Qũy tiền tệ thế giới IMF và vai trò của nó trong các cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới - Pdf 10

CHỦ ĐỀ: Qũy tiền tệ thế giới IMF và vai trò của nó trong các cuộc khủng hoảng lớn trên thế giới:
Khủng hoảng tài chính Đông Á (1997), Khủng hoảng kinh tế thế giới (2008), Khủng hoảng nợ
công Châu Âu (2010)
I – TỔNG QUAN VỀ IMF
IMF (International Monetary Fund) là tổ chức quốc tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu bằng việc
theo dõi tỉ giá hối đoái và cán cân thanh toán đồng thời hỗ trợ kĩ thuật và giúp đõ tài chính khi có yêu
cầu.
1.1 – Lịch sử hình thành
Nguyên nhân hình thành bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tiền tệ 1930
Thời đó, tiền giấy đã được lưu hành nhưng hãy còn trong tình trạng phôi thai. Trị giá giao hoán quốc tế
chưa có giá trị rõ ràng khiến cho sự mua bán, đổi chác còn ở trong khái niệm vật thể (như một đầu máy
xe lửa trị giá bằng 100 tấn cà phê), vì vậy sự giao thương còn rất khó khăn. Người ta đã nghĩ ra
phương cách dùng kim quý (vàng) để bảo trợ cho giá trị tiền tệ nước mình, nhưng chưa đạt được
một quy ước thống nhất thì cuộc đại suy thoái 1930 bùng nổ, vì chỉ có một số quốc gia theo kim bản
vị để quy định giá tiền tệ của mình, còn nhiều nước khác thì không. Việc này đã gây ra nhiều trở ngại
giữa trao đổi hàng hoá của các nước với nhau. Đó là nguyên nhân làm trì trệ sản xuất, cho nên sau
cuộc khủng hoảng xảy ra, các nhà lãnh đạo thế giới muốn đi tìm một biện pháp để thống nhất vấn đề
tiền tệ giao hoán nhưng cũng không mang lại một kết quả nào.
Đến năm 1940, vấn đề lại được mang ra bàn thảo trở lại, theo kế hoạch đề nghị của ông Harry White và
John Kenes. Theo đó, giá trị tiền tệ giao hoán phải được thống nhất và đồng thuận của các quốc
gia. Một tổ chức quốc tế đã được thành lập để quyết định và giám sát việc thực thi về giao hoán này
giữa 2 hay nhiều loại tiền tệ khác nhau. Sau nhiều năm bàn thảo rất khó khăn của giai đoạn đệ nhị thế
chiến, cuối cùng tháng 7/1944 một hội nghị gồm 44 quốc gia (trong đó có cả Liên Xô cũ) diễn ra tại
Bretton Woods, News Hampshire (Mỹ) từ ngày 1 - 22/7/1944 để soạn thảo điều lệ Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF).
Ngày 27/12/1945, điều lệ thành lập IMF đã được 29 nước kí kết. IMF bắt đầu hoạt động từ tháng
5/1946 (số hội viên lúc này chỉ gồm 39 nước). Ngày 1/3/1947, IMF tiến hành cho vay và khoản vay đầu
tiên vào ngày 8/5/1947, được hưởng quy chế cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc. Tổng số vốn lúc
này là 202 tỷ USD
1.2 – Đặc điểm về nguồn vốn và tỉ lệ phiếu bầu
- Nguồn vốn của IMF chủ yếu do các thành viên đóng góp theo cổ phần. Ban đầu, mức cổ phần đóng

liệu chiến lược và điều chỉnh quan hệ tiền tệ giữa các nước hội viên
- Khi quốc gia nào gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ nước ngoài thì IMF đề ra “chương trình điều chỉnh
cơ cấu” bằng cách giảm phát nền kinh tế và giảm chi tiêu của chính phủ nhằm giúp các nước này lấy lại
sự kiểm soát đối với nền kinh tế. Mặc dù có những vấn đề khó khăn với nền kinh tế quốc gia nhưng khi
nền kinh tế được “điều chỉnh” thì mọi thứ sẽ trở nên tốt hơn. Nhưng trên thực tế chương trình này đòi
hỏi chính phủ nước đi vay phải “thắt lưng buộc bụng” giảm chi tiêu dịch vu, giảm thuế nhập khẩu, giảm
trợ cấp chính phủ. Điều này làm các công ty nước ngoài dễ dàng kiểm soát nền kinh tế nước đi vay.
