NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI:
CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ, TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG QUA CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ VÀ
NHẬN THỨC VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Nhóm thực hiện: Nhóm 5
Lớp: Cao học – K15A
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Văn Bảng
TP. HỒ CHÍ MINH, 01 / 2014
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, vai trò của các
chính sách kinh tế, mà cụ thể là chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng có ý nghĩa rất
lớn trong việc đảm bảo xây dựng thành công một nền kinh tế phát triển nhanh, bền
vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Một chính sách kinh tế đúng đắn và phù hợp
sẽ là cơ sở vững chắc cho sự phát triển kinh tế, một chính sách kinh tế không phù hợp,
chủ quan duy ý chí sẽ làm cho nền kinh tế trở nên trì trệ thậm chí là phát triển thụt lùi.
Xuất phát điểm quan trọng nhất, nền tảng cơ bản nhất để xây dựng một chính
sách kinh tế chính là các học thuyết kinh tế. Trải qua quá trình phát triển hơn 6 thế kỉ
bắt đầu từ học thuyết trọng thương (thế kỉ XV), là học thuyết đầu tiên được xây dựng
thành một hệ thống lí luận hoàn chỉnh đến học thuyết kinh tế hiện đại hiện nay, các
học thuyết kinh tế khác nhau đã được hình thành và khẳng định vị trí của mình trong
một giai đoạn nhất định. Điều nổi bật của các học thuyết kinh tế này là các học thuyết
kinh tế sau có thể phủ định học thuyết kinh tế trước. Tuy nhiên cũng có những học
thuyết không hoàn toàn phủ nhận học thuyết kinh tế trước mà là sự kế thừa và phát
huy cao hơn học thuyết trước đó. Do vậy tất cả các học thuyết kinh tế đều có ý nghĩa
thực tiễn nhất định trong từng giai đoạn cũng như quá trình phát triển chung của nền
kinh tế ở mỗi quốc gia.
Thấy được tầm quan trọng của chính sách kinh tế đối với nền kinh tế của một
Thứ tư: Đưa ra những thành tựu đạt được cũng những hạn chế trong việc điều
hành chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng cần được khắc phục trong thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, thống kê số liệu, tổng hợp, phân tích,
so sánh đối chiếu kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn đồng thời có tham khảo các tài
3
liệu, số liệu, một số công trình nghiên cứu của một số tác giả liên quan đến nội dung
đề tài.
6. Kết cấu đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng và biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Giới thiệu về các học thuyết kinh tế.
Chương này chủ yếu trình bày về các học thuyết kinh tế trong lịch sử, những nội
dung chính của từng học thuyết kinh tế, các vấn đề mà học thuyết kinh tế đã giải quyết
và những hạn chế của nó.
Chương 2:Học thuyết kinh tế của Marx về tài chính, tiền tệ và tín dụng ngân
hàng.
Trình bày các nội dung trong học thuyết kinh tế của Marx, đặc biệt là về Tài
chính, tiền tệ, tín dụng ngân hàng. Nhấn mạnh vai trò của học thuyết này và tính ứng
dụng của nó trong thực tiễn tại Việt Nam.
Chương 3: Vận dụng các học thuyết kinh tế vào Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.
Chương này chủ yếu tập trung vào bối cảnh kinh tế Việt Nam qua từng thời kỳ,
từng giai đoạn nhỏ từ những năm trước đổi mới 1986 cho đến nay. Phân tích để nhìn
thấy mỗi thời đoạn có sự khác biệt trong điều hành chính sách tài chính, tiền tệ, tín
dụng ngân hàng thông qua các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước. Từ
đó phản ánh sự vận dụng của các học thuyết vào thực tiễn Việt Nam hiện nay.
4
MỤC LỤC
TP. HỒ CHÍ MINH, 01 / 2014 1
Bảng 7: So sánh tốc độ tăng chi đầu tư phát triển (ĐTPT) và chi thường xuyên giai đoạn 2001-2005.
