Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung
LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ năm 1986 cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã bước sang một hướng mới, đó là
chuyển từ nền kinh tế với cơ chế quản lý tập trung sang nền kinh tế thị trường. Trong bối cảnh
như vậy các doanh nghiệp sản xuất đang đứng trước những thử thách gay gắt của quy luật
cạnh tranh. Do vậy trong điều kiện hiện nay, muốn tồn tại và phát triển được trong sự khắc
nghiệt của nền kinh tế thì doanh nghiệp phải nắm bắt được thị trường, tạo chỗ đứng cho sản
phẩm của mình trên thị trường. Để đạt được mục đích tiêu đó, các doanh nghiệp cần phải có
một hệ thống quản lý tài chính cung cấp thông tin chính xác để ra quyết định đứng đắn trong
quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Trong đó, hạch toán kế toán là một bộ phận chức
năng, một công cụ có tầm quan trọng với vai trò “ Thực hiện kiểm tra và xử lý thông tin cung
cấp cho lãnh đạo và các cơ quan quản lý kinh doanh phục vụ cho công tác quản lý. Hạch toán
kế toán như một phần thông tin kinh tế quan trọng cấu thành hệ thống thông tin kinh tế của
đơn vị”. Và để có thể tạo chỗ đứng cho sản phẩm và cạnh tranh được với các doanh nghiệp
trên thị trường thì doanh nghiệp phải quan tâm đến các khâu của quá trình sản xuất kinh
doanh, đặc biệt là chất lượng sản phẩm v.v Không những thế doanh nghiệp còn phải tổ chức
tốt hạch toán chi phí sản xuất và tính giá sản phẩm nhằm đánh giá được mọi khía cạnh và chi
tiết của các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, từ đó tìm ra
nguyên nhân và có những biện pháp thích hợp phát huy các yếu tố tích cực, hạn chế các yếu tố
tiêu cực để tiết kiệm chi phí sản xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm một cách có hiệu quả. Có
như vậy, doanh nghiệp mới đạt chỉ tiêu lợi nhuận và có thể mở rộng sản xuất để có thể tăng
sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Trong công tác quản trị doanh nghiệp, kế toán
được coi là một công cụ quan trọng nhất phục vụ đắc lực cho các nhà quản trị doanh nghiệp,
trong đó công tác tính giá thành sản phẩm là một phần kế toán quan trọng đối với tất cả các
doanh nghiệp sản xuất bởi thông qua khâu này, doanh nghiệp xác định được hao phí bỏ ra
trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu.
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của phân kế toán này nên em đã chọn đề tài
“Bàn về các phương pháp giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất” làm đề án
cho mình.
Nội dung đế án gồm 02 phần:
Chương I: Tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp theo chế độ kế toán hiện
xuất là điều kiện quan trọng để hạ giá thành sản phẩm. Xét về bản chất, giá thành sản xuất là
lượng hao phí lao động kết tinh trong sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn thành được bằng tiền. Giá
thành vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Tính khách quan của giá thành sản
phẩm dịch vụ thể hiện ở chỗ nó là sự dịch chuyển giá trị của những tư liệu sản xuất và sự hao
phí lao động sống trong quá trình thực hiện sản phẩm dịch vụ. Tính chủ quan của giá thành
thể hiện ở chỗ: việc tính toán đo lường hao phí lao động và việc phân bổ các hao phí lao động
được thể hiện bằng tiền cho các đối tượng. Việc tính toán này có chính xác hay còn phụ thuộc
rất nhiều vào người làm công tác kế toán ở doanh nghiệp. Trên góc độ quản lý doanh nghiệp,
giá thành sản phẩm dịch vụ là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng công tác của
doanh nghiệp. Mức hạ giá thành phản ánh tình hình tiết kiệm các loại vật tư, tiền vốn và tiết
kiệm hao phí lao động của doanh nghiệp. Trên góc độ kinh tế, giá thành là thước đo chi phí và
khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp. Sở dĩ như vậy là vì trong điều kiện giá bán không
SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914
2
Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung
đổi, hạ giá thành sẽ tăng lợi nhuận và ngược lại. Để nghiên cứu giá thành được tốt, trước hết
phải nghiên cứu đánh giá được kết cấu giá thành sản phẩm dịch vụ. Kết cấu giá thành sản
phẩm là tỷ trọng các khoản mục giá thành so với tổng giá thành sản phẩm. Mỗi loại sản phẩm,
mỗi ngành nghề khác nhau có những đặc điểm khác nhau nên kết cấu giá thành cũng khác
nhau. Do đó, trong quá trình quản lý và phân tích tính giá thành phải căn cứ vào đặc điểm của
từng ngành cụ thể để đánh giá công việc. Để phục vụ cho công tác kế toán cũng như công tác
quản lý tính giá thành sản phẩm dịch vụ, cần phải nghiên cứu các loại giá thành sản phẩm dịch
vụ. Thông thường người ta phân loại giá thành sản phẩm dịch vụ như sau:
2.2.1. Phân loại theo thời điểm tính giá và nguồn số liệu để tính giá thành.
- Giá thành kế hoạch : Giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên
cở sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch.
- Giá thành định mức : Cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được xác định
trước khi bắt đầu vào sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên khác với giá thành kế hoạch được xây
dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch,
giá thành định mức được xác định trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại các thời
mặt hàng, từng loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉ còn mang tính học thuật, nghiên cứu.
SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914
3
Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM.
3.1. Xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm.
Do có sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong hạch toán chi phí sản xuất
và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị, việc hạch toán quá trình sản xuất
có thể phân thành 2 giai đoạn là giai đoạn xác định đối tượng tập hợp chi phí và xác định đối
tượng tính giá thành sản phẩm. Về thực chất xác định đối tượng tính giá thành chính là việc
xác định thành phẩm, bán thành phẩm, công việc lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành
một đơn vị. Đối tượng đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên
dây chuyền sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm. Để
phân biệt được đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành ngay cả khi
chúng đồng nhất là một, cần dựa vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất (giản đơn hay
phức tạp), vào loại hình sản xuất (đơn chiếc, hàng loạt), vào yêu cầu và trình độ quản lý, tổ
chức kinh doanh (cao hay thấp)…
3.2. Xác định phương pháp tính giá thành sản phẩm.
Do có sự khác nhau cơ bản giữa đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính
giá thành sản phẩm, về cơ bản, phương pháp tính giá thành bao gồm các phương pháp sau:
a. Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp giản đơn):
- Điều kiện áp dụng: Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình
sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn
như các nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác (quặng, than, gỗ…) Đối tượng hạch
toán chi phí ở các doanh nghiêp này là từng loại sản phẩm hay dịch vụ.
- Trình tự tính toán: Giá thành sản phẩm theo phương pháp này được tính bằng cách trực tiếp
lấy tổng số chi phí sản xuất cộng (+) hoặc trừ (-) số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm dở dang
đầu kỳ so với cuối kỳ chia cho số lượng sản phẩm hoàn thành.
-Ưu điểm: Đơn giản, dễ tính toán.
- Nhược điểm: Không áp dụng được với loại hình doanh nghiệp phức tạp.
Giá thành đơn vị
sản phẩm gốc (Zoi)
x
Hệ số quy đổi
sản phẩm I (Hi)
Trong đó: Qo =∑Qi x Hi
Và Qi là số lượng sản phẩm I (chưa quy đổi).
Tổng giá thành
sản xuất của các
loại sản phẩm
=
Giá trị
sản phẩm
dở dang đầu kỳ
+
Tổng chi phí
sản xuất
phát sinh trong kỳ
-
Giá trị
sản phẩm
dở dang cuối kỳ
- Ưu điểm: Thuận tiện cho những doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm khác nhau nhưng
cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và nhân công.
- Nhược điểm: Không tập hợp chi phí riêng cho từng loại sản phẩm được.
d. Phương pháp tỷ lệ :
- Điều kiện áp dụng: Trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy cách, phẩm
chất khác nhau như : may mặc, dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế tạo (dụng cụ, phụ tùng…)… để
giảm bớt khối lượng hạch toán, kế toán thường tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm
sản phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất kế
chính dở dang
đầu kỳ
+
Tổng chi phí
sản xuất phát
sinh trong kỳ
-
Giá trị sản
phẩm phụ
thu hồi
-
Giá trị sản
phẩm chính dở
dangcuối kỳ
- Ưu điểm: Công việc tính toán nhanh gọn, chính xác.