1.5 – Chức năng và nhiệm vụ của IMF
1.5.1 – Chức năng
IMF có các chức năng cơ bản:
- Xác định hệ thống ngang giá tiền tệ và tỷ giá hối đoái của các thành viên;
- Cấp tín dụng cho các thành viên có khó khăn tạm thời về cán cân thanh toán;
-Theo dõi tình hình của hệ thống tiền tệ quốc tế và chính sách kinh tế của các nước thành viên;
- Tư vấn cho các nước hội viên về chính sách kinh tế vĩ mô;
- Cung cấp trợ giúp kĩ thuật.
Trước 1973, hoạt động của IMF theo dõi việc chấp nhận tính chuyển đổi của các đồng tiền ở các nước,
giám sát hệ thống tỷ giá hối đoái cố định gắn với giá trị của vàng (thực chất là cố định so với USD, còn
USD được chính phủ Mỹ cam kết gắn với vàng ở tỷ lệ 35USD/ounce vàng), cho các nước thành viên
vay ngắn hạn khi họ gặp khó khăn về dự trữ ngoại tệ khiến cho việc giữ tương quan giá giữa các đồng
tiền trở nên khó khăn hoặc khi họ gặp một số khó khăn kinh tế nhất định.
Đầu năm 1973, nhiều nước Châu Âu và Nhật Bản đã tuyên bố thả nổi đồng tiền của họ so với USD. Hệ
thống Bretton Woods chính thức sụp đổ. Sự sụp đổ này làm lung lay vai trò của IMF với tư cách là một
tổ chức giám sát sự trao đổi tiền tệ tự do trong hệ thống tỷ giá cố định.
Sau 1973, hàng năm IMF họp với các nước thành viên phân tích với các nước thành viên thấy tình hình
kinh tế của họ, cảnh báo những vấn đề có thể xảy ra và tư vấn cách giải quyết. Trong thực tế, IMF ngày
càng quan tâm đến cải cách kinh tế ở các nước đang phát triển.
1.5.2 – Nhiệm vụ
IMF có các nhiệm vụ sau:
- Giải quyết các vấn đề hối đoái giữa các quốc gia hội viên nhằm ổn định mậu dịch quốc tế;
- Tài trợ tín dụng cho các nước nghèo hầu tạo điều kiện cho họ phát triển qua hình thức giúp ngân

người châu Âu.
- Bất kì một nước thành viên nào khi gia nhập IMF đều phải cho các thành viên khác trong quỹ biết dự
định về chuẩn giá trị đồng tiền của nước mình so với đồng tiền của các nước khác để tự kiềm chế, hạn
chế việc đổi đồng tiền của họ lấy ngoại tệ và để theo đuổi những cơ sở kinh tế sẽ làm tăng của cải của
các nước thành viên đó, của cả cộng đồng các nước thành viên bằng con đường hòa hợp, có lợi. Khi gia
nhập IMF, mỗi nước thành viên đều phải đóng một khoản tiền nhất định được coi là một khoản lệ phí
hội viên. Tuy nhiên khoản đóng này chỉ thực hiện khi quỹ có nhu cầu: khi có ai cần vay tiền của quốc
gia đó thì quốc gia đó mới phải đóng. Chẳng hạn, nếu một nước muốn vay Bảng Anh thì khi đó IMF
mới yêu cầu Anh phải đóng. Số tiền này được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau:
+ Thứ nhất, tạo thành một khoản vốn IMF có thể trích ra cho các thành viên vay mỗi khi họ gặp khó
khăn về tài chính;
+ Thứ hai, khoản phí là căn cứ để quyết định số lượng tiền mà nước thành viên được vay và là cơ sở để
phân bổ rút vốn lớn đặc biệt (SDR) theo từng thời kỳ cho các nước thành viên. Dĩ nhiên, nước thành
viên nào càng đóng góp nhiều thì khi cần sẽ được vay nhiều;
+ Thứ ba, số tiền ký quỹ này còn có vai trò quyết định quyền bỏ phiếu của nước thành viên.
Bản thân IMF là người quyết định số tiền mỗi nước thành viên phải nộp vào quỹ sau khi phân tích đánh
giá mức độ giàu có và tình hình kinh tế của nước đó. Nước càng giàu, lệ phí càng cao (xem phụ lục 3).