88
4. Từ năm 2007 đến nay ( từ Đại hội Đảng lần XI đến nay) 91
Bảng 8: Tổng chi ngân sách nhà nước qua các năm 93
ĐVT: Tỷ đồng 93
KẾT LUẬN CHUNG 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Giải thích
XHCN Xã hội chủ nghĩa
NSNN Ngân sách nhà nước
CSTC Chính sách tài chính
CSTK Chính sách tài khóa
CSTT Chính sách tiền tệ
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMQD Ngân hàng thương mại quốc doanh
ĐTPT Đầu tư phát triển
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
7
DANH MỤC BẢNG & BIỀU ĐỒ
Bảng 1: Sự mở rộng tiền gửi ngân hàng thông qua hệ thống ngân hàng 36
Bảng 2: Tỷ lệ vốn tín dụng tham gia cấu thành định mức vốn lưu động của các
doanh nghiệp 79
Bảng 3. Thị phần các ngân hàng thương mại Việt Nam thập kỷ 1993-1996 82
Bảng 4: Dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế
1991-1999 83
Biểu đồ 1: Nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng Việt Nam thập kỷ 90 (%) 83
Bảng 5: Thu ngân sách giai đoạn 2001 -2005 87
9
Giai đoạn đầu chính là giai đoạn tích lũy tiền tệ của chủ nghĩa tư bản, với khuynh
hướng chung là biện pháp hành chính, tức là có sự can thiệp của nhà nước đối với vấn
đề kinh tế.
1.1.2. Hậu trọng thương.
Giai đoạn này bắt đầu từ cuối thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII, với những đại
diện tiêu biểu là Thomas Mun (1571 – 1641), Antoine de Montchrestien (1575 –
1621).
Thời kỳ này chủ nghĩa trọng thương được coi là chủ nghĩa trọng thương thực thụ.
Do sự phát triển của hàng hóa sản xuất trong nước và thế giới, học thuyết tiền tệ đã
được thay thế bằng học thuyết thương mại. Học thuyết này bên cạnh chú trọng lưu
thông tiền tệ còn chú trọng cả lưu thông hàng hóa. Việc xuất khẩu hàng hóa được hỗ
trợ tối đa nhưng cấm xuất khẩu công cụ và nguyên liệu. Nhà nước thực hiện chính
sách bảo hộ để cản trở nhập khẩu dựa vào thuế quan để bảo vệ hàng hóa trong nước và
các xí nghiệp công nghiệp- công trường thủ công. Đối với nhập khẩu tán thành nhập
khẩu quy mô lớn các nguyên liệu để đem nhờ sự quản lý của nhà nước và phải tham
gia tích cực vào đời sống kinh tế để thu hút tiền tệ . Họ chỉ chú ý đến xuất khẩu vì xuất
khẩu là nguồn mang lại kim loại quý còn nhập khẩu thì rất hạn chế .Họ bảo vệ chính
sách bảo hộ: khuyến khích xuất khẩu (thông qua trợ giá) và cản trở nhập khẩu (dựa
vào thuế quan).
Có thể thấy rằng, trường phái trọng thương đã có bước tiến bộ lớn trong những
luận điểm so với những nguyên lý trong chính sách kinh tế thời Trung cổ. Ngoài ra, hệ
thống quan điểm này đã tạo những tiền đề để lý luận kinh tế cho kinh tế học sau này
khi đưa quan điểm sự giàu có không chỉ là những giá trị sử dụng mà còn là giá trị, là
tiền. Các chính sách thuế quan bảo hộ có tác dụng rút ngắn sự quá độ từ chủ nghĩa
phong kiến sang chủ nghĩa tư bản. Đồng thời, tư tưởng nhà nước can thiệp vào hoạt
động kinh tế cũng là một trong những tư tưởng tiến bộ.
