Báo cáo thực tập kĩ thuật Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch - Pdf 10

Báo cáo thực tập kĩ thuật : Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch
BÁO CÁO THỰC TẬP
VIỆN CƠ ĐIỆN NÔNG NGHIỆP
VÀ CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
Họ và tên : Nguyễn Thái Thanh
SHSV : 20096191
Phone : 0946528238
Email :
Nguyễn Thái Thanh : Kĩ thuật điện 3 – K54 Page 1
Báo cáo thực tập kĩ thuật : Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch
Nhận xét của cơ sở thực tập ( hoặc thầy hướng dẫn )
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………………………………………………………
……………
Nguyễn Thái Thanh : Kĩ thuật điện 3 – K54 Page 2
Báo cáo thực tập kĩ thuật : Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch

+Trung tâm nghiên cứu ứng dụng cơ điện (thành phố Hồ Chí Minh).
-Viện có hệ thống thiết bị đo lường, thử nghiệm hiện đại bằng cơ và điện tử trên 20
kênh tín hiệu đo và điều hành bằng máy vi tính phục vụ công tác nghiên cứu (đo
các chỉ tiêu động lực họcvà kỹ thuật điện, năng lượng của máy nông nghiệpvà máy
thuỷ khí; cơ lý tính của đất, cây trồng và nông sản; các chỉ tiêu về môi trường sản
xuất ).
3. Các thành tựu đã đạt được:
Một số thành tựu chính :
+ Viện đã tham gia xây dựng nền móng và phát triển ngành cơ điện phục vụ sản
xuất nông nghiệpvà chế biến nông sản.
+ Nhiều công trình đã được Nhà nước tặng thưởng: -Cải tiến, thiết kế, chế tạo liên
hợp máy (và hệ di động) phục vụ khâu canh tác lúa nước phù hợp khí hậu, đất đai
ở Việt Nam; Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo hệ thống bơm kiểu mới tiết kiệm năng
lượng phục vụ tưới tiêu nước cho các vùng sản xuất; Hệ thống thiết bị sấy, quy
trình công nghệ và máy chế biến ngô giống,thức ăn gia súc phục vụ các thành phần
kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, từng bước xây dựng
công nghiệp chế biến nông sản ở nông thôn:Viện là thành viên của mạng lưới máy
móc nông nghiệp trong khu vực (RNAM-ESCAP), chủ trì dự án năng lượng từ
chất phế thải Úc-ASEAN (AAECP) giai đoạn III (1997 đến 2000).
II.Nghiên cứu chi tiết :
1.Quan sát và tìm hiểu các thiết bị điện và đo lường phục vụ cho công tác nghiên
cứu khoa học phục vụ cho nông nghiệp của Viện :
Các thiết bị điện nhóm thực tập chúng em được tham quan và tìm hiểu đều là các
thiết bị tiên tiến và hiện đại.Qua thời gian tìm hiểu,chúng em đã có một cái nhìn
thực tế hơn nhiều về các thiết bị điện bên ngoài sách vở
Nguyễn Thái Thanh : Kĩ thuật điện 3 – K54 Page 4
Báo cáo thực tập kĩ thuật : Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch
Hình 1 : Máy đo độ rung ( hãng Fluke )
Thiết bị đo này được sử dụng để đo độ rung ( Vibaration ) của các máy điện được
lắp đặt trong khu vực sản xuất.Tác dụng để kiểm tra các máy điện hoặc động cơ có

+ Test đa năng : tần số,dòng điện,cos Fi….
+ Kiểm tra dòng điện rò.
+ Thời gian phóng điện : bên ngoài hoặc nội bộ.
Nguyễn Thái Thanh : Kĩ thuật điện 3 – K54 Page 8
Báo cáo thực tập kĩ thuật : Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch
II.Tham quan và tìm hiểu dây chuyền công nghệ của cơ sở
sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc An Khánh.
Dây chuyền chế biến thức ăn gia súc 5 Tấn/1 giờ.