Mức đóng góp của mỗi nước thành viên vào IMF rất khác nhau. Năm 1985, Mỹ đóng 20,l%, khối EEC
đóng 27,9%, còn các nước đang phát triển đóng 32,4%. Mức lệ phí này cứ 5 năm lại được xem xét lại,
có thể tăng lên hoặc giảm đi tùy theo nhu cầu của IMF và mức độ phát đạt của nước thành viên. Tuy
nhiên từ ngày 01/04/1978, với sự sửa đổi điều lệ lần thứ hai, việc xem xét và điều chỉnh phần đóng góp
của mỗi nước thành viên được quy định 3 năm một lần. Năm 1945, 35 thành viên khi đó đóng góp vào
IMF 7,6 tỷ USD; năm 1977 con số đó khoảng 200 tỷ USD. Ngày 06/02/1998 Hội đồng quản trị của IMF
đã phê chuẩn kế hoạch tăng 45% ngân quỹ của tổ chức này, từ 199 tỷ USD lên 288 tỷ USD. Cho đến
nay, Mỹ là nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới, đóng góp nhiều nhất cho IMF, chiếm khoảng 19% tổng
số (40 tỷ USD); Marshall Island, một nước cộng hoà đảo ở Thái Bình Dương đóng ít nhất khoảng 3,6
triệu USD (năm 2008).
1.8 – Vai trò của quỹ IMF trong việc điều tiết nền kinh tế thế giới
• Đối với nền kinh tế thế giới
 Ổn định các quan hệ tài chính tiền tệ trên phạm vi toàn thế giới

ngân hàng vẫn dậm chan tại chỗ, thậm chí chính phủ đã can thiệp vào hệ thống tài chính thông qua ngân
hàng quốc doanh hoặc chỉ thị cho những ngân hàng tư nhân phải cấp tín dụng với lãi suất thấp cho các
công ty được chính phủ ưu đãi. Khắp khu vực tràn lan tình trạng bao cấp và cắt giảm thuế cho những
ngành công nghiệp có chọn lọc và những ngành độc quyền được chính phủ bảo hộ. Lợi dụng kẽ hở này
các doanh nghiệp đã tìm cách vay ngắn hạn nước ngoài (chủ yếu là đầu tư vào bất động sản với ý định
trang trải cho các khoản nợ và thua lỗ trong sản xuất công nghiệp, nhưng thị trường bất động sản trong
thời gian này lại gặp nhiều bất lợi) => gây ra 1 khoản nợ không có khả năng thanh toán khi thị trường
này biến động.
Ba là, cán cân vãng lai thâm hụt lớn và cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài đổ vào trong nước không hợp
lý. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất gây nên bất ổn cho hệ thống tài chính tiền tệ của các nươc. Giá
cả hàng xuất khẩu sụt giảm và nền kinh tế giảm sức cạnh tranh trong khi đó giá cả hàng hóa nhập khẩu
lại tăng mạnh, đặc biệt là các mặt hàng xa xỉ (đặc biệt là ở Thái). Cơ cấu vốn nước ngoài đổ vào các
nước chịu khủng hoảng nặng, có sự mất an toàn cao do khối nợ lớn tăng nhanh, chủ yếu là vốn ngắn hạn
( chiếm 70% tổng số nợ của khu vực tư nhân tại Thái Lan và Inđô). Mặt khác, vốn huy động gián tiếp
thông qua chứng khoán tăng nhanh trong khi dự trữ quốc gia không cao, vì kim ngạch XNK giảm dần,
nghĩa là có sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài( mà nguồn này chủ yếu dùng đầu tư bất động
sản)=> cung tiền vượt quá cầu tiền, tình trạng nợ đọng gia tăng và việc mua vét ngoại tệ để trả đáo hạn
là không thể tránh khỏi.
Ngoài ra, còn có các nguyên nhân khác như: Sự lũng đoạn của các tổ chức tài chính và mối liên hệ chặt
chẽ giữa các tổ chức này với chính phủ => tham nhũng nặng nề, khiến chính phủ không thể mạnh tay
trong các biện pháp xử lý của mình. Hay do hệ thống luật pháp không thích hợp với cơ chế mới, hệ
thống giáo dục kém phát triển, thiếu lao động lành nghề,mức lương thực tế tăng nhanh trong khi Trung
Quốc và Ấn Độ tham gia vào thị trường lao động quốc tế với giá thấp khiến giảm sức cạnh tranh của các
nước ĐNA trên thị trường quốc tế… Hầu như các nguyên nhân trên đều là những vấn đề tồn tại ở các
nước bị khủng hoảng và do các mối quan hệ giữa Hàn, Nhật và ASEAN, nên khi cuộc khủng hoảng nổ
ra ở 1 nước nó lập tức lan truyền sang nước khác và gây ảnh hưởng nặng nề cho các nước đó. Vì vậy,
nước này không thể đổ lỗi hoàn toàn cho nước kia.