Mặt khác, những luận điểm của trường phái trọng thương có rất ít tính chất lý
luận, nặng về nghiên cứu hiện tượng bên ngoài, không đi sâu vào nghiên cứu bản chất
bên trong của các hiện tượng kinh tế. Hạn chế lớn của chủ nghĩa trọng thương đó là
phí cho nông nghiệp. Quan điểm về tài chính, đặc biệt là vấn đề thuế khóa, phân phối
thu nhập nên ưu đãi cho nông nghiệp, nông dân và chủ trại. Chủ nghĩa trọng nông
11
chống lại tất cả những đặc quyền về thuế và đòi hỏi thứ thuế thống nhất đối với địa
chủ, tăng lữ, quý tộc cũng như những nhà tư sản có của. Cần chống lại chính sách giá
cả nông sản thấp để tích lũy trên lưng nông dân.
Trong khi chủ nghĩa trọng thương coi trọng ngoại thương, nhưng họ hạn chế
nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu, chủ trương xuất siêu để nhập vàng vào các kho
chứa quốc gia, do đó dẫn tới một chủ nghĩa bào hộ không hiệu quả. Ngược lại, chủ
nghĩa trọng nông chủ trương tự do lưu thông, tự do thương mại. Khuyến khích các chủ
trang trại xuất khẩu nông sản đã tái chế, không nên xuất khẩu nguyên liệu thô : tiêu thụ
như thế nào phải sản xuất cái dể xuất khẩu như thế ấy.
Tóm lại, chủ nghĩa trọng nông đã có tiến bộ khi đã phê phán một cách khá sâu
sắc và toạn diện chủ nghĩa trọng thương. Các tư tưởng kinh tế của họ đã đặt cơ sở cho
việc phân tích nền sản xuất tư bản chủ nghĩa về sau. Họ đã nêu những vấn đề có giá trị
cho đến ngày nay như: đề cao cạnh tranh tự do, chống đặc quyền, bảo vệ lợi ích của
người sản xuất đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, chủ nghĩa trọng nông vẫn
còn nhiều hạn chế. Quan niệm về sản xuất của họ bị bó hẹp chỉ trong lĩnh vực nông
nghiệp mà không thấy được vai trò của công nghiệp, thương mại, của kinh tế thị
trường mà có xu thế thuần nông.
1.3. Các học thuyết kinh tế tư sản cổ điển Anh.
Kinh tế chính trị tư sản Anh mở đầu là học thuyết của William Petty (1623-
1687), tiếp đó là Adam Smith (1723-1799), và cuối cùng là David Ricardo (1772-
1823). Các học thuyết tư sản cổ điển Anh ra đời đã khắc phục những khiếm khuyết mà
hai học thuyết trước đó chưa giải quyết được là khái niệm giá trị, vì thế lý luận về giá
trị lao động được cho là thành tựu quan trọng nhất của nhóm các học thuyết này. Tuy
nhiên về cơ bản họ cũng đưa ra những quan điểm rõ ràng của mình về tiền tệ, chính
sách tiền tệ và chính sách tài chính của một quốc gia đối với nền kinh tế thị trường,
góp phần xây dựng nền tảng cho những khái niệm hoàn chỉnh về sau.
