Nhóm 18 : Phạm vi và mức độ khuyến khích ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt
Nam
Mở đầu
Trong hơn một thập kỷ qua, tốc độ tăng trưởng công nghiệp hàng năm của Việt
Nam đã tăng từ 15 đên 17%, góp phần rất lớn vào tăng trưởng kinh tế của cả nước. Tuy
nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp, các vấn đề về ô nhiễm môi trường
đang ngày càng báo động. Nhiều nhà máy, xí nghiệp được xây dựng từ thời bao cấp với công
nghệ, thiết bị lạc hậu, phát sinh nhiều phế thải, đa phần không có hệ thống xử lý nước thải, khí
thải. Thêm vào đó, các cơ sở sản xuất công nghiệp lại nằm xen kẽ với khu dân cư hoặc gần khu
vực đông dân cư ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng. Vấn đề phát triển bền vững đi đôi với
bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là nguyên tắc trong quá trình phát triển của hầu hết các
quốc gia trên thế giới. Ở nước ta vấn đề này đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, đặc
biệt đến Đại hội IX Đảng ta đã nêu thành một quan điểm phát triển hàng đầu là " Phát triển
nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng
xã hội và bảo vệ môi trường". Bằng các chính sách thắt chặt , Nhà nước đã và đang thực
hiện tốt chức năng quản lý, giám sát các tổ chức và cá nhân thực thi bảo vệ tài nguyên và
môi trường theo quy định của pháp luật nhưng bên cạnh đó cũng dành một phần ngân sách
thỏa đáng làm nguồn vốn thu hút khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực tài
nguyên và môi trường. Song , bên cạch những thành tựu đạt được, vẫn tồn tại rất nhiều
nhưng khiếm khuyến trong công tác thực thi triển khai các kế hoạch đầu tư vào bảo vệ môi
trường.
Với mong muốn vận dụng kiến thức để tìm hiểu nền kinh tế Việt Nam nên chúng
tôi chọn đề tài: "Phạm vi và mức độ khuyến khích ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ
môi trường ở Việt Nam" . Rất mong đước sự góp ý của thầy cô và bạn bè.
1
* Danh mục tài liệu tham khảo
1. Văn bản
- Nghị định 04/2009/NĐ-CP về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường.
- Nghị định 05/2008/NĐ-CP về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng.
- Quyết định 35/2008/QĐ-TTg về tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo vệ môi trường Việt
Nam.
nước ta cũng ngày một nhiều hơn. Nguồn vốn nhiều hơn kéo theo rất nhiều các công trình,
dự án, các nhà máy, các doanh nghiệp mới… được xây dựng lên. Môi trường vì vậy mà
cũng sẽ chịu những ảnh hưởng vô cùng lớn, mà đa số những ảnh hưởng ấy là ảnh hưởng
tiêu cực. Đó là lý do vì sao song song với việc phát triển kinh tế, vấn đề môi trường luôn
được chú trọng và nhà nước luôn trích một phần không nhỏ trong lượng vốn đầu tư để góp
phần vào việc giải quyết vấn đề này.
Tuy nhiên, quản lý nguồn vốn ấy hẳn không phải là một bài toán dễ. Để hỗ trợ cho
việc quản lý đạt hiệu quả, Nghị định 04 về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường,
điều 6 chương I đã nêu rõ:
A) Hoạt động bảo vệ môi trường được đặc biệt ưu đãi, hỗ trợ:
I. Hoạt động xây dựng công trình
1. Xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt tập trung.
2. Xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung.
3. Xây dựng cơ sở xử lý chất thải.
4. Xây dựng cơ sở sản xuất ứng dụng sáng chế bảo vệ môi trường.
5. Xây dựng trung tâm, trạm tìm kiếm cứu nạn; ứng cứu, khắc phục sự cố môi
trường; cơ sở khắc phục hậu quả môi trường sau chiến tranh.
6. Xây dựng cơ sở hỏa táng, điện táng.
II. Hoạt động nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh
4
Nhóm 18 : Phạm vi và mức độ khuyến khích ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt
Nam
1. Hoạt động xử lý chất thải nguy hại; xử lý hóa chất độc hại; xử lý, cải tạo môi
trường các kênh, mương, sông, hồ chứa và các khu quân sự.
2. Sản xuất sản phẩm thân thiện với môi trường.
3. Sản xuất thiết bị bảo vệ môi trường, bao gồm thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường,
thiết bị xử lý chất thải, ứng phó, xử lý tràn dầu; thiết bị quan trắc và phân tích môi trường.
4. Sản xuất các sản phẩm thay thế nguyên liệu tự nhiên có lợi cho môi trường.
5. Dịch vụ hỏa táng, điện táng.
6. Ứng dụng công nghệ cao, công nghệ mới chưa được sử dụng tại Việt Nam; ứng
5. Áp dụng công nghệ giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ozon.
6. Sản xuất năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sản xuất năng lượng từ việc tiêu hủy
chất thải.
C) Sản phẩm từ hoạt động bảo vệ môi trường được ưu đãi, hỗ trợ
1. Sản phẩm thân thiện với môi trường, bao gồm:
a) Sản phẩm sau khi thải bỏ dễ phân huỷ trong tự nhiên;
b) Sản phẩm không gây ô nhiễm môi trường được sản xuất để thay thế nguyên liệu tự
nhiên;
c) Sản phẩm được cấp nhãn sinh thái của tổ chức được Nhà nước công nhận.