2.1.2 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
Các nhà kinh tế đều nhận định rằng tất cả các nước ĐNA hiện đang lâm vào cuộc khủng hoảng tiền tệ sẽ
có tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hơn trong năm 1997 và 1998.

balance***
1.9 -0.9 -2.4 -2.9 -3.0
Current account balance -6.0 -7.9 -2.0 12.7 9.1
(In billions of U.S. dollars)
External debt 90.5 93.4 86.2 76.0 67.8
Sources: Thai authorities and IMF staff estimates.
Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 9%. Cuối
năm 1996, IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bong kinh tế có thể
không giữ được lâu. Cuối năm 1996, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có biến. Cả mức vốn hóa
thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi.
Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn công đầu cơ quy mô lớn. Ngày 30
tháng 6, thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh tuyên bố sẽ không phá giá baht, song rốt cục lại thả
nổi baht vào ngày 2 tháng 7. Baht ngay lập tức mất giá gần 50%. Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống
đến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ. Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280
cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997. Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ
USD xuống còn 23,5 tỷ USD. Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản. Ngày
11/8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan. Ngày 20/8, IMF
thông qua 1 gói cứu trợ nữa trị giá 3,9 tỷ USD.
Tại Philippines
Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái, ngày 3/7/97, ngân hàng TƯ Philippines đã cố gắng can thiêp vào
thị trường ngoại hối để bảo vệ đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ
15% lên 24%. Đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso/1 USD xuống còn 38 peso/ 1 USD vào
năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng. Bê bối chính trị liên quan đến Tổng thống đương nhiệm
Joseph Estrada năm 2001 cũng góp phần làm cho tình trạng tồi tệ hơn khi thị trường chứng khoán
Philippines giảm từ 3000 điểm xuống còn 1000 điểm. Điều này kéo theo việc đồng peso thêm mất giá,
và giá trị của nó chỉ được phục hồi khi Gloria Macapagal-Arroyo lên làm Tổng thống.
Tại Hàn Quốc
1996 1997 1998 1999* 2000**
(Percent change)
Real GDP Growth 7.1 5.5 -6.7 10.7 8.0

chảy ra nước ngoài. Lượng vốn chảy ra đạt tới mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm 1997.
2.1.3 Các biện pháp khắc phục khủng hoảng của IMF.
Ở các nước bị cuộc khủng hoảng hoành hành, tình trạng sụt giá tiền tệ cũng như chứng khoán diễn
ra mang tính chất dây chuyền nghiêm trọng và khó chặn đứng. Người ta đổ xô đi mua USD Mỹ và các
ngoại tệ mạnh trong khi các nhà đầu tư hối hả chuyển vốn ra nước ngoài. Cho đến đầu năm 1998 cuộc
khủng hoảng đẩy lên cao tới cao trào hoảng loạn, kèm theo sự sụp đổ của tiền tệ là sự rối loạn thị trường
chứng khoán. Các nền kinh tế châu á chao đảo đặc biệt nghiêm trọng tập trung vào 3 nước Hàn Quốc,
Indonexia và Thái Lan. Chính phủ của các nước này lâm vào tình trạng thiếu hụt ngoại tệ nặng nề để
ngăn chặn quá trình phá giá và giải quyết nợ nước ngoài, trong khi đó nguồn đầu tư từ nước ngoài không
những giảm mạnh mà còn có xu hướng rút ra càng làm tình hình thêm khó khăn. Đứng trước tình hình
này một số quốc gia lâm vào khủng hoảng đã đề nghị IMF trợ giúp.

Commitments

Disbursements
(as of 5/30/00)
IMF Multilateral
1
Bilateral Total IMF Other
4
Total
Indonesia
2
15.0 10.0 24.7 49.7 11.6 10.3 21.9
Korea
3
21.1 14.2 23.1 58.4 19.8 10.6 30.4
Thailand 4.0 2.7 10.5 17.2 3.4 10.9 14.3
Total 40.1 26.9 58.3 125.3 34.8 31.8 66.6
1

hộ. Chương trình cải cách kinh tế này nhằm xoá bỏ nguồn gốc của khó khăn thanh toán, ngăn chặn sự
lan truyền của khủng hoảng, khắc phục khủng hoảng và chuẩn bị nền tảng cho tăng trưởng kinh tế. IMF
cho rằng nguyên nhân cơ bản của thiếu hụt cán cân thanh toán quốc tế là nhu cầu về tiền tệ quá lớn, liên
quan trước hết đến việc tăng quá lớn khối lượng tiền tệ và tăng chi phí của nhà nước. Đồng thời giữa chi
phí sản xuất và giá cả hàng hoá, dịch vụ ở những nước sản xuất chủ yếu không phù hợp với nhau. Vì
vậy, để khắc phục sự thiếu hụt cán cân thanh toán theo đề nghị của IMF, cần thực hiện hai phương pháp:
Thứ nhất giảm tổng nhu cầu về tiền nhờ chính sách tiền tệ - tín dụng và quản lý ngân sách (tăng lãi suất
chính thức, dự trữ tối thiểu, hợp lý hoá tín dụng, hạn chế chi tiêu ngân sách về nhu cầu xã hội, về trợ cấp
nhà nước, tăng thuế ); Thứ hai là phá giá tiền tệ hoặc chuyển sang chế độ thả nổi.
