn ngữ gốc chung này, trong quá
trình phát triển lịch sử, nó được phân thành các ngữ hệ khác nhau và phát triển theo
hướng khác nhau, có thể chia ngôn ngữ Đông Nam Á thành 4 ngữ hệ chính (Mai Ngọc
Chừ, 1999; Nguyễn Tấn Đắc, 2003; Lương Ninh và Vũ Dương Ninh, 2008).
2.1. Ngữ hệ Nam Đảo
Ngữ hệ Nam Đảo (Mã Lai - Đa Đảo), được phân bố khá rộng, chủ yếu là các
đảo, trải từ Đông Nam Á đến tận châu Úc và các đảo nam Thái Bình Dương về phía
đông và hòn đảo ở đông nam châu Phi về phía tây. Thuộc ngữ hệ này gồm khoảng 200
tiếng nói cụ thể, bao gồm phần lớn cư dân Inđônêxia, Philippin và Malaixia, trong đó có
ngôn ngữ Melayu (các quốc gia Brunây, Malaixia, Inđônêxia, Xingapo), ngôn ngữ
Tagalog (ở Philippin), các ngôn ngữ Gia Rai, Ê Đê, Chăm, Ra Glai, Chu Ru (ở vùng
biên giới Việt Nam), một số tộc người ở phía nam Thái Lan, Cămpuchia.
Những quốc gia sử dụng ngữ hệ Nam Đảo làm tiếng nói chính thức: Inđônêxia,
Malaixia, Philippin và Xingapo.
2.2. Ngữ hệ Nam Á
Ngữ hệ Nam Á được phân bố chủ yếu ở các quốc gia Đông Nam Á lục địa, có
thể chia thành 4 nhóm sau:
2.2.1. Nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me
Ngữ hệ Môn - Khơ Me có hơn 100 ngôn ngữ, chia thành hai nhóm: Môn - Khơ
Me Bắc và Môn - Khơ Me Đông.
Môn - Khơ Me Bắc gồm có các tiếng nói chủ yếu: Bắc Thái Lan, Bắc Lào, Đông
Mianma.
Môn - Khơ Me Đông gồm các ngôn ngữ tập trung: Cămpuchia, miền Trung Việt
Nam, Trung Lào, Bắc Thái.
10
Các ngôn ngữ của những tộc người Môn - Khơ Me ở Việt Nam sống rải rác ở
Kaya, Lôlô, Chin (ở Mianma), Hà Nhì, Phù Lá, La Hủ, Si La (ở Việt Nam), Lisu, Akha
(ở Thái Lan), Kọ, Phunọi (ở Lào).
Ngoài bốn họ ngôn ngữ chính nêu trên, ở một số khu vực Đông Nam Á còn có
một vài ngôn ngữ thuộc các ngữ hệ khác theo dòng người nước ngoài đến Đông Nam Á
như tiếng Tamin (thuộc Đraviđa) của người Ấn Độ ở Malaixia, Inđônêxia; tiếng Aryen
(thuộc Ấn - Âu) của một số người Ấn Độ và Pakixtan ở Mianma.
Những đặc điểm về hệ ngôn ngữ cũng như sự phân bố tộc người trên lãnh thổ
Đông Nam Á cho thấy một sự thật là: không phải giữa các quốc gia Đông Nam Á từ
trước đến nay không tồn tại một mối quan hệ nào, và nếu chúng ta biết khai thác những
mối quan hệ, liên hệ ẩn náu trong quá khứ ấy thì sự hợp tác khu vực không thể không
11
Xin mượn lời của Mai Ngọc Chừ để kết lại: “Sự đa dạng không hề thủ tiêu tính
thống nhất của chúng. Nếu như nói rằng văn hóa Đông Nam Á là sự thống nhất trong đa
dạng thì nhận định đó cũng hoàn toàn chính xác đối với ngôn ngữ - một nhân tố quan
trọng của văn hóa và các ngôn ngữ Đông Nam Á là bức tranh đa dạng trong sự thống
nhất cao độ từ trong cội nguồn của chúng” (Mai Ngọc Chừ, 1999: 112).
III. Nền kinh tế truyền thống Đông Nam Á
“Xét về mặt lịch sử, những quốc gia lục địa chủ yếu sống bằng nông nghiệp
trồng lúa và những quốc gia hải đảo được lợi từ việc buôn bán đường biển” (Mary
Somers Heidhues, 2007: 6), đó chính là những nền kinh tế cơ bản, đem lại nhiều hiệu
quả và mang tính truyền thống của khu vực Đông Nam Á.
1. Kinh tế lúa nước
Nhiều bộ môn khoa học, trước hết là khảo cổ học, sinh thái học, dân tộc học…
đã chứng minh: Đông Nam Á là một trong những cái nôi trồng trọt cổ của loài người.
Nền văn hóa Hòa Bình đã minh chứng
(11)
, cư dân nơi đây thuần hóa nhiều giống lúa
khác nhau… Những di chỉ khảo cổ tại lục địa, đặc biệt là trên cao nguyên Khorat của
Thái Lan, nơi xã hội nông nghiệp đã xuất hiện khoảng năm 3.000 T.CN. Mặt khác, các
công trình nghiên cứu về địa lý cây trồng cũng công nhận rằng: Đông Nam Á là một
các sườn núi; còn ở Malaixia đồng bằng bang Kê Đắc là vựa lúa lớn của cả nước.
