chuyên đề tổng kết các ưu đãi đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao của lê tuyển cử và nguyễn thị thanh hà năm 2004 - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, việc thu hút đầu tư đang trở thành mối quan tâm hàng đầu
của nhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế mỗi quốc gia trong công
cuộc phát triển kinh tế đất nước. Tính hấp dẫn của một quốc gia về lĩnh vực
đầu tư trước hết thể hiện ở luật pháp. Đối với mọi quốc gia, Luật Đầu tư là
một bằng chứng cụ thể của sự mở cửa và là cái mà tất cả nhà đầu tư quan
tâm. Nhà nước với vai trò thiết kế và quản lý mọi mặt đời sống xã hội đã sử
dụng pháp luật – một công cụ rất hữu hiệu để thống nhất và định hướng hoạt
động đầu tư. Hoàn thiện pháp luật, tạo môi trường đầu tư có sức hút mạnh
mẽ là mối quan tâm của mọi quốc gia.
Tuy nhiên, pháp luật dù hoàn thiện như thế nào đi nữa mà không được
thực hiện có hiệu quả thì không thể đem lại những gì tốt đẹp mà chủ thể ban
hành mong muốn, không đem lại lợi ích cho xã hội, thậm chí là ngược lại.
Thực hiện pháp luật là sự tiếp nối xây dựng pháp luật, là quá trình hiện thực
hoá pháp luật, làm bộc lộ và phát huy những giá trị tiềm năng của pháp luật
trong thực tế, là thực tiễn sinh động kiểm nghiệm chất lượng xây dựng pháp
luật. Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, Nhà nước luôn quan tâm
đến vấn đề thực hiện pháp luật trong đó có thực hiện pháp luật khuyến khích
đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thực tiễn những năm qua cho thấy, việc thực hiện pháp luật khuyến
khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam đã đạt được những kết quả
đáng kể. Các biện pháp khuyến khích đầu tư về thuế đặc biệt là theo ngành
và lĩnh vực đã bước đầu phát huy tốt hiệu quả định hướng đầu tư. Các chính
sách ưu đãi hướng về xuất khẩu nhìn chung đã phát huy tác dụng tốt, góp
phần quan trọng trong việc nâng tổng kim ngạch xuất khẩu, các dự án sản
xuất kinh doanh, kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh chóng qua các thời kỳ.
Vấn đề bảo vệ môi trường cũng được các doanh nghiệp quan tâm; thủ tục
1
đầu tư đã và đang tiếp tục được thực hiện theo hướng chuyển dần sang cơ
chế một cửa, mở rộng phân cấp, uỷ quyền cấp phép đầu tư. Nhờ đó, các thủ

và thu hút vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài”.
1
, việc đánh giá
thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện một cách có hiệu quả pháp
luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt nam hiện nay là hết sức
cần thiết và mang tính thời sự. Đây là lý do thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề
tài: Thực hiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở
Việt Nam - Thực trạng và giải pháp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Pháp luật và thực thi pháp luật về khuyến khích đầu tư là một vấn đề
khá mới mẻ đối với Việt Nam, chỉ với hơn 20 năm đi vào cuộc sống, còn
đang ở trong giai đoạn thử nghiệm để hoàn chỉnh dần. Kinh nghiệm lập pháp
cũng như thực thi pháp luật trong lĩnh vực này còn nhiều hạn chế nên đang
được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Cho đến nay, đã có nhiều
công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề pháp luật và thực thi pháp luật về
khuyến khích đầu tư như :
Nghiên cứu thực nghiệm ưu đãi đầu tư về thuế thu nhập doanh
nghiệp cho các doanh nghiệp tư nhân hiện nay của Đại học quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004. Kết quả chủ yếu của công trình này là
những đánh giá về việc thực hiện các ưu đãi đầu tư về thuế thu nhập doanh
nghiệp trong các doanh nghiệp tư nhân. Dựa trên kết quả nghiên cứu của
công trình, chúng ta có được những luận cứ khoa học cho việc thực hiện ưu
đãi đầu tư về thuế thu nhập doanh nghiệp – một trong các nội dung của biện
pháp đầu tư về thuế. Như vậy, công trình này không những chưa đưa ra
những đánh giá toàn diện về việc thực hiện biện pháp ưu đãi đàu tư về thuế
mà còn chưa nghiên cứu việc thực hiện các biện pháp ưu đãi đầu tư khác.
1
. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị
Quốc gia, tr. 238.
3