- Nhược điểm: Phạm vi áp dụng hẹp.
f. Phương pháp liên hợp :
- Điều kiện áp dụng: Trong những doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, tính chất qui trình công
nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành phải kết hợp nhiều phương pháp
khác nhau như các doanh nghiệp hoá chất, dệt kim, đóng giầy, may mặc…
- Trình tự tính toán: Kế toán có thể kết hợp các phương pháp trực tiếp với tổng cộng chi phí,
tổng cộng chi phí với tỷ lệ , hệ số với loại trừ sản phẩm phụ …
- Ưu điểm: Do có thể kết hợp được nhiều phương pháp nên việc tính toán trở nên linh hoạt.
- Nhược điểm: Dễ xảy ra sai sót.
3.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu.
Trên cơ sở các phương pháp chung để tính giá thành sản phẩm, kế toán cần lựa chọn và
áp dụng vào từng loại hình doanh nghiệp cho phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất, đặc
điểm qui trình công nghệ cũng như đối tượng hạch toán chi phí.
Sau đây xin giới thiệu phương pháp tính giá thành sản phẩm áp dụng trong một số loại
hình doanh nghiệp chủ yếu:
Tổng giá thành sản xuất của các loại sản phẩm
Tổng số sản phẩm hoàn thành
- Ưu điểm: Tính toán nhanh, đơn giản, không đòi hỏi trình độ cao.
- Nhược điểm: phạm vi áp dụng hẹp.
3.3.2. Doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng.
- Điều kiện áp dụng: Phương pháp này được áp dụng đối với những doanh nghiệp có tổ chức
sản xuất theo đơn chiếc hoặc là hàng loạt mặt hàng, sản phẩm nhiều nhưng không ổn định, sản
xuất theo đơn đặt hàng của người mua sau 1 lần sản xuất không sản xuất lại nữa.
-Phương pháp tính giá thành tuỳ theo tính chất và số lượng sản phẩm của từng đơn sẽ áp dụng
phương pháp thích hợp như phương pháp trực tiếp, phương pháp hệ số, phương pháp tổng
cộng chi phí hay phương pháp liên hợp …
Đặc điểm của việc hạch toán chi phí trong các doanh nghiệp này là toàn bộ chi phí sản
xuất phát sinh đều được tập hợp theo từng đơn đặt hàng, không kể số lượng sản phẩm của đơn
đặt hàng nhiều hay ít, quy trình công nghệ giản đơn hay phức tạp. Đối với các chi phí trực tiếp
(nguyên vật liệu, nhân công) phát sinh trong kỳ liên quan trực tiếp đến đơn đặt hàng nào thì
hạch toán trực tiếp cho đơn đặt hàng đó theo các chứng từ gốc (hay bảng phân bổ chi phí). Đối
với chi phí sản xuất chung, sau khi tập hợp xong sẽ phân bổ cho từng đơn theo tiêu chuẩn phù
hợp (giờ công sản xuất, nhân công trực tiếp…)
Việc tính giá thành ở trong các doanh nghiệp này chỉ tiến hành khi đơn đặt hàng hoàn
thành nên kỳ tính giá thành thường không nhất trí với kỳ báo cáo. Đối với những đơn đặt hàng
đến kỳ báo cáo cho hoàn thành thì toàn bộ chi phí đã tập hợp theo đơn đó đều coi là sản phẩm
dở dang cuối kỳ chuyển kỳ sau. Đối với những đơn đặt hàng đã hoàn thành thì tổng chi phí tập
hợp được theo đơn đó chính là tổng giá thành sản phẩm của đơn vị và giá thành đơn vị sẽ tính
bằng cách lấy tổng giá thành sản phẩm của đơn vị chia cho số lượng sản phẩm trong đơn. Tuy
nhiên, trong một số trường hợp cần thiết, theo yêu cầu công tác quản lý cần xác định khối
lượng công việc hoàn thành trong kỳ thì đối với những đơn đặt hàng chỉ mới hoàn thành một
phần, việc xác định sản phẩm dở dang của đơn vị đó có thể dựa vào giá thành kế hoạch (hay
định mức) hoặc theo mức độ hoàn thành của đơn.