2. Các sản phẩm từ hoạt động tái chế chất thải.
6
Nhóm 18 : Phạm vi và mức độ khuyến khích ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt
Nam
3. Sản phẩm thay thế nguyên liệu tự nhiên có lợi cho môi trường.
4. Năng lượng thu được từ việc tiêu hủy chất thải.
Nghị định đã nêu rõ phạm vi được sử dụng ưu đãi hỗ trợ này của nhà nước là các hoạt
động bảo vệ môi trường và các sản phẩm từ các hoạt động bảo vệ môi trường. Các ưu đãi, hỗ trợ
được sử dụng là các ưu đãi,hỗ trợ về đất đai, vốn, thuế, việc tiêu thụ sản phẩm và các ưu đãi hỗ
trợ khác. Nghị định cũng nêu rõ những ưu đãi, hỗ trợ sẽ không được dành cho các hoạt động đầu
tư được cho là nghĩa vụ của nhà đầu tư. Và tất cả các kinh phí thực hiện được lấy từ ngân sách
nhà nước.
Bên cạnh đó còn có nhiều luật, thông tư, nghị định khác khuyến khích ưu đãi đầu tư vào
bảo vệ môi trường như:
- Thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ bảo vệ và phát triển rừng (Nghị định 05/2008/NĐ-
CP
- Thành lập Quỹ bảo vệ môi trường (Quyết định 35/2008/QĐ-TTg)
- Khai thác hợp lý nguồn tài nguyên, bảo vệ đa dạng sinh học (Quyết định 256/2003/
QĐ-TTg)
- Giảm phát thải khí nhà kính (Quyết định 130/2007/QĐ-TTg)
- Bảo vệ tài nguyên quặng, chì, kẽm chưa khai thác (Thông tư
8
Nhóm 18 : Phạm vi và mức độ khuyến khích ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt
Nam
(theo bài viết của Lưu Vân trên trang web Bộ tài nguyên và môi trường Việt Nam:
/>II. Đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường nhận được sự quan tâm đặc biệt từ phía
Chính phủ và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực môi trường:
a. Luật khoáng sản chú trọng bảo vệ môi trường
Tháng 5/2010, Đại biểu Quốc hội đã thảo luận Luật khoáng sản (bổ sung) trong đó
đề cao xác định vấn đề quy hoạch khoáng sản là cốt lõi đồng thời bổ sung các quy định về
phân cấp, đấu giá, bảo vệ môi trường sau khi khai thác. Ý kiến chung cho rằng khoáng sản
là một lĩnh vực có mối liên hệ hữu cơ với môi trường và quản lý, sử dụng đất đai, nên theo
TS Trần Văn, Ủy viên Ủy ban Tài chính – Ngân sách Quốc hội, cần có quy định về những
vấn đề phát sinh hoặc tiềm ẩn trong và sau quá trình khai thác.
b, Dự án về bảo vệ môi trường được vay vốn không lãi suất
Đó là một trong những nội dung của Đề án “Cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư
trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên và môi trường” vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
tại Quyết định số 129/2009/QĐ-TTg ngày 29/10/2009. Đề án này bao gồm các nhóm cơ
chế chính sách khuyến khích về: đất đai, tài chính, thu hút các nguồn vốn đầu tư, nguồn
nhân lực, khoa học và công nghệ. Cụ thể, đối với đất sử dụng cho việc xây dựng các công
trình, các dự án giải quyết mục tiêu về môi trường ở đô thị, môi trường nông thôn được
miễn, giảm các loại phí trước bạ, tiền thuê đất, giao đất và thuế sử dụng đất. Trong lĩnh
vực khai thác tài nguyên, các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng đất làm bãi thải để xử lý
môi trường trong quá trình khai thác, tuyển chọn thì được giao, thuê đất và giảm tiền giao,
thuê đất, giảm thuế sử dụng đất. Nhà nước cũng cho phép sử dụng quyền sử dụng đất để
góp vốn trong các liên doanh xây dựng các công trình xử lý môi trường có mục đích kinh
doanh hoặc được thế chấp vay ngân hàng để thực hiện dự án, hỗ trợ vốn đầu tư từ ngân
sách nhà nước và cho vay tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp hoặc không lãi suất đối với các
9
dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ tài nguyên và môi trường; đồng thời mở rộng diện chịu thuế,
các loại phí và nâng thuế suất trong các hoạt động sản xuất kinh doanh gây tác động có hại,
b. Xúc tiến đầu tư vào tỉnh Quảng Ninh tại Nhật Bản
Ngày 19/5/2010, khoảng 200 đại biểu đại diện cho các doanh nghiệp Nhật Bản đã
tham dự Hội thảo Xúc tiến Đầu tư vào tỉnh Quảng Ninh do Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt
Nam phối hợp với Ngân hàng Mizuho tổ chức, vừa diễn ra tại thủ đô Tokyo. Theo
bà Nhữ Thị Hồng Liên, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, trong thời gian
qua, Nhật Bản là nhà tài trợ vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất cho tỉnh, với
tổng vốn cam kết lên tới 300 triệu USD, trong đó tập trung vào các dự án lớn như bảo vệ
môi trường thành phố Hạ Long (111 triệu USD), xây dựng cầu Vân Tiên (90 triệu USD) và
xây dựng cảng Cái Lân (78 triệu USD). Bên cạnh đó, Nhật Bản hiện có 6 dự án đầu tư trực
tiếp, với tổng số vốn đăng ký 11,3 triệu USD.
Về thương mại và du lịch, bà Liên cho biết Nhật Bản là đối tác kinh tế quan trọng
của tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh sang nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này liên tục
tăng trong thời gian gần đây và đạt 84,6 triệu USD trong năm 2009. Trong khi đó, số lượng
du khách Nhật tới thăm tỉnh Quảng Ninh đang ngày càng tăng. Năm 2009, con số này là
38.200 lượt, tăng 3 lần so với năm 2006.
(theo bài viết trên trang Thông tấn xã Việt Nam:
/>Ban/20105/45601.vnplu s )
11