Đầu tư. Tuy nhiên, những ý kiến này chỉ dừng lại ở việc nêu ra những nội
dung của Luật đầu tư cần chủ yếu cho việc ban hành Nghị định hướng dẫn
thi hành Luật đầu tư mà thôi. Công trình chưa quan tâm sâu sắc đến việc đưa
ra các giải pháp để hiện thực hoá các quy định đó.
Đánh giá 6 tháng thi hành Luật đầu tư của Viện Quản lý kinh tế
Trung ương năm 2007. Công trình này đã đánh giá khá toàn diện về thực
hiện luật đầu tư nhưng chỉ mới đánh giá ở một giai đoạn rất ngắn(6 tháng) và
ở thời điểm mà Luật đầu tư mới vừa có hiệu lực, bắt đầu đưa vào thực hiện –
một giai đoạn có nhiều khó khăn khách quan, ảnh hưởng không nhỏ tới thực
hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Một năm thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư: Mặt được,
chưa được và việc cần làm, Tạp chí Quản lý kinh tế, số 15/2007; Thực
hiện Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp: Nhìn từ góc độ cải cách thể chế,
Tạp chí Quản lý kinh tế, số 19/2008 của Thạc sỹ. Nguyễn Đình Cung. Tác
giả đã đánh giá những mặt được, chưa được của công tác thực hiện pháp luật
đầu tư nói chung, từ đó đánh giá những bất cập nhìn từ góc độ thể chế. Tuy
nhiên, công trình này mới chỉ tập trung đánh giá những hạn chế nhìn từ góc
độ thể chế chưa đi vào các yếu tố bộ máy, trình đọ dân trí Mặt khác, Công
trình cũng chỉ mới đánh giá việc thực hiện pháp luật trong một thời gian rất
ngắn và chưa đi sâu vào đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khi đó, thực hiện
pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài cần phải được đánh giá
một cách sâu sắc và toàn diện.
Luật đầu tư năm 2005 - Một số vấn đề bất cập của Thạc sỹ. Đoàn
Trung Kiên, Tạp chí Luật học số 5/2008. Công trình đã chỉ ra những bất cập
của Luật đầu tư năm 2005, một trong những khó khăn của việc thực hiện
pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam. Tuy nhiên,
5
hiu qu thc hin phỏp lut khụng ch ph thuc vo thc trng phỏp lut
m cũn ph thuc vo nhiu yu t khỏc.
Nh vy, cỏc cụng trỡnh nghiờn cu nờu trờn ó tip cn vn thc

2. Thực trạng thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở Việt Nam
3. Định hướng và những giải pháp đảm bảo thực hiện hiệu quả
pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Đề tài vận dụng lý luận và phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước để phân tích, đánh giá và giải quyết các vấn đề.
- Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp,
phương pháp chuyên gia, tổng kết thực tiễn và một số sơ đồ minh hoạ các số
liệu cụ thể.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài :
- Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần bổ sung luận cứ khoa học cho
chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam trong những năm tới; trực
tiếp phục vụ việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật đầu tư.
- Sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc thực hiện pháp luật
về đầu tư trước mắt cũng như trong tương lai.
- Sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, học
tập liên quan tới xây dựng chính sách và pháp luật kinh tế.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT KHUYẾN
KHÍCH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ KINH NGHIỆM
THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở MỘT SỐ NƯỚC
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1.1.Khái niệm pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Với những cách tiếp cận khác nhau, có nhiều định nghĩa khác nhau
về đầu tư. Tuy nhiên, định nghĩa về đầu tư được thừa nhận về mặt pháp lý ở
Việt nam là định nghĩa trong Điều 3 của Luật đầu tư năm 2005. Theo luật
này, “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc

đạo. Nhưng trước mắt, trong khi nguồn lực bên trong còn có hạn, hơn nữa lại
chưa tạo ra được môi trường đầu tư để huy động tối đa nguồn lực đó, thì
nguồn lực bên ngoài lại chiếm tỷ lệ lớn và đáp ứng được những dự án đầu tư
quan trọng nhất. Vì vậy, Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới
đều xây dựng một chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài hấp dẫn theo
xu hướng xoá bỏ dần những rào cản bất lợi trong việc dịch chuyển vốn đầu
tư.
Khuyến khích đầu tư là hệ thống các chính sách, biện pháp ưu đãi đầu
tư của Nhà nước nhằm thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài
nước hoặc định hướng đầu tư theo những mục tiêu phát triển nhất định.
Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ xã hội phát
sinh trong lĩnh vực khuyến khích đầu tư dưới nhiều hình thức phong phú, đa
dạng với nội dung ngày càng trở nên phức tạp. Để đảm bảo cho hoạt động
đầu tư và hệ thống các biện pháp, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển
theo định hướng của Nhà nước, đảm bảo quyền lợi và sự bình đẳng trong
9
quỏ trỡnh u t, cỏc bin phỏp khuyn khớch u t khụng th tn ti di
dng cỏc quan h xó hi bỡnh thng m cn phi cú s iu chnh ca Phỏp
lut. Di s tỏc ng ca cỏc quy phm phỏp lut, Nh nc qun lý v
hng cỏc hot ng u t v u ói u t theo nh hng ca mỡnh. Do
ú, phỏp lut khuyn khớch u t trong ú cú u t trc tip nc ngoi
ra i.
Phỏp lut khuyn khớch u t trc tip nc ngoi l h thng
nhng quy phm phỏp lut, to nhng iu kin thun li nht m mi
quc gia cú th dnh cho nh u t nc ngoi nhm thu hỳt vn u t
v trờn c s ú to ra li th so sỏnh vi cỏc nc khỏc.
Chớnh ph cỏc nc ó s dng nhiu bin phỏp khuyn khớch u t
trong cỏc quy nh phỏp lut. Vit Nam, thỳc y u t trong phm vi
ton b nn kinh t v hng u t vo mt s a bn, lnh vc u tiờn
phỏt trin, cỏc bin phỏp khuyn khớch u t trong ú cú u t trc tip

phải trả nếu giành cho tất cả các nhà đầu tư.
Trong khi pháp luật về ưu đãi đầu tư có thể hợp lý đối với một nước
cụ thể thì cuộc cạnh tranh thu hút FDI đã dẫn đến pháp luật về ưu đãi đầu tư
nói chung là tương tự giữa các nước. Kết quả là một số lợi ích của đầu tư
đang được chuyển từ lợi ích của nhà nước chủ nhà sang các công ty đa quốc
gia dưới hình thức các nhân nhượng về thuế và các khoản bao cấp, và điều
này làm giảm nguồn lợi đối với nhà nước chủ nhà.
1.1.2. Khái niệm chung về thực hiện pháp luật
Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng song sinh. Nhà nước ban
hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm bảo vệ lợi ích của giai
cấp thống trị, đồng thời duy trì trật tự xã hội. Pháp luật với các đặc trưng của
nó, trở thành công cụ hữu hiệu nhất để nhà nước quản lý xã hội. Tuy nhiên,
11
pháp luật chỉ thực sự có giá trị khi nó được thực hiện trong đời sống thực
tiễn.
Vấn đề thực hiện pháp luật luôn được các nhà nước quan tâm cả trên
phương diện nghiên cứu lý luận và phương diện tổ chức thực tiễn. Trên
phương diện lý luận, thực hiện pháp luật là nội dung trọng tâm của khoa học
pháp lý. Vấn đề là ở chỗ những quy phạm pháp luật được nhà nước ban hành
để điều chỉnh các quan hệ xã hội, xác lập trật tự xã hội, cho dù có sức mạnh
cưỡng chế, thậm chí bằng cả những chế tài tàn khốc cũng không thể tự mình
đi vào cuộc sống. Pháp luật được ban hành nếu chỉ “đọng” lại trên các văn
bản thì chỉ là pháp luật ở trạng thái “tĩnh”, vấn đề quan trọng là pháp luật
phải trở thành chế độ pháp chế, được thể hiện thông qua hoạt động của các
cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân; trở thành phương thức quản
lý xã hội, quản lý nhà nước,cơ sở cho sự tự quản xã hội, cho tổ chức đời
sống cộng đồng. Thực hiện pháp luật là một hiện tượng mang tính lịch sử,
thể hiện ra là một quá trình hết sức phức tạp nhằm thực hiện hóa các giá trị
của pháp luật. Và cũng vì thế, trước đây cũng như hiện nay trong khoa học
pháp lý khái niệm thực hiện pháp luật vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm, nhận

