chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng ngân hàng qua các học thuyết kinh tế và nhận thức vận dụng ở việt nam hiện nay - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, vai trò của các
chính sách kinh tế, mà cụ thể là chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng có ý nghĩa rất
lớn trong việc đảm bảo xây dựng thành công một nền kinh tế phát triển nhanh, bền
vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Một chính sách kinh tế đúng đắn và phù hợp
sẽ là cơ sở vững chắc cho sự phát triển kinh tế, một chính sách kinh tế không phù hợp,
chủ quan duy ý chí sẽ làm cho nền kinh tế trở nên trì trệ thậm chí là phát triển thụt lùi.
Xuất phát điểm quan trọng nhất, nền tảng cơ bản nhất để xây dựng một chính
sách kinh tế chính là các học thuyết kinh tế. Trải qua quá trình phát triển hơn 6 thế kỉ
bắt đầu từ học thuyết trọng thương (thế kỉ XV), là học thuyết đầu tiên được xây dựng
thành một hệ thống lí luận hoàn chỉnh đến học thuyết kinh tế hiện đại hiện nay, các
học thuyết kinh tế khác nhau đã được hình thành và khẳng định vị trí của mình trong
một giai đoạn nhất định. Điều nổi bật của các học thuyết kinh tế này là các học thuyết
kinh tế sau có thể phủ định học thuyết kinh tế trước. Tuy nhiên cũng có những học
thuyết không hoàn toàn phủ nhận học thuyết kinh tế trước mà là sự kế thừa và phát
huy cao hơn học thuyết trước đó. Do vậy tất cả các học thuyết kinh tế đều có ý nghĩa
thực tiễn nhất định trong từng giai đoạn cũng như quá trình phát triển chung của nền
kinh tế ở mỗi quốc gia.
Thấy được tầm quan trọng của chính sách kinh tế đối với nền kinh tế của một
quốc gia cũng như vai trò của các học thuyết kinh tế trong việc xây một chính sách tài
chính, tiền tệ tính dụng để tạo cơ sở cho sự phát triển nhanh, bền vững của một nền
kinh tế. Đặc biệt, các quan điểm kinh tế của Marx luôn đóng vai trò là kim chỉ nang
trong xây dựng đường lối lãnh đạo của Đảng, xây dựng các chính kinh tế của Nhà
nước Việt Nam. Nhóm chúng tôi đã quyết định chọn đề tài 

 !" để nghiên cứu.
1
2. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách tài chính, tiện tệ, tín dụng trong
các học thuyết kinh tế qua các thời kì, thực trạng vận dụng các học thuyết kinh tế để

'()%*+,
Chương này chủ yếu trình bày về các học thuyết kinh tế trong lịch sử, những nội
dung chính của từng học thuyết kinh tế, các vấn đề mà học thuyết kinh tế đã giải quyết
và những hạn chế của nó.
'(-%./012
,
Trình bày các nội dung trong học thuyết kinh tế của Marx, đặc biệt là về Tài
chính, tiền tệ, tín dụng ngân hàng. Nhấn mạnh vai trò của học thuyết này và tính ứng
dụng của nó trong thực tiễn tại Việt Nam.
'(3%4 !14546
,
Chương này chủ yếu tập trung vào bối cảnh kinh tế Việt Nam qua từng thời kỳ,
từng giai đoạn nhỏ từ những năm trước đổi mới 1986 cho đến nay. Phân tích để nhìn
thấy mỗi thời đoạn có sự khác biệt trong điều hành chính sách tài chính, tiền tệ, tín
dụng ngân hàng thông qua các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước. Từ
đó phản ánh sự vận dụng của các học thuyết vào thực tiễn Việt Nam hiện nay.
3
MỤC LỤC