- Ưu điểm: Việc tính toán giản đơn, chi phí sản xuất được tập hợp theo từng đơn đặt hàng do
đó thuận tiện cho việc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất của đơn hàng.
- Trình tự tính toán: Trong những doanh nghiệp này, phương pháp hạch toán chi phí thích hợp
nhất là hạch toán theo bước chế biến (giai đoạn công nghệ) .Theo phương pháp này, chi phí
sản xuất phát sinh thuộc giai đoạn nào sẽ được tập hợp cho giai đoạn đó. Riêng với chi phí sản
xuất chung sau khi được tập hợp theo phân xưởng sẽ được phân bổ cho các bước theo tiêu
thức phù hợp. Tuỳ theo tính chất hàng hóa của bán thành phẩm và yêu cầu công tác quản lý,
chi phí sản xuất có thể tập hợp theo phương án có bán thành phẩm và theo phương án không
có bán thành phẩm. Phương pháp tính giá thành thường là phương pháp trực tiếp kết hợp
phương pháp tổng cộng chi phí hay hệ số (hoặc tỷ lệ).
- Ưu điểm: Có thể kiểm tra chi phí sản xuất phát sinh ở bất kỳ giai đoạn nào.
- Nhược điểm: Công việc tính toán tương đối phức tạp
3.3.4.1.Tính giá thành phân bước theo phương án hạch toán có bán thành phẩm.
- Điều kiện áp dụng: Phương án hạch toán này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có
yêu cầu hạch toán nội bộ cao hoặc bán thành phẩm bán ra ngoài.
- Trình tự tính toán: Khi tập hợp chi phí sản xuất của các giai đoạn công nghệ, giá trị bán
thành phẩm của các bước trước chuyển sang bước sau được tính theo giá thành thực tế và
được phản ánh theo từng khoản mục cho đến bước cuối cùng tính ra giá thành thành phẩm nên
còn gọi là kết chuyển tuần tự. (Mỗi công đoạn sản phẩm đều được tính giá thành theo phương
pháp giản đơn trên cơ sở số liệu về chi phí sản xuất tập hợp được ở những tài khoản kế toán
chi tiết trong từng công đoạn. Bán thành phẩm công đoạn trước kết chuyển sang công đoạn
sau tuần tự đến giai đoạn cuối cùng. Nếu kết chuyển từ công đoạn nọ sang công đoạn kia là
bán thành phẩm (gọi là kết chuyển tuần tự tổng hợp) thì đến công đoạn thành phẩm phải hoàn
nguyên chi phía sản xuất cấu thành bán thành phẩm ở các công đoạn mới tính giá thành sản
xuất của thành phẩm theo khoản mục giá thành. Nếu kết chuyển bán thành phẩm từ công đoạn
SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914
8
Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung
nọ sang công đoạn kia theo các khoản mục chi phí cấu thành giá (gọi là kết chuyển tuần tự
từng khoản mục ) thì đến công đoạn cuối tính ngay được giá thành sản xuất của thành phẩm
theo khoản mục.
- Ưu điểm: Kế toán có thể tính được giá thành nửa thành phẩm tự chế ở mỗi giai đoạn công
Theo phương pháp này trước hết tính giá thành đơn vị ban đầu của từng bộ phận sản
xuất kinh doanh phụ và xác định giá trị phục vụ lẫn nhau giữa chúng. Tiếp theo, xác định giá
SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914
9
Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung
trị sản phẩm, lao vụ của sản xuất phụ phục vụ cho các bộ phận khác theo giá thành đơn vị
mới.