Hoạt động của dây chuyền chế biến thức ăn gia súc là theo mẻ chế biến, mỗi
mẻ có khối lượng 1.000kg và được tiến hành như sau:
1. Công đoạn cấp nhiên liệu.
Tất cả các nguyên liệu cần nghiền (ngô, đậu tương, sắn lát, khô dầu ) được
cấp thủ công vào phễu 1 và được vít tải 2, gầu tải 4 và chuyển lên máy làm sạch sơ
bộ 5. Tại đây tất cả các tạp chất thô (rơm rạ, dây, túi nilong ) được tách ra khỏi
nguyên liệu. Sau khi đã tách sạch tạp chất, nguyên liệu được thiết bị phân phối 6
cấp vào một trong tám thùng chứa đã định 7. Ở đây mỗi nguyên liệu được chứa
riêng ở một thùng, được đánh số thứ tự và ghi tên loại nguyên liệu đó trên thùng
(trong sơ đồ trên máy tính) để tránh sai lầm không cần thiết. Tuy nhiên, do đặc thù
công việc cũng có khi một loại nguyên liệu được chứa trong hai hay ba thùng. Như
vậy việc ghi tên loại nguyên liệu trên thùng có thể thay đổi được từ điều khiển khi
cần thiết.
Khi đầy nguyên liệu trong thùng, sensor báo mức phát tín hiệu để ngừng
hoạt động của gầu tải 4 và vít tải 3. Tuy nhiên để đảm bảo hết sạch loại nguyên
liệu đó trong thùng chứa 1, vít tải 2 và gầu tải 4, khi sensor mức phát tín hiệu phải
có độ trễ nhất định mới dừng vít tải 2 sau đó là gầu tải 4. Thời gian trễ là bao nhiêu
sẽ được xác định thông qua thử nghiệm, nhưng ước chừng khoảng 20 – 25 giây.
Như vậy thiết bị phân phối nguyên liệu vào các thùng chứa 6 phải có khả
năng quay và tự động định hướng dòng nguyên liệu vào bất kỳ một trong tám
thùng chứa theo lệnh của người điều khiển, vì trong quá tình làm việc việc hết
nguyên liệu ở các thùng là hoàn toàn ngẫu nhiên.

hoạt động để cấp nguyên liệu vào cân. Để đảm bảo độ chính xác của quá trình cân,
tốc độ của các vít tải cấp liệu được tự động điều khiển thông qua biến tần với
nguyên tắc vít tải làm việc ở độ cực đại khi đạt khoảng 90% khối lượng yêu cầu,
10% còn lại tốc độ của vít tải giảm dần.
Sai số của từng loại nguyên liệu và sai số của tổng một mẻ cân sẽ được máy
tính tự động hiệu chuẩn và quá trình hiệu chuẩn sẽ được hiệu chỉnh dần ngay ở các
mẻ cân tiếp theo. Khi cân hết một loại nguyên liệu, màn hình hiển thị tự động
chuyển về 0 để tiếp tục cân loại nguyên liệu 2, màn hình hiển thị tổng của một mẻ
Nguyễn Thái Thanh : Kĩ thuật điện 3 – K54 Page 10
Báo cáo thực tập kĩ thuật : Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch
giữ nguyên và tiếp tục hiển thị số lượng cộng dồn của các nguyên liệu tiếp theo.
Khi cân định lượng xong cho một mẻ chế biến, tất cả các màn hình tự động chuyển
về 0 để chuẩn bị cân mẻ tiếp theo.
Yêu cầu: Trong bộ nhớ, chương trình phải ghi nhận được khối lượng của từng loại
nguyên liệu và của từng mẻ cân để cuối ca sản xuất hoặc khi cần người quản lý có
thể biết được khối lượng từng loại nguyên liệu đã sử dụng và đã chế biến được bao
nhiêu mẻ.