 
!"#$
%&'
()
"*+,*+!
/0"*+12345(
/0"*+67/8963:;<=
+0>?/883@303A;+B+0C+0;D4)3/04EF/8,G+0HIJ
+'KLMNOPQRS"PNJ
+'KLMNOTRS"PN(

CSTC Chính sách tài chính
CSTK Chính sách tài khóa
CSTT Chính sách tiền tệ
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMQD Ngân hàng thương mại quốc doanh
ĐTPT Đầu tư phát triển
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
6
DANH MỤC BẢNG & BIỀU ĐỒ
Bảng 1: Sự mở rộng tiền gửi ngân hàng thông qua hệ thống ngân hàng 36
Bảng 2: Tỷ lệ vốn tín dụng tham gia cấu thành định mức vốn lưu động của các
doanh nghiệp 79
Bảng 3. Thị phần các ngân hàng thương mại Việt Nam thập kỷ 1993-1996 82
Bảng 4: Dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế
1991-1999 83
Biểu đồ 1: Nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng Việt Nam thập kỷ 90 (%) 83
Bảng 5: Thu ngân sách giai đoạn 2001 -2005 87
Bảng 6: Tổng chi ngân sách giai đoạn 2001 -2005 88
Bảng 7: So sánh tốc độ tăng chi đầu tư phát triển (ĐTPT) và chi thường xuyên
giai đoạn 2001-2005 88
Bảng 8: Tổng chi ngân sách nhà nước qua các năm 94
7
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ TRONG LỊCH SỬ
1. Các học thuyết kinh tế xuất hiện trước quan điểm của Marx.
),),#1'781'(,
Trường phái trọng thương là trường phái kinh tế chính trị tư sản đầu tiên, thể
hiện chính sách đặc biệt thời kỳ tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản. Những
chính sách, cương lĩnh này đề cao vai trò của Nhà nước cầm quyền trong hoạt động
kinh tế và trực tiếp phản ánh lợi ích của giai cấp tư sản thương nghiệp trong thời kỳ

trợ tối đa nhưng cấm xuất khẩu công cụ và nguyên liệu. Nhà nước thực hiện chính
sách bảo hộ để cản trở nhập khẩu dựa vào thuế quan để bảo vệ hàng hóa trong nước và
các xí nghiệp công nghiệp- công trường thủ công. Đối với nhập khẩu tán thành nhập
khẩu quy mô lớn các nguyên liệu để đem nhờ sự quản lý của nhà nước và phải tham
gia tích cực vào đời sống kinh tế để thu hút tiền tệ . Họ chỉ chú ý đến xuất khẩu vì xuất
khẩu là nguồn mang lại kim loại quý còn nhập khẩu thì rất hạn chế .Họ bảo vệ chính
sách bảo hộ: khuyến khích xuất khẩu (thông qua trợ giá) và cản trở nhập khẩu (dựa
vào thuế quan).
Có thể thấy rằng, trường phái trọng thương đã có bước tiến bộ lớn trong những
luận điểm so với những nguyên lý trong chính sách kinh tế thời Trung cổ. Ngoài ra, hệ
thống quan điểm này đã tạo những tiền đề để lý luận kinh tế cho kinh tế học sau này
khi đưa quan điểm sự giàu có không chỉ là những giá trị sử dụng mà còn là giá trị, là
tiền. Các chính sách thuế quan bảo hộ có tác dụng rút ngắn sự quá độ từ chủ nghĩa
phong kiến sang chủ nghĩa tư bản. Đồng thời, tư tưởng nhà nước can thiệp vào hoạt
động kinh tế cũng là một trong những tư tưởng tiến bộ.
Mặt khác, những luận điểm của trường phái trọng thương có rất ít tính chất lý
luận, nặng về nghiên cứu hiện tượng bên ngoài, không đi sâu vào nghiên cứu bản chất
bên trong của các hiện tượng kinh tế. Hạn chế lớn của chủ nghĩa trọng thương đó là
quá coi trọng tiền tệ, đã đứng trên lĩnh vực thô sơ của lưu thông hàng hóa để xem xét
9
nền sản xuất Tư bản chủ nghĩa bên cạnh đó còn quá đề cao vai trò của nhà nước mà
không thừa nhận các quy luật kinh tế
),-,#1'7819,
Cũng như trường phái trọng thương, trường phái trọng nông xuất hiện trong thời
kỳ chế độ phong kiến chuyển dần sang xã hội tư bản nhưng ở một giai đoạn cao hơn,
trưởng thành hơn. Chủ nghĩa trọng nông Pháp ra đời năm 1756 và tồn tại đến năm
1777, đó là thời kỳ phồn thịnh của chủ nghĩa trọng nông. Các tư tưởng trọng nông thực
sự là một trường phái, một chủ nghĩa có cấu trúc, có tính hệ thống. Chủ nghĩa trọng
nông là hệ thống quan điểm kinh tế mang tư tưởng giải phóng kinh tế nông dân khỏi
những quan hệ phong kiến. Đại diện tiêu biểu của trường phái là Francois Quesnay