Với cách tiếp cận như trên, IMF buộc áp dụng phương thức tỷ giá hối đoái linh hoạt ở những nơi
chưa sử dụng phương thức này. Sửa đổi chính sách tài chính công cộng, các chính phủ phải thực hành
tiết kiệm, cắt giảm chi tiêu công cộng, tăng các nguồn thu ngân sách từ thuế nhằm bảo vệ sự cân bằng
tài khoản vãng lai cũng như tái củng cố dự trữ ngoại hối quốc gia. Theo IMF cả ba nền kinh tế Đông Á
và Đông Nam Á đều phải thắt chặt chi tiêu ngân sách bằng cách hoãn hoặc huỷ bỏ tất cả những dự án
đầu tư lớn, có độ mạo hiểm cao, đồng thời thu hẹp khu vực kinh tế nhà nước bằng chương trình tư nhân
hoá do sự hoạt động kinh tế kém hiệu quả, và mối quan hệ khăng khít đến dễ tham nhũng giữa doanh
nghiệp và nhà nước. chính phủ Thái Lan phải có một ngân sách thâm hụt từ 1 - 2% GDP so với mức
thâm hụt cao trước đây, ở Indonesia, ngân sách chuyển từ thâm hụt sang thặng dư bằng 1% GDP. Ngoài
ra, tăng nguồn thu ngân sách bằng nâng thuế hoặc giảm mức trợ giá, trợ cấp. ở Indonesia phải bỏ trợ giá
điện và dầu, tăng thuế một số mặt hàng, tăng thuế giá trị gia tăng ở Thái Lan và Indonesia.
Các nước phải tạm thời thắt chặt chính sách tiền tệ để hạn chế áp lực đối với cán cân thanh toán.
Theo yêu cầu của IMF, các nước thực hiện thắt chặt tín dụng trong nước, kiểm soát vấn đề nợ của khu
vực tư nhân thật chặt chẽ, hạn chế vay tín dụng bằng cách buộc các chính phủ phải nâng lãi suất vay lên
mức cao. Một trong những khía cạnh dẫn đến khủng hoảng tiền tệ là dòng vốn lớn chảy vào khu vực
Đông Nam á do các chính phủi nước này thực hiện các chính sách nới lỏng hoặc khuyến khích dòng vốn
bên ngoài vào. Kết quả là tư nhân tự do vay vốn nước ngoài chủ yếu là đầu tư vào bất động sản và các
ngành xuất khẩu nhằm kiếm nhiều lợi nhuận. Cơ sở của chủ trương thắt chặt tín dụng là ép cầu đầu tư
cũng như cầu tiêu dùng của xã hội xuống một mức hợp lý để dần dần sửa chữa hậu quả của nền kinh tế
bong bóng. ở Thái Lan, chính phủ phải duy trì lãi suất cao (vào khoảng 20%). Nền kinh tế của các nước
Đông và Đông Nam á chứa đựng nhiều điểm yếu bất hợp lý do đó IMF buộc các nước này hành động

quyết khủng hoảng. Tổ chức này đã đứng ra giàn xếp các giải pháp để các nước này được vay số tiền
khoảng 117 tỷ USD.
Các khoản trợ giúp tài chính của IMF có tác dụng tốt ngăn chặn sự lây lan cũng như sự xuống dốc
tiếp tục của nhiều nền kinh tế Châu á. Mặc dù có nhiều giai đoạn đồng tiền của các nước được IMF cho
vay xuống giá liên tục và khủng hoảng kinh tế sâu sắc hơn nhưng đến bây giờ thì nền kinh tế của các
nước khủng hoảng đã lấy lại tốc độ tăng trưởng cao. Các dấu hiệu phục hồi nền kinh tế đã bắt đầu xuất
hiện từ tháng 4 - 1999 cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ kéo dài 21 tháng đã qua thời kỳ chạm
đáy và tác động xấu của nó phai nhạt dần.