Sau khi cân xong cho một mẻ chế biến (với dộ trễ khoảng 15-20 giây) van
xả dưới đáy cân 9 được mở, toàn bộ hỗn hợp được xả xuống thùng chứa 10. Dự
kiến thời gian xả liệu từ cân xuống thùng 10 khoảng 25-30 giây. Sau khi xả xong,
cửa dưới cân được đóng lại và tiếp tục cân cho mẻ chế biến tiếp theo. Nguyên liệu
ở thùng 10 đươc vít tỉa 11, gầu tải 12 lấy và cấp lên thùng nào thì chuyển van hai
ngả 13 hướng nguyên liệu vào thùng đó. Hệ thống này hoạt động liên tục, cần tính
toán năng suất của vít tải 11 và gầu tải 12 sao cho nguyên liệu ở thùng 10 vừa hết
cũng là lúc cân cộng dồn 9 cân xong một mẻ với thời gian trễ 15-20 giây.
Để bảo đảm chính xác cho quá trình hoạt động và không được lẫn mẻ (điều
này tuyệt đối không được phép), ở thùng chứa 10 có gắn sensor mức. Khi hết
nguyên liệu ở thùng 10 thì van xả dưới đáy cân 9 mới được mở.
Liên động: Liên động giữa các thiết bị gầu tải 12 và vít tải 11.
3. Công đoạn nghiền.

Liên động theo trình tự khởi động gầu tải 22, vít tải 18, máy nghiền 16 và cấp liệu
15. Khi tắt máy - theo trình tự ngược lại.
Ở chết động tự động, khi khởi động để tránh quá tải lúc ban đầu cho máy nghiền,
động cơ cơ cấu cấp liệu chỉ làm việc ở tần số 25-30 Hz, sau đó tự động tăng lên
phụ thuộc vào dòng điện định mức của động cơ máy nghiền.
Để thuận tiện cho quá trình vận hành, nên có nút điều khiển bằng tay tốc độ của cơ
cấu cấp liệu 15.
4. Công đoạn cân định lượng và các vi lượng.
Các nguyên liệu không cần nghiền (bột cá, bột đá, DCP và vi lượng tổng
hợp) được cấp thủ công vào gầu tải 21 để chuyển lên hệ thống thùng chứa 25 và 26
và được tiến hành cùng lúc với việc cấp nguyên liệu vào hệ thống thùng chứa 7.
Tức công việc này phải được tiến hành trước khi dây chuyền vào hoạt động.
Nguyễn Thái Thanh : Kĩ thuật điện 3 – K54 Page 12
Báo cáo thực tập kĩ thuật : Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch
Thể tích của các thùng chứa 25 và 26 đã được tính toán để chứa đủ lượng
phụ gia cần thiết cho một ca chế biến. Như vậy trong quá trình chế biến không
được cấp nguyên liệu vào các thùng chứa 25 và 26. Nếu cần thiết phải cấp thì phải
dừng tất cả các thiết bị máy móc từ gầu tải 22 về trước. Vì trong quá trình chế biến,
nguyên liệu sau khi nghiền được gầu tải 22 lấy và thông qua van hai ngả 23 đưa
đến thùng chứa 32 để chuẩn bị trộn.
Song song với việc định lượng các nguyên liệu thô cho một mẻ chế biến tại
cân 9, công đoạn định lượng các phụ gia ở các thùng chứa 25 và 26 cũng được tiến
hành. Ở đây có tất cả 8 thùng chứa: 4 thùng lớn và 4 thùng nhỏ. 4 thùng lớn dùng
để chứa bột cá, 2 thùng nhỏ chứa bột đá, 1 thùng nhỏ chứa DCP và thùng nhỏ còn
lại chứa vi lượng tổng hợp. Quá trình định lượng được tiến hành và điều khiển
tương tự như định lượng các nguyên liệu thô. Ở đây sẽ cân bột cá trước. Vì có 4
thùng chứa bột cá và được bố trí 3 thùng lấy ra nhanh và một thùng lấy ra chậm
làm nhiệm vụ vi chỉnh. Như vậy, cùng một lúc chỉ lấy bột cá ở hai thùng, 1 nhanh
và 1 chậm. Khi đã cân được khoảng 90% khối lượng bột cá cần thiết thì vít tải ở
đáy thùng nhanh dừng lại, chỉ còn vít tải ở thùng chậm làm việc cho đến khi đủ thì

tục cho mẻ trộn khác.