Tóm lại, chủ nghĩa trọng nông đã có tiến bộ khi đã phê phán một cách khá sâu
sắc và toạn diện chủ nghĩa trọng thương. Các tư tưởng kinh tế của họ đã đặt cơ sở cho
việc phân tích nền sản xuất tư bản chủ nghĩa về sau. Họ đã nêu những vấn đề có giá trị
cho đến ngày nay như: đề cao cạnh tranh tự do, chống đặc quyền, bảo vệ lợi ích của
người sản xuất đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, chủ nghĩa trọng nông vẫn
còn nhiều hạn chế. Quan niệm về sản xuất của họ bị bó hẹp chỉ trong lĩnh vực nông
nghiệp mà không thấy được vai trò của công nghiệp, thương mại, của kinh tế thị
trường mà có xu thế thuần nông.
),3,':;5<=,
Kinh tế chính trị tư sản Anh mở đầu là học thuyết của William Petty (1623-
1687), tiếp đó là Adam Smith (1723-1799), và cuối cùng là David Ricardo (1772-
1823). Các học thuyết tư sản cổ điển Anh ra đời đã khắc phục những khiếm khuyết mà
hai học thuyết trước đó chưa giải quyết được là khái niệm giá trị, vì thế lý luận về giá
trị lao động được cho là thành tựu quan trọng nhất của nhóm các học thuyết này. Tuy
nhiên về cơ bản họ cũng đưa ra những quan điểm rõ ràng của mình về tiền tệ, chính
sách tiền tệ và chính sách tài chính của một quốc gia đối với nền kinh tế thị trường,
góp phần xây dựng nền tảng cho những khái niệm hoàn chỉnh về sau.
1.3.1. W.Petty.
W.Petty cho rằng vàng và bạc là hai kim loại giữ vai trò tiền tệ trong nền kinh tế,
giá cả tự nhiên của tiền tệ là do giá cả của vật giữ vai trò tiền tệ qui định. Ông là người
11
đầu tiên nghiên cứu số lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông thông qua mối quan hệ
với lưu thông hàng hóa và tốc độ luân chuyển tiền tệ. Quan điểm ông đưa ra là thời
gian thanh toán càng dài thì lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông càng lớn. Đứng trên
lập trường xem tiền tệ chỉ là cộng cụ của lưu thông hàng hóa, ông phê phán lối tích trữ
tiền tệ quá độ của chủ nghĩa trọng thương, và cho rằng nên duy trì mức cung tiền tệ ở
mức vừa đủ.
1.3.2. A.Smith.
Là người có công ghi nhận tất cả quan điểm của các học thuyết trước về tiền tệ,
A.Smith đưa ra sự phát triển hình thái của tiền tệ từ súc vật đến kim loại quý làm vật