một quá trình hay là một hiện tượng xã hội, song đều hướng đến mục đích
chung là hành vi hợp pháp của đối tượng thực hiện pháp luật.
Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng việc tăng cường pháp chế, coi
trọng việc thực hiện pháp luật, củng cố trật tự pháp luật và kỷ cương nhà
nước. Những quan điểm tư tưởng trên về thực hiện pháp luật đã được Hiến
pháp- luật cơ bản của Nhà nước nghi nhận như một nguyên tắc cơ bản trong
tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội. Điều 12 của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi,
bổ sung một số điều năm 2001) quy định: “ Nhà nước quản lý xã hội bằng
pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi
công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật. Mọi hành
động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập
thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật”
Từ việc nghiên cứu những quan điểm trên có thể rút ra khái niệm về
thực hiện pháp luật như sau: Thực hiện pháp luật là toàn bộ quá trình được
diễn ra theo một cơ chế chặt chẽ, trong đó các cá nhân, tổ chức thực hiện
các hành vi phù hợp với ý chí của nhà nước được thể hiện trong pháp luật
về từng lĩnh vực cụ thể mà cá nhân, tổ chức đó chịu tác động điều chỉnh.
4
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Nhà nước và pháp luật(2004), Giáo trình lý luận chung về
Nhà nước và pháp luật, Nxb Lý luận chính trị, Tr 162
13
Dưới góc độ pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp. Hành
vi đó không trái, không vượt quá phạm vi quy định của pháp luật, phù hợp
với quy định của pháp luật và có lợi cho xã hội, cho nhà nước, cho cá nhân.
Tuy nhiên, đó chỉ là cách nhìn nhận chung, chưa cụ thể. Pháp luật gồm rất
nhiều các quy phạm khác nhau về nội dung, về cách thức, phương pháp điều
chỉnh. Vì thế, với mỗi loại quy phạm đòi hỏi phải có cách thức thực hiện phù
hợp; có thể đó là các xử sự chủ động (hành động) nhằm đạt được mục đích
luật định, như sử dụng quyền hay làm nghĩa vụ pháp lý; có thể là cách xử sự

Thi hành hay chấp hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật
trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng
hành động tích cực. Những quy phạm pháp luật quy định nghĩa vụ của chủ
thể phải thực hiện hành vi tích cực được quy định ở rất nhiều lĩnh vực khác
nhau. Ví dụ, pháp luật quy định cá nhân, tổ chức kinh doanh phải nộp thuế.
Khi tổ chức, cá nhân kinh doanh đó thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cũng tức là
họ đã thực hiện pháp luật dưới hình thức chấp hành pháp luật.
Thứ ba, hình thức sử dụng pháp luật.
Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ
thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể, tức là thực hiện những hành vi mà
pháp luật cho phép. Những quy phạm pháp luật quy định quyền và tự do dân
chủ của công dân được thực hiện ở hình thức này.
Hình thức sử dụng pháp luật có đặc điểm là chủ thể pháp luật có thể
thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí
của mình, chứ không bị ép buộc phải thực hiện. Ví dụ: Pháp luật quy định
công dân có quyền tự do kinh doanh. Nếu một công dân đầu tư vốn thành lập
doanh nghiệp và thực hiện hoạt động kinh doanh, tức là công dân đó đã sử
dụng pháp luật (quyền được kinh doanh của mình). Hoặc công dân đó mặc
dù có đủ các điều kiện để thực hiện hoạt động kinh doanh theo quy định của
15
pháp luật nhưng họ không tham gia kinh doanh tức là công dân đó không sử
dụng pháp luật, và cũng không vì thế mà phát sinh trách nhiệm pháp lý.
Thứ tư, hình thức áp dụng pháp luật.
Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó nhà nước
thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các
chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật; hoặc tự mình căn cứ vào
các quy định của pháp luật để ban hành các quyết định làm phát sinh, thay
đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Trong trường
hợp này, các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật có sự
can thiệp của nhà nước. Trong một số trường hợp đặc biệt, theo quy định