Nói tóm lại, ở Đông Nam Á, cây lúa được trồng khắp nơi từ đồng bằng, thung
lũng (cây lúa nước) cho đến cao nguyên, miền núi (cây lúa cạn) và người trồng lúa đóng
vai trò chủ thể tạo sức sản xuất trong xã hội. Từ sự phân chia này đã hình thành nên các
phương thức canh tác khác nhau, mang nhiều điểm khác biệt giữa trồng lúa ở ruộng
nước và trồng lúa trên nương, khi lúa trở thành một cây trồng chính trong nền kinh tế
trồng trọt ở Đông Nam Á, tính đa dạng được thể hiện một cách rõ rệt hơn. Đó là việc
hình thành ở khắp nơi một phức thể canh tác đa dạng: ruộng - rẫy; ruộng - nương; ruộng
- vườn… trong nghề trồng lúa, và gắn với mỗi phức thể canh tác đó là sự ra đời của
những yếu tố văn hóa phù hợp. Nghề trồng lúa nước đã trở thành nền kinh tế chính và
chủ đạo của Đông Nam Á từ xa xưa cho đến bây giờ.
Ngày nay, các quốc gia Đông Nam Á lấy sản xuất nông nghiệp làm nền kinh tế
chủ yếu của mình (trừ Xingapo phát triển theo hướng công nghiệp), trong đó Thái Lan
và Việt Nam là hai quốc gia đi tiên phong trong việc xuất khẩu lúa, gạo trên thế giới. Vì
vậy, nghề trồng lúa của cư dân Đông Nam Á ngày càng được cư dân nơi đây phát huy
tác dụng và có một vai trò quan trọng trong cuộc sống của người dân nơi đây.
2. Nghề sông biển
Trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp, ngoài ngành trồng trọt, cư dân
Đông Nam Á còn có cả một hệ thống nghề phụ, trong đó nổi bật nhất là nghề sông biển
(ngư nghiệp và ngoại thương). Trong các quốc gia Đông Nam Á, duy chỉ có Lào là
không giáp biển, tuy nhiên, Lào vẫn có thể tiếp xúc được với biển thông qua các quốc
gia láng giềng anh em. Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà cư dân Đông Nam Á đã
biết đóng mảng và đi thuyền biển từ rất sớm
(12)
tạo thuận lợi cho việc phát triển thương
nghiệp. Theo Mary Somers Heidhues đã nhận định: “…dân hải đảo là những thủy thủ
tài giỏi đến độ biển không ngăn cản được việc đi lại của họ, và trong những thời kỳ có
sử việc đánh cá, buôn bán và đi biển là hoạt động chính của cư dân Đông Nam Á hải
đảo, và cũng là một hoạt động quan trọng đối với cư dân lục địa ” (Mary Somers
Heidhues, 2007: 14). Việc buôn bán bằng đường biển với Đông Nam Á đã khá nhộn
đều có sông suối, vì thế mà cư dân Đông Nam Á có thể nuôi mình qua hàng thế kỷ nhờ
hệ thống sông, biển này. Bởi vì, ngoài việc thuận lợi về mặt giao thương thì cư dân
Đông Nam Á còn có thể đánh bắt tôm, cá, nuôi trồng các loài thủy, hải sản thông qua
sông, biển. Từ xa xưa, cư dân Đông Nam Á đã sống rất quen thuộc với nghề đánh bắt cá
trên sông biển này. Đây là nguồn thực phẩm nuôi sống và làm kế sinh nhai của họ từ
bao đời nay. Ngày nay, nghề này vẫn còn phát huy tác dụng và đem lại giá trị kinh tế
cao cho cư dân Đông Nam Á, đặc biết là đối với các cư dân ven biển.
Thật vậy, Nguyễn Quốc Lộc (2007) đã thấy được tầm quan trọng của biển đối
với Đông Nam Á:
Biển vốn giàu có và nuôi sống con người từ bao đời nay. Nhưng với tri
thức mới và năng lực hiện tại của con người, tài nguyên thiên nhiên của biển,
bao gồm cả đáy biển và dưới lòng đất của biển, đang và sẽ được khai thác,
sử dụng, làm giàu cho những quốc gia có biển. Một “thế kỷ đại dương” được
nói đến ngày càng nhiều, và khi nêu ra một dự báo “thế kỷ XXI là thế kỷ của
Đông Nam Á” ngoài những cơ sở về sự năng động và khả năng phát triển
nhanh của nó, có tầm nhìn mới của con người về biển của khu vực này.
Nhìn chung, nghề nông trồng lúa với nghề trên sông biển là nền kinh tế truyền
thống của cư dân Đông Nam Á được duy trì thường xuyên và liên tục từ xưa cho đến
nay. Nền kinh tế cơ bản này đã quy định đời sống văn hóa xã hội và tác động đến các
thành tố văn hóa “thống nhất trong đa dạng” ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, còn có rất
nhiều nền kinh tế quan trọng của cư dân Đông Nam Á mà vẫn chưa được đề cập đến:
dệt vải, chế tạo kim loại, đồ gốm… để tạo nên một nền văn hóa đậm đà mang tính
“thống nhất trong đa dạng”.
IV. Tiến trình lịch sử các quốc gia Đông Nam Á
Nếu coi Đông Nam Á là một khu vực địa lý - lịch sử với những nét tương đồng
đã từng tồn tại qua nhiều thế kỷ, thì quá trình phát triển lịch sử của khu vực này từ thời
nguyên thủy cho đến nay, có thể chia thành 4 giai đoạn nhỏ, mà trong mỗi giai đoạn đó,
yếu tố thống nhất và đa dạng đã trở thành “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt trong tiến trình lịch
sử Đông Nam Á, được lưu giữ và phát huy giá trị cho đến ngày nay.
1. Giai đoạn hình thành các vương quốc cổ ở Đông Nam Á (Từ nguyên thủy