IMF đã đề ra những biện pháp cải cách cơ cấu kinh tế tài chính phù hợp để đạt được sự phát triển
bền vững trong tương lai.
Các biện páp khắc phục do IMF đưa ra có căn cứ trên các nguyên nhân gây ra sự suy thoái kinh tế
ở các nước Đông á. Mặc dù các biện pháp này gây đau đớn cho nền kinh tế các nước này nhưng nó là
cần thiết. Trước hết để xoá đi mối quan hệ khăng khít đến mức dễ dàng tham nhũng giữa chính phủ và
doanh nghiệp bằng cách thắt chặt chi tiêu ngân sách và huỷ bỏ các dự án đầu tư lớn có độ mạo hiểm cao,
đồng thời thu hẹp khu vực kinh tế nhà nước. IMF cho rằng trong ba nền kinh tế Đông á này còn tồn tại
nhiều tổ chức kinh tế hoạt động kém hiệu quả, các khoản vốn khổng lồ được quyết định đầu tư xuất phát
từ sự độc đoán hoặc từ ý đồ mờ ám trục lợi hơn là từ hiệu quả kinh tế, đặc biệt ở Indonesia, quyền lực
của gia đình tổng thống Suhacto.
Chấn chỉnh các hệ thống tài chính - ngân hàng ở các nước trong khu vực bằng những cải cách sâu
rộng đóng cửa sát nhập, siết chặt hoạt động kiểm toán, quản lý chặt chẽ các dư nợ làm cho các ngân
hàng hoạt động có hiệu quả tăng tính “trong suốt” của các hoạt động.
IMF còn buộc các nền kinh tế này điều chỉnh cơ cấu kinh tế. ở các nước gặp khủng hoảng, các tập
đoàn công nghiệp độc quyền được hưởng nhiều ưu đãi từ chính phủ nhờ quan hệ thân hữu đã đẩy nền
tài chính quốc gia vào thế yếu nghiêm trọng làm giảm sút hiệu quả đầu tư và sa sút khả năng cạnh tranh
trên thị trường quốc tế. Do đó, IMF buộc các nước này phải ngừng ngay lập tức những ưu đãi, bãi bỏ
bảo hộ, tự do thương mại và đầu tư, tư nhân hoá mạnh mẽ nhằm giảm thiểu những bất trắc xảy ra do
bất ổn về kinh tế - xã hội.
Biểu đồ thể hiện sự hồi phục của 3 quốc gia chủ chốt sau khi nhận được sự trợ giúp từ IMF
class="bi xd y12a w3 h9"
class="bi xd y4b w4 ha"

rằng đòi hỏi ban đầu mà IMF đưa ra với thặng dư ngân sách là sai lầm và có thể thực tế đã góp phần làm
trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng do tác động của nó đối với quyết định đầu tư của các doanh nghiệp.
Ở các nước Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia, một trong những điều đầu tiên IMF đã mang ra thi
hành là lập tức bắt “đóng cửa” một số ngân hàng, việc này làm cho mọi người thêm sợ hãi vội vã rút tiền
ra khỏi ngân hàng không kể tốt xấu và làm mất lòng tin tất cả.
IMF giúp cho cả những người cho và người đi vay tránh khỏi những hậu quả do những quyết định
lựa chọn đầu tư kém khôn ngoan do họ gây ra. Điều này có thể gây ra một cuộc khủng hoảng trong
tương lai khi không để cho các bên tư nhân dính líu, chia sẻ sự thất bại và giải quyết các khó khăn của
họ mà lại dựa vào sự giúp đỡ của IMF. Trong khi đó, người dân phải chịu đựng những hậu quả của cuộc
khủng hoảng nhiều nhất với sự sụt giảm mạnh mức sống như là một điển hình của kết quả IMF can thiệp
một điều trái với mục đích của IMF. Các biện pháp tài chính trọn gói khổng lồ mà IMF đề xuất cho Thái
Lan, Indonexia và Hàn Quốc cũng không thích hợp. Nếu IMF đóng vai trò như một người cho vay đối
với nguồn dự trữ cuối cùng để chấm dứt khủng hoảng tài chính và ngăn chặn sự tháo chạy của các nhà
đầu tư và chủ nợ thì nguồn vốn của IMF cần phải được sử dụng cho các khoản chi tiêu tức thời trước
mắt chứ không bị giữ lại cho đến khi các nước này sẵn sàng thực hiện các cải cách cơ bản về cơ cấu.