với tăng số lượng tiền, cho thấy sự tác động qua lại giữa giá cả hàng hóa và lượng
cung tiền. Hơn thế nữa, ông vận dụng lý luận giá trị lao động để đưa ra bản chất của
tiền tệ, tiền giữ vai trò thức đo giá trị của hàng hóa. Đây là cơ sở được Marx duy trì và
sử dụng làm nền tảng cho các lý luận sau này của mình. Ở học thuyết này, lần đầu tiên
thấy mầm mống sự can thiệp của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. Đối với
thuế, quan điểm của ông nổi trội hơn A.Smith ở chổ ông đánh giá “ thuế cấu thành cái
phần của Chính phủ trong sản phẩm xã hội” và “tất cả các thứ thuế đều lấy trong thu
nhập ròng để trả”. Cũng chỉ ra một sự tăng thuế sẽ làm giảm lượng tư bản tích lũy,
không khuyến khích sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, làm giảm tốc độ sản sinh của cải.
Tuy nhiên, D.Ricardo cũng chỉ dừng lại ở mức nghiên cứu và chưa thể đưa ra cách giải
quyết những vấn đề này.
Tóm lại, ưu điểm của các học thuyết kinh tế tư sản cổ điển Anh đa phần đưa ra
được các hình thái tiền tệ và chức năng lưu thông của tiền tệ, cũng như khẳng định vai
trò của thuế trong chính sách tài chính của một quốc gia. Bên cạnh đó còn những điểm
hạn chế, như chưa đưa ra được các chức năng khác của tiền tệ, không chỉ ra được vai
trò của Nhà nước đến nền kinh tế thông qua các công cụ điều hành chính sách tiền tệ
mà để mặc sự tự vận động của hàng hóa.
),>,<':
1.4.1. Sismondo.
Nghiên cứu của Sismondo giai đoạn đầu là ủng hộ tự do kinh tế và không coi
trọng vai trò của nhà nước, đi theo lý luận của Smith, tuy nhiên do bối cảnh lịch sử lúc
13
bấy giờ khiến ông quay sang phê phán gay gắt chủ nghĩa tư bản, và đưa ra những lý
luận để bảo vệ lợi ích cho những người công nhân lao động. Đối với vấn đề tiền tệ,
ông cho rằng nó chỉ đóng vai trò là một thước đo giá trị và là công cụ để giúp tra đổi
hàng hóa được thuận lợi hơn. Ông đồng nhất tư bản với tiền tệ và gắn nền kinh tế sản
xuất tư bản với thị trường tiền tệ. Tuy đứng trên lập trường người lao động ông nhận
thấy được mối quan hệ cũng như mâu thuẫn xảy ra bên trong nền sản xuất tư bản,
nhưng nhìn chung nội dung học thuyết của ông còn mang tính phiến diện chưa vạch rõ
được bản chất của tiền tệ và qui chụp sự phát triển của chủ nghĩa tư bản là do sự sai

đều hướng tới xã hội không còn nhà nước, các vấn đề chính sách tiền tệ cũng theo đó
không được chú trọng. Cụ thể
1.5.1. Quan điểm kinh tế của Saint Simon.
Đề cao vai trò của "nhà công nghiệp". Phân chia xã hội thành ba giai cấp: nông
gia, nhà công nghiệp và giai cấp không sinh lợi (quý tộc, thầy tu )
Tương lai sẽ không còn Nhà nước, chính quyền sẽ được chuyển vào tay các nhà
công nghiệp và các nhà bác học. Con đường cải tạo xã hội: biện pháp tinh thần, giáo
dục đạo đức cho mọi người, chứ không nhằm vào việc cải tạo các cơ sở kinh tế.
1.5.2 Quan điểm kinh tế của Charles Fourier.
Sự vô chính phủ trong sản xuất dẫn đến cạnh tranh tự do, là mầm mống của
khủng hoảng cũng như sự bần cùng của người lao động
Lý thuyết "lao động hấp dẫn": dưới chủ nghĩa xã hội, lao động không những là
một sự cần thiết mà còn là nhu cầu của con người. Con người lao động là vì thích thú,
nên cần tạo điều kiện cho họ tự do chọn lựa, di chuyển công việc. Coi nông nghiệp là
cơ sở của nền sản xuất xã hội, chứ không phải là công nghiệp. Nâng cao năng suất lao
động và sự hăng say lao động của con người mới trong xã hội mới, từ đó mới có khả
năng xóa bỏ nhà nước, quân đội, cảnh sát
15
1.5.3. Quan điểm kinh tế của Robert Owen.
Phê phán CNTB, đặc biệt trong lĩnh vực phân phối, nơi các kẻ trung gian làm
tăng chi phí. Ông đề cao trao đổi bằng hiện vật trực tiếp. Cơ sở của chế độ sở hữa công
cộng trong xã hội tương lai là "tiền lao động" và "trao đổi công bằng", điều kiện cho
việc thực hiện chế độ này là sự dồi dào về sản phẩm.Owen xây dựng các mô hình xí
nghiệp có tính chất XHCN, xây dựng thị trường công bằng và "tiền lao động" nhưng
thất bại
2. Các học thuyết kinh tế xuất hiện sau quan điểm của Marx.
-,),#1'78;5<,
Trường phái tân cổ điển (cổ điển mới) là trường phái bao gồm các lý thuyết kinh
tế ủng hộ tự do kinh doanh, là sự tiếp nối tư tưởng đề cao “bàn tay vô hình”. Những
nhà kinh tế thuộc trường phái cổ điển mới tin tưởng vào sực mạnh của nền kinh tế thị