Giá
thành
đơn vị
=
Tổng chi phí
ban đầu
+
Giá trị lao vụ nhận của phân
xưởng sản xuất phụ khác
-
Giá trị lao vụ phục vụ cho
phân xưởng sản xuất phụ khác
Sản lượng
ban đầu
-
Sản lượng phục vụ phân xưởng sản xuất phụ khác và tiêu dùng
nội bộ (nếu có)
- Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành kế hoạch: Trình tự tính giá thành tương tự
như phương pháp trên, chỉ khác thay giá thành đơn vị ban đầu bằng giá thành đơn vị kế hoạch
để tính giá trị phục vụ giữa các phân xưởng sản xuất - kinh doanh phụ. Tiếp theo xác định giá
trị phục vụ cho các đối tượng khác theo giá thành đơn vị mới.
4.Các phương pháp đánh giá lại sản phẩm dở dang.
Các doanh nghiệp sản xuất liên tục, sản phẩm của doanh nghiệp từ kỳ này sang kỳ khác
4.2.Đánh giá khối lượng sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương
đương .
- Điều kiện áp dụng: Theo phương pháp này căn cứ vào mức độ hoàn thành và số lượng sản
phẩm dở dang để quy sản phẩm dở dang thành sản phẩm hoàn thành. Tiêu chuẩn quy đổi
thường dựa vào giờ công hoặc tiền lương định mức. Để đảm bảo tính chính xác của việc đánh
giá, phương pháp này chỉ nên áp dụng để tính các chi phí chế biến (Chi phí nhân công trực
SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914
10
Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung
tiếp, chi phí sản xuất chung) còn các chi phí nguyên vật liệu chính phải xác định theo số thực
tế đã dùng.
- Trình tự tính toán
Giá trị NVL chính nằm
trong sp dở dang
=
Toàn bộ giá trị VL chính xuất dùng
x
Số lượng
Số lượng thành
phẩm
+
Số lượng dở
dang
- Ưu điểm: Phương pháp này tính toán chính xác và khoa học hơn phương pháp trên.
- Nhược điểm: Khối lượng tính toán nhiều, việc đánh giá mức độ chế biến hoàn thành của sản
phẩm dở dang khá phức tạp và mang tính chủ quan.
4.3. Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chế biến
Thực chất đây là một dạng của phương pháp ước tính theo sản lượng hoàn thành tương
đương trong đó giả định sản phẩm dở dang đã hoàn thành ở mức độ 50% so với thành phẩm:
Giá trị sp dở dang chưa hoàn
11
Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung
Giá thành thực tế
sản phẩm
=
Giá thành
định mức
x
Chênh lệch do thay
đổi định mức
x
Chênh lệch do thoát ly
định mức
- Ưu điểm: Tính toán nhanh chóng, thuận tiện, đáp ứng yêu cầu thông tin tại mọi thời điểm.
- Nhược điểm: Độ chính xác của kết quả tính toán không cao, khó áp dụng vì thông thường
khó xác định được định mức chuẩn xác.
Ngoài ra trên thực tế, nguời ta còn áp dụng các phương pháp khác để xác định giá trị
sản phẩm dở dang như phương pháp thống kê kinh nghiệm, phương pháp tính theo chi phí vật
liệu chính và vật liệu phụ nằm trong sản phẩm dở dang v.v…
5. Kế toán tính giá thành.
Theo chế độ kế toán hiện hành việc sử dụng các tài khoản kế toán để tổng hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản xuất của sản phẩm phụ thuộc vào doanh nghiệp sử dụng phương
pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ hàng tồn kho. Sự khác nhau về
sử dụng tài khoản kế toán và trình tự ghi chép kế toán được khái quát như sau:
5.1. Phương pháp kê khai thường xuyên.
Sau khi đã hạch toán và phân bổ các loại chi phí sản xuất, cuối cùng, các chi phí đó
phải được tổng hợp lại để tính giá thành sản phẩm.