1.3.1. W.Petty.
- Đưa ra thời gian và phương thức thu thuế hợp lý
- Chính phủ chi ít nhất vào việc thu thuế
13
1.3.3. David Ricardo.
Nếu như trong học thuyết kinh tế của W.Petty và A.Smith đề cập rất ít về tiền tệ,
chính sách tiền tệ cũng như chính sách tài chính và hầu như không có sự xuất hiện của
ngân hàng, thì ở học thuyết này nội dung giữ vị trí quan trọng chính là tiền tệ và ngân
hàng. Theo D.Ricardo, vàng được coi là cơ sở của tiền tệ, và để thuận lợi cho việc lưu
thông thì Ngân hàng nên phát hành tiền giấy được bảo đảm bằng lượng vàng tương
ứng nhất định. Và việc qui định số lượng vàng bao nhiêu cho mệnh giá tiền giấy do
Nhà nước và Ngân hàng quyết định. Cở bản vẫn dựa trên hai học thuyết trước là coi
trọng vai trò của lưu thông tiền tệ, nhưng ông lại cho rằng giá cả hàng hóa tăng tỷ lệ
với tăng số lượng tiền, cho thấy sự tác động qua lại giữa giá cả hàng hóa và lượng
cung tiền. Hơn thế nữa, ông vận dụng lý luận giá trị lao động để đưa ra bản chất của
tiền tệ, tiền giữ vai trò thức đo giá trị của hàng hóa. Đây là cơ sở được Marx duy trì và
sử dụng làm nền tảng cho các lý luận sau này của mình. Ở học thuyết này, lần đầu tiên
thấy mầm mống sự can thiệp của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. Đối với
thuế, quan điểm của ông nổi trội hơn A.Smith ở chổ ông đánh giá “ thuế cấu thành cái
phần của Chính phủ trong sản phẩm xã hội” và “tất cả các thứ thuế đều lấy trong thu
nhập ròng để trả”. Cũng chỉ ra một sự tăng thuế sẽ làm giảm lượng tư bản tích lũy,
không khuyến khích sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, làm giảm tốc độ sản sinh của cải.
Tuy nhiên, D.Ricardo cũng chỉ dừng lại ở mức nghiên cứu và chưa thể đưa ra cách giải
quyết những vấn đề này.
Tóm lại, ưu điểm của các học thuyết kinh tế tư sản cổ điển Anh đa phần đưa ra
được các hình thái tiền tệ và chức năng lưu thông của tiền tệ, cũng như khẳng định vai
trò của thuế trong chính sách tài chính của một quốc gia. Bên cạnh đó còn những điểm
hạn chế, như chưa đưa ra được các chức năng khác của tiền tệ, không chỉ ra được vai
trò của Nhà nước đến nền kinh tế thông qua các công cụ điều hành chính sách tiền tệ
mà để mặc sự tự vận động của hàng hóa.
1.4. Các học thuyết tiểu tư sản
vẫn còn nhiều những hạn chế như hiểu sai về bản chất tiền tệ và tín dụng, và mới chỉ
chỉ ra được mâu thuẫn mà chưa đưa ra được một cách giải quyết hợp lý.
15
1.5. Học thuyết kinh tế Chủ nghĩa xã hội không tưởng thế kỷ XIX.
Chủ nghĩa xã hội không tưởng là học thuyết kinh tế thể hiện sự phản kháng của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại chế độ tư bản và tìm đường xây
dựng xã hội mới tốt đẹp hơn.
Vạch rõ mâu thuẫn của CNTB, sự kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển và cần
thay thế bằng xã hội mới. Tuy nhiên con đường đề xuất xây dựng xã hội mới chỉ có
tính không tưởng như tuyên truyền, chờ mong vào lòng từ thiện của nhà tư bản, coi tư
tưởng về CNXH là tôn giáo mới, họ chưa thấy được sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô
sản, vai trò của quần chúng nhân dân. Nhìn chung các quan điểm trong học thuyết này
đều hướng tới xã hội không còn nhà nước, các vấn đề chính sách tiền tệ cũng theo đó
không được chú trọng. Cụ thể
1.5.1. Quan điểm kinh tế của Saint Simon.
Đề cao vai trò của "nhà công nghiệp". Phân chia xã hội thành ba giai cấp: nông
gia, nhà công nghiệp và giai cấp không sinh lợi (quý tộc, thầy tu )
Tương lai sẽ không còn Nhà nước, chính quyền sẽ được chuyển vào tay các nhà
công nghiệp và các nhà bác học. Con đường cải tạo xã hội: biện pháp tinh thần, giáo
dục đạo đức cho mọi người, chứ không nhằm vào việc cải tạo các cơ sở kinh tế.