và thuyết cân bằng tổng quát” của Leon Walras thuộc trường phái Lausanne và lý
thuyết giá cả của Alfred Marshall thuộc trường phái Cambridge trọng tâm thiên về thị
trường và cơ chế hình thành giá cả thị trường, qua đó thấy được vai trò của chính sách
tài chính, tiền tệ ở giai đoạn này.
2.1.1. Lý thuyết “Giá cả và thuyết cân bằng tổng quát” của Leon Walras.
Lý thuyết giá cả: Khi nghiên cứu trao đổi giữa hai sản phẩm: “ giá cả hay tương
quan trao đổi, ngang bằng với tương quan ngược đảo của số hàng hóa trao đổi. Cả hai
đều tỷ lệ nghịch.”
Ví dụ: trong trao đổi 2 hàng hóa X, Y với khối lượng hàng hóa X là Qx, khối
lượng hàng hóa Y là Qy. Giá cả hàng hóa X là Px, giá cả hàng hóa Y là Py.
Ta có đẳng thức: Qx/Qy = Py/Px
Thuyết cân bằng tổng quát: Kế thừa tư tưởng tự do kinh tế của A.Smith, ông đưa
ra lí thuyết cân bằng tổng quát trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh. Trong nền
kinh tế thị trường có ba thị trường chủ yếu: thị trường hàng hóa và dịch vụ (HH&DV),
thị trường vốn. thị trường lao động. Ba thị trường này vốn dĩ là độc lập với nhau,
nhưng lại được liên kết với nhau bởi các doanh nhân. Đối với doanh nhân, chi phí sản
xuất = lãi suất + tiền lương. Giả sử doanh nhân bán hàng với giá cả > chi phí sản xuất,
thì công việc kinh doanh có lãi. Tiếp tục mở rộng qui mô sản xuất, phải vay thêm tư
bản, thuê thêm lao động. Làm cho lãi suất và tiền lương đều tăng lên. Đồng thời cung
về sản phẩm cũng tăng lên, giá cả sẽ giảm xuống. Đến một lúc nào đó, giá cả = chi phí
17
sản xuất, không có lãi, ngừng sản xuất. Không vay thêm tư bản, không thuê thêm công
nhân, không tăng cung về hàng hóa. Do đó lãi suất ổn định, tiền lương ổn định & giá
cả ổn định. Ba thị trường ở trạng thái cân bằng, nền kinh tế ở trạng thái cân bằng tổng
quát. Điều kiện để dẫn tới sự cân bằng tổng quát là giá cả = chi phí sản xuất. Theo
Leon Walras thì trong nền kinh tế thị trường, điều kiện này được hình thành một cách
tự phát do tác động của cung và cầu.
2.1.2. Lý thuyết giá cả của Mashall.
Mashall đưa ra lý thuyết giá cả nhằm chứng minh cho lí thuyết bàn tay vô hình
của A.Smith. Theo ông, trên thị trường, giá cả được hình thành một cách tự phát do tác