Tài khoản sử dụng để tập hợp chi phí sản xuất là Tài khoản 154 – Chi phí sản xuất kinh
doanh dở dang. Nội dung tài khoản:
Bên Nợ: Tập hợp chi phí sản xuất trong kỳ
Trình tự kế toán được thể hiện trong sơ đồ sau:
TK 154 TK 631
SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914
13
TK 157
Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung
Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ
TK 621
Chi phí nguyên vật liệu TT Sản phẩm hoàn thành
Giá thành thực tế thành phẩm nhập kho
TK 622
Chi phí nhân công TT
TK 627
Chi phí sản xuất chung
6. Lập bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm.
- Bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm là phương tiện để kế toán ghi chép, phản ánh việc
tính giá thành (chứng từ nghiệp vụ nội sinh) đồng thời là phương tiện cung cấp thông tin về
sản lượng sản xuất và giá thành sản xuất của sản phẩm đã sản xuất được phục vụ cho yêu cầu
quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm nhằm phản ánh được kết quả sản xuất và tình
hình thực hiện kế hoạch giá thành nên đòi hỏi kế toán phải lập các bảng tính giá thành cho
từng loại sản phẩm sản xuất và các khoản mục giá thành (các khoản mục chi phí cấu thành
giá) đã xác định hoặc quy định, thể hiện khi xây dựng kế hoạch giá thành.
- Căn cứ để lập bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm: muốn lập được các bảng tính giá
thành kế toán phải căn cứ vào Biên bản kiêm kê, đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ đã kiểm
kê đánh giá được. Trong biên bản kiểm kê phải ghi rõ chi phí cấu thành giá của sản phẩm dở
dang đã tính được và căn cứ vào sổ chi tiết của chi phí SX phát sinh trong kỳ.
- Bảng tính giá thành SX của toàn bộ thành phẩm sản xuất được trong tháng chỉ phản ánh
tổng giá thành sản xuất thực tế của toàn bộ thành phẩm sản xuất được trong kỳ, số liệu trong
phụ
Tiền
lương
… … … … ….
.
A 1 2 3 4 5 6 7 8 9
1. CP SXKD DD đầu kỳ
2. CP SXKD FS trong kỳ
3.Giá thành SP, DV trong
kỳ
4. CP SXKD DD cuối kỳ
Người lập
(Ký, họ tên)
Ngày tháng năm
Kế toán trưởng
(Ký, họ tên)
Chương II : Hoàn thiện hệ thống phương pháp tính giá thành
trong các doanh nghiệp sản xuất.
SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914
15
Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung
I. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH
HIỆN NAY TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.
Trong nền kinh tế thị trường, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản
ánh chất lượng của sản xuất kinh doanh. Là cơ sở để xác định giá bán, tính trị giá vốn của
hàng bán và xác định kết quả sản xuất kinh doanh.Qua khảo sát thực tế ở một số doanh nghiệp
sản xuất, các doanh nghiệp hiện nay có những ưu điểm sau:
- Nhìn chung quá trình tính giá thành sản phẩm đã có những tiến bộ phù hợp với đặc điểm
kinh doanh của từng doanh nghiệp và chấp hành chế độ, chính sách thể lệ về tài chính kế toán
của Nhà nước. Các doanh nghiệp đều tôn trọng nguyên tắc giá phí trong việc xác định giá trị
+ Hệ thống kế toán mới ban hành và sửa đổi còn phải trải qua một quá trình nghiên cứu, thử
nghiệm mới có thể dần dần đi vào nề nếp ổn định.
+ Trình độ tổ chức quản lý, trình độ kế toán trong các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế và
không đồng đều.
II. THAM KHẢO THÊM PHƯƠNG PHÁP « CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG VÀ KINH
NGHIỆM VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP «CHI PHÍ MỤC TIÊU » Ở NHẬT BẢN.
Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm truyền thống dựa trên các khái niệm đơn giản
như chi phí trực tiếp/chi phí gián tiếp; chi phí cố định/chi phí biến đổi; chi phí định mức/chi
phí thực tế. Cách phân chia chi phí này được sử dụng nhằm phục vụ cho việc ra quyết định
như xác định kết quả theo sản phẩm hoặc quản trị hàng tồn kho. Sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học công nghệ, của môi trường kinh tế, tổ chức sản xuất và quản lý trong những năm gần
đây đã ảnh hưởng đáng kể các phương pháp kế toán chi phí truyền thống ở các nước trên thế
giới và Việt Nam có lẽ cũng không nằm ngoài trào lưu đó mặc dù mức độ ảnh hưởng có nhiều
khác biệt. Thật vậy, sự tiến triển của môi trường đã làm thay đổi điều kiện và yếu tố sản xuất:
- Trừ nguyên vật liệu, biến phí trực tiếp với khối lượng sản xuất hoặc tiêu thụ càng ngày càng
giảm;
- Trong nhiều trường hợp, việc phân loại chi phí thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp là
tương đối khó khăn đối với một doanh nghiệp sản xuất khi mà doanh nghiệp phân chia quá
trình sản xuất thành nhiều giai đoạn có mức độ độc lập cao;
- Khái niệm chi phí định mức chỉ có giá trị trong một môi trường tương đối ổn định. Trong
môi trường được gọi là “biến động không ngừng” như hiện nay, việc điều chỉnh định mức sẽ
diễn ra liên tục. Thực tế này dẫn đến sự xem xét lại thường xuyên định mức chi phí.
Như vậy, những lý do trên đây giải thích sự tiến triển của kế toán chi phí từ phương pháp
truyền thống thành những phương pháp hiện đại, được biết là phương pháp chi phí theo hoạt
động (Activity Based Costing, viết tắt là ABC), phương pháp chi phí mục tiêu (target costing).
Các phương pháp kế toán mới này được ứng dụng phổ biến ở những nước có công nghệ phát
triển cao như Mỹ, Nhật, Canada. Ngay cả các nước đang phát triển như Trung Quốc cũng bắt
đầu ứng dụng các phương pháp này. Hai phương pháp trên đây chưa được biết nhiều ở Việt
Nam, nơi mà môi trường kinh tế chưa phát triển và công nghệ sản xuất còn thấp. Tuy nhiên,
điều này không thể nói là các phương pháp mới này không được vận dụng ở các doanh nghiệp
tiêu chuẩn phân bổ chi phí hợp lý giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có được những báo cáo
về giá thành sản phẩm, dịch vụ với độ tin cậy cao hơn nhiều so với phương pháp truyền thống.
Tóm lại, phương pháp kế toán chi phí dựa trên các hoạt động đã cải tiến các hệ thống xác
định chi phí của một doanh nghiệp, đó là:
- Phương pháp xác định chi phí này làm thay đổi căn cứ để phân bổ các chi phí chung cho các
sản phẩm. Hay nói đúng hơn là thay vì các chi phí được phân bổ theo lao động trực tiếp thì
chúng được phân bổ theo các phần của các nhân tố nguyên nhân được dung cho sản phẩm
hoặc công việc đòi hỏi.
- Phương pháp xác định này thay đổi về bản chất rất nhiều loại chi phí sản xuất chung ở chỗ là
những chi phí này được xem là có bản chất gián tiếp nhưng nay được gắn liền với các hoạt
động riêng biệt và do vậy được tính trực tiếp vào từng sản phẩm.
Tuy nhiên, phương pháp ABC khá phức tạp và tốn nhiều công sức hơn phương pháp
truyền thống. Song, với khoa học công nghệ thông tin phát triển như hiện nay đã làm giảm
nhiều thời gian, công sức cho việc áp dụng phương pháp này. Do vậy, phương pháp kế toán
chi phí dựa trên hoạt động sẽ là tất yếu để các nhà quản trị doanh nghiệp vận dụng.