1.5.2 Quan điểm kinh tế của Charles Fourier.
Sự vô chính phủ trong sản xuất dẫn đến cạnh tranh tự do, là mầm mống của
khủng hoảng cũng như sự bần cùng của người lao động
Lý thuyết "lao động hấp dẫn": dưới chủ nghĩa xã hội, lao động không những là
một sự cần thiết mà còn là nhu cầu của con người. Con người lao động là vì thích thú,
nên cần tạo điều kiện cho họ tự do chọn lựa, di chuyển công việc. Coi nông nghiệp là
cơ sở của nền sản xuất xã hội, chứ không phải là công nghiệp. Nâng cao năng suất lao
động và sự hăng say lao động của con người mới trong xã hội mới, từ đó mới có khả
năng xóa bỏ nhà nước, quân đội, cảnh sát
16
cầu và số lượng vật phẩm hiện có quyết định.
17
- Giá trị trao đổi được hình thành do sự đánh giá chủ quan của người mua, người
bán về công dụng của hàng hóa.
- Giải thích được tại sao vật càng khan hiếm thì giá trị trao đổi càng cao (dựa trên
quy luật ích lợi biên tiệm giảm dần).
- Giá thị trường là kết quả sự va chạm giữa giá cung với giá cầu, va chạm giữa
cung với cầu.
- Giá cả tỉ lệ thuận với khối lượng tiền đưa vào trong lưu thông.
Trường phái “Tân cổ điển” phát triển ở nhiều nước, điển hình như trường phái
Thành Vienna (Áo), trường phái Colombia (Mỹ), trường phái Lausanne (Thụy Sĩ),
trường phái Cambridge (Anh). Trong các trường phái trên, thì hai lý thuyết : “Giá cả
và thuyết cân bằng tổng quát” của Leon Walras thuộc trường phái Lausanne và lý
thuyết giá cả của Alfred Marshall thuộc trường phái Cambridge trọng tâm thiên về thị
trường và cơ chế hình thành giá cả thị trường, qua đó thấy được vai trò của chính sách
tài chính, tiền tệ ở giai đoạn này.
2.1.1. Lý thuyết “Giá cả và thuyết cân bằng tổng quát” của Leon Walras.
Lý thuyết giá cả: Khi nghiên cứu trao đổi giữa hai sản phẩm: “ giá cả hay tương
quan trao đổi, ngang bằng với tương quan ngược đảo của số hàng hóa trao đổi. Cả hai
đều tỷ lệ nghịch.”
Ví dụ: trong trao đổi 2 hàng hóa X, Y với khối lượng hàng hóa X là Qx, khối
lượng hàng hóa Y là Qy. Giá cả hàng hóa X là Px, giá cả hàng hóa Y là Py.
Ta có đẳng thức: Qx/Qy = Py/Px
Thuyết cân bằng tổng quát: Kế thừa tư tưởng tự do kinh tế của A.Smith, ông đưa
ra lí thuyết cân bằng tổng quát trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh. Trong nền
kinh tế thị trường có ba thị trường chủ yếu: thị trường hàng hóa và dịch vụ (HH&DV),
thị trường vốn. thị trường lao động. Ba thị trường này vốn dĩ là độc lập với nhau,
nhưng lại được liên kết với nhau bởi các doanh nhân. Đối với doanh nhân, chi phí sản
xuất = lãi suất + tiền lương. Giả sử doanh nhân bán hàng với giá cả > chi phí sản xuất,
thì công việc kinh doanh có lãi. Tiếp tục mở rộng qui mô sản xuất, phải vay thêm tư
là sự tác động giữa cung và cầu, hình thành nên giá cả cân bằng. Quá trình tác động
giữa giá cung và giá cầu đã hình thành nên giá cả cân bằng. Sự tác động của cung cầu
và giá cả thị trường sẽ tự điều tiết sản xuất và tiêu dùng, tạo nên sự cân đối trên thị
19
trường. Bởi vậy, lý thuyết giá cả của ông đã chứng minh cho lí thuyết bàn tay vô hình
của A.Smith.
Nhận xét chung.
Học thuyết kinh tế tân cổ điển kế thừa nền tảng tư tưởng kinh tế của trường phái
cổ điển, ủng hộ kinh tế tự do và chống lại sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động
kinh tế, tôn trọng quan điểm khách quan. Tuy nhiên cũng đã cải cách khắc phục một
số nhược điểm, một số tư tưởng của trường phái cổ điển để thích ứng với các điều kiện
mới của nền kinh tế thị trường.