Cuộc khủng hoảng châu á là cuộc khủng hoảng của khu vực tư nhân có liên quan đến tình trạng
vay nợ quá nhiều từ các nguồn tài chính dễ tiếp cận, tiếp sau việc tự do hoá các tài khoản vốn bắt đầu từ
những năm 1980. Vì thế chính sách của IMF yêu cầu tự do hơn nữa ngành tài chính và các luồng lưu
thông tài chính là sai lầm và làm tăng khả năng khủng hoảng trong tương lai.
Mặt khác cuộc khủng hoảng ở Châu á là do nằm ở khu vực tư nhân khác với cuộc khủng hoảng tài
chính Mexico năm 1994 nơi mà những món nợ chủ yếu chồng chất lên khu vực kinh tế nhà nước. Do đó
biện pháp đòi cắt giảm chi tiêu công cộng là thiếu cơ sở, thậm chí cũng theo Liên Hợp Quốc khi nền
kinh tế đang thương tổn lại bị đè bẹp xuống hơn nữa dưới sức nặng của những bắt buộc tiết chế nghiêm
khác đã đẩy tỷ giá hối đoái đến những cơn nóng bỏng mới. Việc tăng tỷ lệ lãi suất lên cao đã làm cho
hàng loạt các công ty phá sản gây ra gánh nặng thất nghiệp. Ngoài ra IMF đã nhân cơ hội các nước bị
khủng hoảng để bỏ qua những quy trình chính trị của các qốc gia và áp đặt những thay đổi về mặt kinh
tế. Không phải ngẫu nhiên mà các đợt phản đối IMF có ở hầu hết các nước khủng hoảng và sự thay đổi
chính phủ ở nhiều nước
IMF hoạt động vì lợi ích của các cường quốc, đặc biệt là Mỹ.
Sau khi cuộc khủng hoảng kết thúc với sự can thiệp của IMF rất dễ nhận thấy sự thay đổi chủ nhân

Mỹ khỏi suy thoái sau cuộc khủng hoảng năm 2000-2001 (chỉ từ tháng 5/2001 đến tháng 12/2002, FED
đã 11 lần giảm lãi suất cho vay từ 6,5% xuống còn 1,75%/năm). Còn các NHTM có thể cho người dân
vay mua nhà “dưới chuẩn” đầy rủi ro với một quy mô lớn là do được các công ty tài chính và ngân hàng
đầu tư, trong đó đặc biệt là hai công ty Fanie Mae và Freddie Mac được Chính phủ Mỹ bảo trợ, “cấp
vốn” bằng cách mua lại các khoản cho vay của các NHTM, biến chúng thành loại chứng từ được bảo
đảm bằng các khoản vay thế chấp để bán lại cho các công ty, các ngân hàng đầu tư lớn khác như: Bear
Stearms, Merrill Lynch…Các công ty tài chính, ngân hàng đầu tư này lại phát hành trái phiếu trên cơ sở
các chứng từ cho vay thế chấp đó để bán cho các ngân hàng Mỹ khác và ngân hàng nhiều nước trên thế
giới làm tài sản tích trữ do uy tín của các ngân hàng phát hành. Việc “chứng khoán hoá” các khoản vay
thế chấp đã vượt khỏi sự kiểm soát của nhà nước. Chuỗi hoạt động kinh doanh mang tính chất đầu cơ đã
làm thị trường nhà đất nóng lên, giá nhà đất bị đẩy lên cao, trở thành “bong bóng”. “Bong bóng” nổ là
không thể tránh khỏi. Đó chính là những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến khủng hoảng tài chính Mỹ, và
sự buông lỏng quản lý nhà nước và những sai lầm trong chính sách kinh tế của nhà nước là nguyên nhân
sâu xa hơn của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ vừa qua.
- Mỹ là một quốc gia có nền kinh tế ảnh hưởng sâu rộng tới nền kinh tế toàn cầu, vì thế mà cuộc khủng
hoảng tài chính trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và sau đó nhanh chóng lan rộng, làm suy
giảm kinh tế toàn cầu,
2.1.2 Hậu quả của cuộc khủng hoảng
- Hậu quả lớn và nặng nề nhất là phá huỷ lực lượng sản xuất, đẩy lùi sự phát triển của kinh tế thế giới.