-,-,#1'78GGHI;5<
Trường phái này ra đời vào những năm 1930, khi nền kinh tế TB đang rơi vào
khủng hoảng nghiêm trọng, các lý thuyết kinh tế của trường phái cổ điển, tân cổ điển
không còn phù hợp. Công trình này có tính chất phê phán những quan điểm kinh tế
trước đó, đặc biệt là quan điểm cho rằng "bản thân cung sẽ tạo ra cầu của chính nó."
Trong tác phẩm này, Keynes đã đưa ra những nhân tố xác định mức sản lượng và việc
làm trong một quốc gia. Trường phái này đã góp phần cung cấp một nền tảng lý thuyết
cho các động thái mang tính chính sách của chính phủ trong việc ngăn chặn cuộc Đại
suy thoái, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở hầu hết các quốc gia trong những năm 30 của
thế kỷ trước. Nội dung của học thuyết này cũng có khá nhiều đặc điểm cần hết sức lưu
ý.
Một là, đối lập với trường phái cổ điền, Keynes không ủng hộ quan điểm tự do
kinh tế về sự cân bằng của nên kinh tế dựa trên sự tự điều tiết của thỉ thị trường mà
không có sự can thiệp của nhà nước. Quan điểm của Keynes cho rằng khủng hoảng
kinh tế đang diễn ra ngày càng trầm trọng không phải là hiện tượng nội sinh của chủ
nghĩa tư bản là do thiếu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế. Theo ông, cần tập
trung vào giải quyết hai vấn đề chính là tăng trưởng và việc làm trên cơ sở điều tiết
của nhà nước.
Hai là, Keynes chỉ ra rằng điều kiện đảm bảo cho tái sản xuất bình thường thức
đẩy tăng trưởng kinh tế giải quyết khủng hoảng và thất nghiệp là đầu tư bằng tiết
kiệm, khuyến khích đầu tư và giảm tiết kiệm.
19
Ba là, lý thuyết của Keynes là lý thuyết trọng cầu. Ông đánh giá cao vai trò của
tiêu dùng của lĩnh vực trao đổi, coi đây là nhiệm vụ hàng đầu mà các nhà kinh tế học
phải giải quyết. Khi việc làm tăng lên thì thu nhập tăng, từ đó kéo tiêu dùng tăng theo.
Song, sự chủ quan, tính tâm lý của người tiêu dùng khiến cho mức tăng của tiêu dùng
không cao bằng mức tăng thu nhập, làm cho cầu hiệu quả giảm xuống. Và đây cũng
chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, thất nghiệp trì trệ trong nên kinh tế tư bản
chủ nghĩa, từ đó, Keynes đề xuất tăng chi tiêu, thực hiện các biện pháp kích cầu có
hiệu quả.

cộng bơm thêm vào dòng chảy thu nhập, chi tiêu của chính phủ có thể lấy được từ
đánh thuế (làm giảm tiêu dùng, nhưng ít hơn số thuế đánh), bằng việc bán trái phiếu
chính phủ… ành hưởng dinh ra từ việc làm và thu nhập của tất cả những biện pháp
thay thế này phải đánh giá và sau đó phải có hành động đạt đến sự ổn định kinh tế.
Học thuyết kinh tế Keynes đã có những tác động tích cực đối với sự phát triển
kinh tế ở các nước tư bản và là cơ sở chủ đạo của các chính sách kinh tế vĩ mô ở các
nước tư bản sau chiến tranh thế giới thứ 2.
- Học thuyết kinh tế của Keynes đã có tác dụng tích cực nhất định đối với sự phát
triển kinh tế trong các nước tư bản. Góp phần thúc đẩy kinh tế của các nước tư
bản phát triển, hạn chế được khủng hoảng và thất nghiệp, nhất là trong những
năm 50 – 60 của thế kỷ XX, tốc độ phát triển kinh tế của nhiều nước rất cao
(tạo nên những thần kì: Nhật, Tây Đức, Pháp, Thụy Sĩ, ). Học thuyết này giữ
vị trí thống trị trong hệ thống tư tưởng kinh tế tư sản trong một thời gian dài.
Các khái niệm được sử dụng trong phân tích kinh tế vĩ mô ngày nay. “Nó là liều
thuốc chữa cho chủ nghĩa tư bản Tây u khỏi ốm và nền kinh tế Mỹ lành mạnh”.
- Học thuyết này là cơ sở chủ đạo của các chính sách kinh tế vĩ mô ở các nước tư
bản phát triển từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Thậm chí CHLB Đức dựa vào
học thuyết Keynes ban hành đạo luật có tên “Luật về ổn định hóa nền kinh tế”
(1968) tạo khung pháp lí cho chính phủ toàn quyền điều hành nền kinh tế nhằm
đạt 4 mục đích: tăng trưởng, thất nghiệp thấp, chống lạm phát và cân bằng
thanh toán.
Tuy nhiên, học thuyết này vẫn vấp phải rất nhiều những hạn chế như sau:
21
- Mục đích chống khủng hoảng và thất nghiệp chưa làm được (chỉ tác dụng tạm
thời), biểu hiện: Thất nghiệp vẫn duy trì ở mức cao, khủng hoảng không trầm
trọng như trước nhưng vẫn xảy ra thường xuyên, thời gian giữa các cuộc khủng
hoảng kinh tế ngắn hơn.
- Ý đồ dùng lãi suất để điều chỉnh chu kỳ kinh tế tư bản chủ nghĩa không có hiệu
quả, biểu hiện: Chính sách lạm phát có mức độ (có kiểm soát) làm cho lạm phát
càng trầm trọng, tác hại lớn hơn cái lợi nó mang lại.