2.2. Trường phái keynes - Phi cổ điển
Trường phái này ra đời vào những năm 1930, khi nền kinh tế TB đang rơi vào
khủng hoảng nghiêm trọng, các lý thuyết kinh tế của trường phái cổ điển, tân cổ điển
không còn phù hợp. Công trình này có tính chất phê phán những quan điểm kinh tế
trước đó, đặc biệt là quan điểm cho rằng "bản thân cung sẽ tạo ra cầu của chính nó."
Trong tác phẩm này, Keynes đã đưa ra những nhân tố xác định mức sản lượng và việc
làm trong một quốc gia. Trường phái này đã góp phần cung cấp một nền tảng lý thuyết
cho các động thái mang tính chính sách của chính phủ trong việc ngăn chặn cuộc Đại
suy thoái, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở hầu hết các quốc gia trong những năm 30 của
thế kỷ trước. Nội dung của học thuyết này cũng có khá nhiều đặc điểm cần hết sức lưu
ý.
Một là, đối lập với trường phái cổ điền, Keynes không ủng hộ quan điểm tự do
kinh tế về sự cân bằng của nên kinh tế dựa trên sự tự điều tiết của thỉ thị trường mà
không có sự can thiệp của nhà nước. Quan điểm của Keynes cho rằng khủng hoảng
kinh tế đang diễn ra ngày càng trầm trọng không phải là hiện tượng nội sinh của chủ
nghĩa tư bản là do thiếu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế. Theo ông, cần tập
trung vào giải quyết hai vấn đề chính là tăng trưởng và việc làm trên cơ sở điều tiết
của nhà nước.
mở rộng sản xuất.
Ngoài ra, Keynes còn nhắc đến ‘công ăn việc làm” hay thất nghiệp trong nên
kinh tế. Quan điểm này lập luận thất nghiệp chỉ có thể giả quyết hiệu quả bằng việc
vận dung tổng cầu, người lao động sẵn sàng chấp nhận việc tăng giá gây ra từ tăng
21
cầu, dựa vào mức lương danh nghĩa ổn định. Tăng thu thuế sẽ làm giảm tiền lương
danh nghĩa, qua đó, kích thích việc làm. Keynes không xem cơ cấu kinh tế của bộ
phận tư nhân như một dự phòng bảo đảm an toàn chống lại nạn thất nghiệp kéo dài. Sự
tồn tại của tiền lương và giá cả hay đổi đi xuống sẽ không đảm bảo có đủ việc làm. Vỉ
những hạn chế khác, những nhu cầu hình thức đâu cơ tiển mặt và hàm đầu tư, chính
sách tiền tệ không hữu ích theo dự án. Chính phủ nên sử dụng quyền hạn để đánh thuế
và chi tiêu, để ảnh hưởng chu kỳ kinh doanh. Chi tiêu chính phủ là khoản đầu tư công
cộng bơm thêm vào dòng chảy thu nhập, chi tiêu của chính phủ có thể lấy được từ
đánh thuế (làm giảm tiêu dùng, nhưng ít hơn số thuế đánh), bằng việc bán trái phiếu
chính phủ… ành hưởng dinh ra từ việc làm và thu nhập của tất cả những biện pháp
thay thế này phải đánh giá và sau đó phải có hành động đạt đến sự ổn định kinh tế.
Học thuyết kinh tế Keynes đã có những tác động tích cực đối với sự phát triển
kinh tế ở các nước tư bản và là cơ sở chủ đạo của các chính sách kinh tế vĩ mô ở các
nước tư bản sau chiến tranh thế giới thứ 2.