Trước hết là đối với nước Mỹ. Ở Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính biến thành cuộc khủng hoảng kinh tế,
sản xuất suy thoái, thất nghiệp tăng lên, do đó được xem là cuộc khủng hoảng “3 trong 1”. Cuộc khủng
hoảng làm phá sản hàng loạt ngân hàng và công ty tài chính, kể cả những ngân hàng, công ty tài chính
hàng đầu nước Mỹ. Bear Stearn – một trong những tập đoàn môi giới chứng khoán và ngân hàng đầu tư
hàng đầu phố Wall, đã có bề dày hoạt động 85 năm trên thị trường tài chính Mỹ, bị thua lỗ nặng nề khi
thị trường nhà đất sụt giá, ngày 16/3/2008 đã tuyên bố phá sản, bị Morgan Chase mua lại với giá 2 USD
một cổ phiếu. Còn Lehman Brather, ngân hàng đầu tư đứng hàng thứ tư ở phố Wall có 158 năm hoạt
động, ngày 15/9/2008 đã phải nộp đơn xin bảo hộ phá sản do thua lỗ, tổng số nợ lên đến 768 tỷ USD.…
- Sản xuất và tiêu dùng ở Mỹ cũng rơi vào tình trạng hết sức khó khăn. Ngành sản xuất ô tô, một trong
những ngành sản xuất quan trọng nhất của kinh tế Mỹ, doanh thu giảm nghiêm trọng. Ba hãng sản xuất
ô tô hàng đầu nước Mỹ là General Motor, Ford, Chrysler đều thua lỗ nặng nề. Tháng 1/2008, Nortel

thông qua các biện pháp chưa từng có để tăng mạnh các nguồn lực sẵn có cho các nước thu nhập thấp
trong cuộc khủng hoảng. Các nguồn tài nguyên bao gồm từ việc bán vàng của IMF, đẩy mạnh cho vay
ưu đãi của Quỹ lên đến $ 17 tỷ USD cho đến năm 2014, trong đó có tới 8 tỷ USD trong hai năm 2008-
2009. Ngoài ra, IMF thông báo không thanh toán lãi suất trên số dư nợ cho vay ưu đãi cho đến cuối năm
2011 cho tất cả các thành viên có thu nhập thấp. Một tập hợp các công cụ cho vay mới được củng cố
tăng cường trong gói hỗ trợ này.Cụ thể:
• IMF tăng cường các nguồn lực ưu đãi: Để đáp ứng với sự gia tăng nhu cầu tài chính của các
nước thu nhập thấp trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, IMF tăng cho vay ưu đãi đáng kể
từ 1,2 tỷ USD trong năm 2008 đến 3,8 tỷ USD năm 2009, và trung bình hàng năm 2,0 tỷ đô la
Mỹ trong thời gian 2010-2012.
• Lãi suất cứu trợ, IMF thông báo các nước có thu nhập thấp không phải thanh toán lãi suất trên số
dư nợ cho vay ưu đãi của mỗi nước cho đến cuối năm 2011 để giúp các nước vượt qua khủng
hoảng
• Một tập hợp các công cụ tài chính mới phù hợp với nhu cầu đa dạng của các nước thu nhập thấp
hơn và phù hợp để đáp ứng những thách thức của cuộc khủng hoảng:
1. Cơ sở tín dụng mở rộng (ECF) : để cung cấp linh hoạt hỗ trợ trung hạn;
2. Quỹ tín dụng dự phòng: để giải quyết nhu cầu ngắn hạn và phòng ngừa;
3. Cơ sở tín dụng nhanh, cung cấp hỗ trợ khẩn cấp với điều kiện hạn chế
Ngoài ra, Ban điều hành của IMF trong thời gian này đã ủng hộ đề nghị của Giám đốc điều hành cho
một phân bổ SDR mới là $ 250 tỷ đồng, trong đó hơn $ 18 tỷ đồng sẽ góp phần tăng cường dự trữ ngoại
hối của các nước thu nhập thấp.
• Các điều kiện được linh hoạt hơn
Năm 2009, IMF đã công bố các điều kiện linh hoạt hơn trong các chương trình được hỗ trợ cho các nước
có thu nhập thấp: điều kiện cải cách cơ cấu đã được sắp xếp hợp lý cho tất cả các chương trình hỗ trợ
của Quỹ và bổ sung các điều kiện trong các chương trình trung hạn cho các quốc gia có thu nhập thấp.
Chương trình của IMF hỗ trợ đã bù đắp được những thâm hụt tài chính lớn trong cuộc khủng hoảng ở
hầu hết các nước thu nhập thấp.
2.2.3 Đánh giá vai trò của IMF trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008
Tuy có nhiều ý kiến trái chiều nghi ngờ về vai trò của IMF trong cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
2008-2009 vì không dự báo được những rủi ro kinh tế tiềm ẩn trước đó nhưng cũng không thể phủ nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status