Giới thiệu về học thuyết: lập trường cơ bản của phái Trọng tiền là phải thả lỏng
nền kinh tế và chống lại sự can thiệp của chính phủ vào sự vận động của nền kinh tế.
Những người theo phái này chủ trương vai trò của chính phủ là duy trì một tốc độ tăng
tiền tệ ổn định hằng năm, và điều đó sẽ đảm bảo một sự tăng trưởng kinh tế vững chắc
với giá cả ổn định.
Trường phái trọng tiền hiện đại ở Mỹ chủ trương tự do hóa nền kinh tế, đồng thời
nhấn mạnh vai trò tự điều tiết của thị trường.
- Về tình trạng nền kinh tế: Cho rằng giá cả và tiền lương trong điều kiện mới là
tương đối linh hoạt, mềm dẻo.
- Thị trường vẫn có khả năng tự động điều tiết. Trường phái này cho rằng cơ chế
thị trường tự nó đã đảm bảo sự cân bằng cung cầu tổng quát ở gần sát với mức
sản lượng cân bằng.
- Do thị trường có khả năng tự điều chỉnh nên nền kinh tế có khả năng phát huy
tiềm năng của mình. GNP thực tế gần sát GNP tiềm năng. Do đó đường tổng
mức cung không phải là một khoảng nằm ngang mà là một đường dốc đứng gần
với GNP (GNP: tổng thu nhập quốc dân)
- Tổng cầu: Khi đường tổng cung là một đường dốc đứng, tổng cầu thay đổi thì
nó không thay đổi hình dáng kể GNP thực tế mà chỉ làm thay đổi giá cả.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu: Trường phái này cho rằng chính sách tài
chính không làm ảnh hưởng nhiều đến tổng cầu mà nhân tố quan trọng quyết
định chính là khối lượng tiền tệ (ký hiệu: M) nói đúng hơn là tổng mức cung về
tiền tệ.
Theo quan điểm trọng tiền hiện đại ở Mỹ: Tổng cung tiền tệ là một nhân tố chủ
quan. Vì vậy, nó thường không ổn định và nó thường đặc biệt dễ bị chi phối bởi nhân
tố chính trị như là chu kỳ kinh doanh chính trị (chu kỳ bầu cử tổng thống, nghị sĩ quốc
23
hội ). Trong khi đó tổng mức cầu về tiền tệ là một đại lượng khách quan, tương đối
ổn định vì nó phụ thuộc vào GNP tiềm năng.
Trường phái trọng tiền hiện đại Mỹ quan tâm đến căn bệnh chủ yếu của nền kinh
tế: không phải là suy thoái và thất nghiệp mà căn bệnh nguy hiểm nhất là lạm phát. Họ

Đây là lý thuyết nổi tiếng của Friedman và của phái trọng tiền. Nội dung cơ bản
của lý thuyết này có thể khái quát thành những điểm dưới đây:
- Thứ nhất, nhân tố quyết định sự tăng trưởng của sản lượng quốc gia là mức
cung tiền tệ.
Theo M.Friedman và những người theo phái trọng tiền hiện đại, các biến số vĩ
mô như: giá cả, sản lượng, công ăn việc làm phụ thuộc vào mức cung tiền tệ chứ
không phải vào chính sách tài chính (thuế và chi tiêu ngân sách) của trường phái
Keynes.
Mức cung tiền tệ thường không ổn định và phụ thuộc vào quyết định chủ quan
của chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Nếu ngân hàng trung ương phát hành
không đủ tiền thì dễ dẫn đến khủng hoảng kinh tế, còn nếu phát hành thừa tiền thị lại
bị lạm phát.
Mức cầu tiền tệ có tính ổn định cao, nó được quyết định bởi thu nhập. Mức cầu
danh nghĩa về tiền đuợc xác định bởi công thức:
Md = f(Yn,i)
Trong đó:
- Md: Mức cầu danh nghĩa về tiền tệ
- Yn: Thu nhập danh nghĩa
- i: Lãi suất danh nghĩa
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status