• Yêu cầu: Tại cửa đóng mở cửa xả nguyên liệu ở đáy máy trộn (hai của
hoạt động đồng thời với nhau nhưng điều khiển độc lập) có lắp các công
tắc hành trình để xác định vị trí đóng hết và mở hết của cửa, do vậy trên
tủ điều khiển cũng phải có đèn hiệu báo hiệu trạng thái đóng hết, mở hết
của cửa xả máy trộn.
Sản phẩmTAGS dạng bột ở thùng 34 được vít tải 35 và gầu tải 36 chuyển tải
đến thùng chứa sản phẩm 50 để chuẩn bị đóng bao hoặc chuyển đến thùng chứa 38
để chuẩn bị ép viên. Việc điều phối này được thực hiện tùy thuộc vào yêu cầu sản
xuất và thông qua van hai ngả 37.
Theo thiết kế, thùng chứa 38 có dung tích là 15m
3
chứa được khoảng 10 tấn
bột, như vậy sau khi đã cấp đầy thùng 38, cùng một lúc dây chuyền sản xuất ra hai
loại sản phẩm dạng bột và viên.
6. Công đoạn sản xuất thức ăn viên.
Quá trình sản xuất thức ăn viên được thực hiện như sau: Khi van trượt dưới
thùng chứa 38 mở, bột từ thùng chứa 38 được vít tải cấp liệu của máy ép viên lấy
và cấp vào thiết bị trộn hơi ẩm và từ đó xuống máy ép viên. Viên sau khi ép được
đưa vào thiết bị làm mát 41 thông qua van chặn khí 40. Tại đây, thông qua mức
trên và mức dưới, viên được lưu lại trong thiết bị làm mát 10-15 phút.
Nguyễn Thái Thanh : Kĩ thuật điện 3 – K54 Page 14
Báo cáo thực tập kĩ thuật : Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch
Ở đây lắp đặt 2 sensor mức. Sensor mức trên cảnh báo nguy hiểm. Khi
sensor quay, mọi việ diễn ra bình thường. Khi sensor ngừng quay, tức máy làm mát
viên đã chứa quá nhiều viên, do vậy phải lập tức đóng van trượt dưới đáy thùng 38,
ngừng hoạt động vít tải cấp liệu, bộ trộn hơi và bộ phận ép viên. Khi sensor quay
thì lập tức dừng xả viên (tức van điện từ không làm việc - ở vị trí trung gian). Khi
sensor quay thì quá tình lặp lại như trên. Vị trí của sensor mức dưới có thể điều
chỉnh lên xuống theo chiều thẳng đứng qua đó điều chỉnh được lượng viên và thời

ngược lại.
Lắp đặt liên động giữa sàng viên 48 và gầu tải 47.
Dưới thiết bị làm mát là thùng chứa cùng cơ cấu ra liệu 42 với mục đích lấy
và cấp điều viên vào thiết bị tiếp theo. Vì như đã nói ở trên, cơ cấu ra viên ở máy
làm mát là gián đoạn, để bảo đảm cấp điều viên sau khi làm mát phải có thùng
chứa và cơ cấu ra viên 42.
Dòng không khí đi qua máy làm mát viên 41 được tạo ra bởi quạt hút 46
thông qua cyclon 45. Bụi cám lắm trong cyclon được van khí 44 láy và đưa quay
trở lại máy ép viên.
Viên sau khi được làm mát có hai khả năng xảy ra tùy thuộc vào yêu cầu của
sản xuất.