- Học thuyết kinh tế của Keynes đã có tác dụng tích cực nhất định đối với sự phát
triển kinh tế trong các nước tư bản. Góp phần thúc đẩy kinh tế của các nước tư
bản phát triển, hạn chế được khủng hoảng và thất nghiệp, nhất là trong những
năm 50 – 60 của thế kỷ XX, tốc độ phát triển kinh tế của nhiều nước rất cao
(tạo nên những thần kì: Nhật, Tây Đức, Pháp, Thụy Sĩ, ). Học thuyết này giữ
vị trí thống trị trong hệ thống tư tưởng kinh tế tư sản trong một thời gian dài.
Các khái niệm được sử dụng trong phân tích kinh tế vĩ mô ngày nay. “Nó là liều
thuốc chữa cho chủ nghĩa tư bản Tây u khỏi ốm và nền kinh tế Mỹ lành mạnh”.
- Học thuyết này là cơ sở chủ đạo của các chính sách kinh tế vĩ mô ở các nước tư
bản phát triển từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Thậm chí CHLB Đức dựa vào
học thuyết Keynes ban hành đạo luật có tên “Luật về ổn định hóa nền kinh tế”
thế kỷ XIX) được phát triển ở các nhà cổ điển mới (cuối thế kỷ XIX đến thập kỉ 30 của
thế kỷ XX). Gọi là chủ nghĩa tự do cũ. Sau đó tư tưởng chủ nghĩa tư bản có điều tiết
(Keynes) thống trị, đến những năm 70 của thế kỷ XX thì tư tưởng tự do kinh tế được
phục hồi dẫn đến sự xuất hiện “chủ nghĩa tự do mới” hay “chủ nghĩa bảo thủ mới”.
Tư tưởng cơ bản của học thuyết kinh tế trường phái tự do mới là: Cơ chế thị
trường có sự điều tiết của Nhà nước ở mức độ nhất định (ủng hộ tự do kinh doanh
23
nhưng thừa nhận sự điều tiết nhất định của Nhà nước, khẩu hiệu: “Tự do kinh doanh
nhiều hơn, thị trường nhiều hơn, Nhà nước can thiệp ít hơn”).
Đề cập đến khía cạnh tài chính - tiền tệ, có một số lý thuyết tiêu biểu thuộc các
trường phái sau:
2.3.1. Trường phái trọng tiền - Milton Friedman
Giới thiệu về học thuyết: lập trường cơ bản của phái Trọng tiền là phải thả lỏng
nền kinh tế và chống lại sự can thiệp của chính phủ vào sự vận động của nền kinh tế.
Những người theo phái này chủ trương vai trò của chính phủ là duy trì một tốc độ tăng
tiền tệ ổn định hằng năm, và điều đó sẽ đảm bảo một sự tăng trưởng kinh tế vững chắc
với giá cả ổn định.
Trường phái trọng tiền hiện đại ở Mỹ chủ trương tự do hóa nền kinh tế, đồng thời
nhấn mạnh vai trò tự điều tiết của thị trường.
- Về tình trạng nền kinh tế: Cho rằng giá cả và tiền lương trong điều kiện mới là
tương đối linh hoạt, mềm dẻo.
- Thị trường vẫn có khả năng tự động điều tiết. Trường phái này cho rằng cơ chế
thị trường tự nó đã đảm bảo sự cân bằng cung cầu tổng quát ở gần sát với mức
sản lượng cân bằng.
- Do thị trường có khả năng tự điều chỉnh nên nền kinh tế có khả năng phát huy
tiềm năng của mình. GNP thực tế gần sát GNP tiềm năng. Do đó đường tổng
mức cung không phải là một khoảng nằm ngang mà là một đường dốc đứng gần
với GNP (GNP: tổng thu nhập quốc dân)
- Tổng cầu: Khi đường tổng cung là một đường dốc đứng, tổng cầu thay đổi thì
nó không thay đổi hình dáng kể GNP thực tế mà chỉ làm thay đổi giá cả.
nhau. Mối quan hệ này được thể hiện bằng đẳng thức sau:
Cp = k(i,w,u)Yp
Trong đó:
k: Hệ số chỉ tương quan giữa tiêu dùng thường xuyên và thu nhập thường xuyên.
i: Lãi suất
25