động đầu tư nước ngoài. Có thể phân tích một số đặc điểm riêng biệt đó của
thực hiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:
Một là, tính phức tạp và liên ngành trong thực hiện pháp luật về
khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Các quy phạm pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài rất
rộng, được quy định ở nhiều văn bản khác nhau, thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội, với thứ bậc về hiệu lực pháp lý khác nhau. Mặc
khác, lĩnh vực pháp luật này liên quan đến nhiều loại chủ thể khác nhau
trong xã hội, từ cơ quan hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước đến các tổ
chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, các cá nhân, liên quan đến không chỉ
chủ thể trong nước mà còn chi phối nhiều chủ thể có yếu tố nước ngòai. Tính
phức tạp của các quy phạm pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước
ngoài quy định tính phức tạp trong thực thi. Khi thực hiện pháp luật đầu tư
nước ngoài, các chủ thể đầu tư nước ngoài không chỉ thực hiện các quy
phạm pháp luật của pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà
còn phải thực hiện các quy phạm của nhiều ngành luật khác có liên quan.
Điều này có lý do bởi pháp luật đầu tư nước ngoài có tính hệ thống, tính mở,
17
có mối liên quan và sự giao thoa, tương tác với nhiều lĩnh vực pháp luật
khác, như lĩnh vực pháp luật về tổ chức nhà nước, về kinh tế, tư pháp quốc
tế, dân sự, lao động, đất đai…
Chính vì có tính liên quan chặt chẽ như vậy mà mục đích điều chỉnh
của pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ có thể đạt được
đầy đủ, toàn vẹn khi đồng thời có sự thực hiện tốt các quy phạm của pháp
luật đầu tư trong mối quan hệ với lĩnh vực pháp luật lao động do lĩnh vực
này pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài không có quy phạm
riêng điều chỉnh. Vì thế, để xác lập và thực hiện các quan hệ lao động trong
đầu tư nước ngoài đòi hỏi phải thực hiện các quy phạm được quy định trong
Bộ luật Lao động và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan. Tương
tự như vậy, trong các mối quan hệ về thuế, các doanh nghiệp có vốn đầu tư

tế quốc tế, Nhà nước Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia nhiều điều ước quốc
tế có liên quan đến đầu tư nước ngoài, ký kết các hiệp định song phương với
nhiều nước để khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Chính vì vậy,
các quy định về đầu tư nước ngoài trong nhiều điều ước quốc tế được coi là
một bộ phận quan trọng của pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước
ngoài của một quốc gia. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nếu điều
ước quốc tế có quy định khác với quy định của Luật trong nước thì áp dụng
các quy định của điều ước quốc tế. Như vậy, trong trường hợp này các cơ
quan có thẩm quyền phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định cho phù hợp
với các quy định của điều ước quốc tế, trường hợp có xung đột pháp luật
trong việc điều chỉnh các quan hệ đầu tư nước ngoài thì phải áp dụng các
biện pháp giải quyết xung đột pháp luật đã được quy định trong các điều ước
quốc tế.
Ba là, việc thực hiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước
ngoài liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau, trong đó có chủ thể là nhà đầu
tư nước ngoài. Đó là những cá nhân có quốc tịch của một nhà nước khác,
19
được nhà nước và hệ thống pháp luật mà cá nhân có quốc tịch của nhà nước
đó bảo hộ. Ngoài các hoạt động kinh doanh, các chủ thể là nhà đầu tư nước
ngoài còn tham gia vào các giao dịch xã hội khác như những công dân Việt
Nam. Trong những trường hợp xảy ra xung đột pháp luật giữa hai hệ thống
pháp luật Việt Nam và hệ thống pháp luật mà nhà đầu tư có quốc tịch, hoặc
trong các giao dịch mà chủ thể đầu tư vi phạm thì cũng có thể ảnh hưởng đến
việc thực hiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mặt
khác, sự phong phú và khác biệt về văn hóa, truyền thống của các quốc gia,
vũng lãnh thổ trên thế giới cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thực thi
pháp luật.
1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI THỰC HIỆN PHÁP LUẬT KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI.
* Trong bất kỳ chế độ nhà nước nào, khi đề ra pháp luật, các nhà nước