1. Đưa qua máy làm vỡ viên 43 để làm nhỏ viên ra, sau đó được gầu tải 47
lấy đưa lên sang phân loại 48. Sau khi sàng mảnh to và bột được đưa quay trở lại
máy ép viên, sản phẩm đạt yêu cầu xuống thùng chứa 51.
2. Viên không đưa qua máy làm vỡ viên. Trong trường hợp này điều khiển
(bằng khí) tấm hướng liệu trong máy ép viên để viên đi ra ngoài, không khí vào
giữa hai quả lô bẻ viên nữa. Sau đó viên cũng được gầu tải 47 lấy đưa lên sàng
phân loại 48 để làm sạch bột. Bột đưa quay trở lại máy ép viên và viên xuống
thùng chứa 51.
7. Công đoạn đóng bao.
Sản phẩm của dây chuyền được đóng bao 5; 25 và 50kg và được cân bằng
các máy cân đóng bao tự động tương ứng. Tuy nhiên, việc cân, đóng bao cũng có
thể thực hiện thủ công.
Yêu cầu kỹ thuật chung.
Nguyễn Thái Thanh : Kĩ thuật điện 3 – K54 Page 16
Báo cáo thực tập kĩ thuật : Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch
1. Các máy trong dây chuyền được điều khiển hoàn toàn tự động hoặc điều
khiển thủ công (bằng tay) tại trung tâm điều khiển.
2. Các máy được điều khiển liên động theo quy trình công nghệ.
3. Các van đóng mở có lắp công tắc hành trình thông báo các van đã đóng

của các máy thể hiện trong chương trình mô phỏng là ở trạng thái động.
8. Các thiết bị điện dùng trong dây chuyền :
- Phòng điều khiển :Gồm tủ điều khiển,tủ phân phối,tủ bù…
+)Phần mềm điều khiển :
Nguyễn Thái Thanh : Kĩ thuật điện 3 – K54 Page 18
Báo cáo thực tập kĩ thuật : Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch
Tủ điều khiển
Nguyễn Thái Thanh : Kĩ thuật điện 3 – K54 Page 19
Báo cáo thực tập kĩ thuật : Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch
Bên trong tủ điều khiển
*)Trong tủ điện bao gồm các thiết bị điện đóng cắt như aptomat . công tắc tơ , rơle
các loại
Nguyễn Thái Thanh : Kĩ thuật điện 3 – K54 Page 20
Báo cáo thực tập kĩ thuật : Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch
+) Aptomat : dùng để cắt mạch có sự cố , hai công tắc tơ đảo chiều động cơ điện
(aptomat dùng để bảo vệ hai công tắc tơ dùng để đảo chiều động cơ)
+) rơle thời gian dùng để đổi tổ nối dây sao tao giác khi khởi động động cơ
Nguyễn Thái Thanh : Kĩ thuật điện 3 – K54 Page 21
Báo cáo thực tập kĩ thuật : Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch
+) các rơle thời gian dùng để ngắn mạch phụ tải trong quá trình mở máy bằng phụ
tải . rơle nhiệt để bảo vệ hệ thống khi quá tải, rơle trung gian dùng để chia tín hiệu
từ rơle chính đến nhiều bộ phận khác trong quá trình điều khiển
+) Tủ bù công suất dùng để tăng hệ số cosφ
Bên ngoài tủ bù có hộp điều khiển và các nút ấn.
Có thể để chế độ bù tự động hoặc bù bằng tay.Bù tự động Auto thì hộp điều khiển
tụ bù sẽ tự đống đóng và cắt các tụ với lưới theo một hệ số cos fi mà ta quy định từ
trước,còn bù bằng tay thì ta sẽ tự đóng công tắc tương ứng với số tụ ở trong tủ the
yêu cầu riêng của từng trường hợp.
Nguyễn Thái Thanh : Kĩ thuật điện 3 – K54 Page 22
Báo cáo thực tập kĩ thuật : Viện cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status