chỉnh pháp luật của xã hội, của nhà nước mà những nhu cầu này chỉ có thể
phát hiện ra qua thực tiễn thực hiện pháp luật. Thực tiễn thực hiện pháp luật
cũng là tiêu chuẩn kiểm nghiệm chất lượng pháp luật, chất lượng xây dựng
pháp luật. Trên cơ sở thực trạng mà phát hiện ra những mâu thuẫn, chồng
chéo, những điểm không còn phù hợp trong chính sách và pháp luật, từ đó
sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế khách quan. Đồng thời, cũng trên
cơ sở đánh giá đúng thực trạng thực hiện pháp luật mà phát hiện ra những
nhu cầu điều chỉnh mới của pháp luật để kịp thời xây dựng và ban hành pháp
luật. Nếu không có những khảo sát, đánh giá từ thực tiễn cuộc sống thì
không thể có cơ sở khoa học và thực tiễn xác đáng để xây dựng và thực hiện
pháp luật, không phát huy được vai trò của nó trong cuộc sống.
* Từ những yêu cầu chung mang tính khái quát trên, đối chiếu với bối
cảnh lịch sử của giai đoạn hiện nay của cách mạng Việt Nam, và từ vị trí, vai
trò của pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ những điều
kiện kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa hết sức đặc thù của Việt Nam, có thể
21
phân tích một số yêu cầu khách quan của việc bảo đảm thực hiện pháp luật
về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam như sau:
Một là, thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
nhằm đảm bảo hiệu lực và hiệu quả trong quản lý nhà nước về đầu tư.
Hoạt động quản lý nhà nước nói chung, quản lý đầu tư nói riêng là
chức năng quan trọng của Nhà nước. Sự quản lý hoạt động đầu tư, đặc biệt là
các biện pháp khuyến khích đầu tư bằng pháp luật trong điều kiện phát triển
kinh tế của Việt nam hiện nay là hoàn toàn cần thiết. Mặt khác, quản lý nhà
nước đối với hoạt động đầu tư trên cơ sở pháp luật là xu thế chung của hầu
hết các nước trên thế giới.
Các biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư được đặt ra nhằm mục
đích thu hút các nhà đầu tư đầu tư nguồn vốn của họ vào các lĩnh vực sản
xuất kinh doanh cụ thể. Song, các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực
đầu tư, đòi hỏi Nhà nước phải có những đầu tư theo một trật tự có định

khuyến khích đầu tư bằng pháp luật sẽ làm cho môi trường đầu tư trở nên
kém hiệu quả, bản thân các biện pháp khuyến khích đầu tư sẽ phản lại tác
dụng của nó, Nhà nước sẽ không thể quản lý hoạt động đầu tư; quốc gia sẽ
mất đi vị thế trong thị trường đầu tư đang diễn ra hết sức sôi động, bình đẳng
và lành mạnh trên thế giới.
Thông qua thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước
ngoài góp phần nâng cao năng lực quản lý, điều hành bằng pháp luật của các
cấp chính quyền, bảo đảm cho bộ máy chính quyền thể hiện được đầy đủ
những đặc trưng của bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đội ngũ công chức được rèn luyện, hình
thành phẩm chất và kỹ năng quản lý bằng pháp luật, tuân thủ nghiêm pháp
luật.
23
Hai là, thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư.
Trong bối cảnh nền kinh tế quốc tế và nền kinh tế khu vực đang ngày
càng phát triển và xích lại gần nhau hơn, tốc độ công nghiệp hoá và chuyên
môn hoá ngày càng cao. Trong hành trang quốc tế hoá, mỗi quốc gia có
những thế mạnh riêng của mình, các quốc gia có nguồn tư bản dồi dào muốn
mang nguồn vốn của mình đầu tư, sản xuất, kinh doanh để kiếm lợi nhuận.
Các quốc gia thiếu vốn có nhu cầu thu hút vốn đầu tư để phát triển nền kinh
tế. Để thu hút nguồn vốn đầu tư ngày càng nhiều, việc ban nhành và thực
hiện pháp luật khuyến khích đầu tư là đòi hỏi khách quan. Thực tế, nhà đầu
tư với mục đích cuối cùng rất rõ ràng là lợi nhuận, việc lựa chọn và quyết
định địa bàn và lĩnh vực đầu tư là một sự tính toán rất kỹ lưỡng. Trong sự
tính toàn đó, nhà đầu tư hết sức để ý đến các chính sách và các biện pháp thu
hút đầu tư. Quốc gia nào có các biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tư
hợp lý, hiệu quả và hấp dẫn nhất sẽ thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư
hơn. Sự cụ thể hoá các biện pháp khuyến khích đầu tư trong các quy định
pháp luật và bảo đảm thực hiện chúng tạo cho nhà đầu tư tâm lý ổn định, tin

Thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo điều
kiện thúc đẩy các quan hệ kinh tế phát triển. Trong nền kinh tế thị trường,
việc xác lập và thực hiện các nguyên tắc pháp lý cơ bản như nguyên tắc cạnh
tranh, nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền…sẽ
đảm bảo cho sự vận hành hoạt động đầu tư của nhà đầu tư có hiệu quả.
Thực hiện pháp luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
chính là đảm bảo một môi trường pháp lý an toàn cho các hoạt động đầu tư,
để hoạt động đầu tư được điều chỉnh theo một trật tự. Đây là vấn đề mang
tính quy luật, bởi lẽ quyền lợi và hoạt động đầu tư của nhà đầu tư chỉ có thể
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status