2.2 Phương pháp « chi phí mục tiêu »
2.2.1. Nội dung phương pháp
SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914
18
Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung
Phương pháp chi phí mục tiêu có nguồn gốc từ Nhật Bản. Phương pháp này đã được áp
dụng kể từ sau năm 1980 bởi các công ty lớn như Toyota, NEC, Sony và Nissan. Một tổ chức
quốc tế được thành lập do một số các tập đoàn công nghiệp lớn, gọi là Consortium for
Avanced Management-International (gọi tắt là CAM-I), để phát triển các phương pháp kế toán
quản trị hiện đại đã định nghĩa về chi phí mục tiêu như sau: “Phương pháp chi phí mục tiêu là
tổng thể các phương pháp, công cụ quản trị cho phép đạt được mục tiêu chi phí và mục tiêu
hoạt động ở giai đoạn thiết kế và kế hoạch hóa sản phẩm mới. Phương pháp cũng cho phép
cung cấp một cơ sở kiểm soát ở giai đoạn sản xuất và bảo đảm các sản phẩm này đạt được
mục tiêu lợi nhuận đã được xác định phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm”
Một điểm lưu ý trong định nghĩa này là chi phí mục tiêu liên quan đến khả năng lợi nhuận
tổng số chi phí của sản phẩm theo tỷ lệ thuận với mức độ quan trọng của nó. Lấy ví dụ sản
phẩm đồng hồ báo thức làm minh họa. Nhà quản trị phải xem xét tầm quan trọng (thông qua
cho điểm) của mỗi một trong các ưu tiên sau để quyết định phân bổ chi phí: tính chính xác,
mẫu mã, hoạt động yên lặng, chuông báo thức, độ bền vững.
2) Tổ chức thực hiện các mục tiêu chi phí đã xác định
Giai đoạn đầu liên quan đến quá trình phân tích. Giai đoạn thứ hai này liên quan đến tổ
chức thực hiện. Quá trình thực hiện chi phí sản xuất cần phải phát hiện những thành phần của
sản phẩm có chi phí quá cao so với tầm quan trọng được xác định ở bước thứ nhất. Quá trình
sản xuất những bộ phận này phải được điều chỉnh, áp dụng các nguyên tắc và phương pháp
quản lý nghiêm ngặt để giảm chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, ở giai đoạn này cũng cần phát
hiện các thành phần của sản phẩm có chi phí quá thấp so với tầm quan trọng của nó. Việc sản
xuất các thành phần này cũng được điều chỉnh cho phù hợp với tầm quan trọng của nó trong
sản phẩm sản xuất.
3) Đánh giá kết quả
Thực hiện quá trình sản xuất theo phương pháp chi phí mục tiêu có thể dẫn đến một trong
ba trường hợp sau:
- Chi phí thực tế đạt đến chi phí trần: cần phải dừng lại các hoạt động ở giai đoạn hai vì sản
phẩm sản xuất không mang lại lợi nhuận.
- Chưa đạt đến chi phí trần nhưng đạt đến chi phí mục tiêu: trong trường hợp này, cần xem xét
lại giai đoạn một và giai đoạn hai. Phải xem xét kỹ quá trình phác họa sản phẩm đã hợp lý
chưa hoặc xem xét lại các bước trong giai đoạn sản xuất để giảm chi phí. Ví dụ các phương
pháp có thể được vận dụng ở giai đoạn sản xuất nhằm làm cho chi phí thực tế nhỏ hơn chi phí
mục tiêu
o Kế hoạch hóa tốt hơn quá trình chế tạo sản phẩm;
o Lựa chọn đầu tư hợp lý;
o Lựa chọn công nghệ phù hợp mang lại hiệu suất cao;
o Vận dụng hệ thống sản suất “kịp thời” (Just-in time) để loại trừ các chi phí phát
sinh do chờ đợi các yếu tố sản xuất, chờ đợi một giai đoạn nào đó hoặc do dự trữ
quá cao.
o Hệ thống quản trị chất lượng tổng thể để tránh lãng phí chi phí.
Từ những đánh giá có tính khái quát về thực trạng công tác kế toán tính giá thành sản
phẩm trong các doanh nghiệp hiện nay cũng như nguyên nhân chủ yếu của những thực trạng
đó, để có thể đưa ra những phương hướng hoàn thiện đúng đắn trước hết trong chương này sẽ
phải phân tích yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện.
- Phải dựa trên cơ sở tuân thủ các qui định, thể lệ và chính sách tài chính kế toán của Nhà
nước và của ngành đã ban hành. Quán triệt yêu cầu này sẽ tạo điều kiện cho công tác kế toán
nói chung và kế toán tính giá thành nói riêng đi vào nề nếp, tôn trọng các chính sách kế toán
tài chính. Kế toán – một công cụ quan trọng được sử dụng để quản lý quá trình sản xuất kinh
doanh. Bởi vậy, việc đưa ra một phương án nào cũng phải phù hợp và tuân thủ chế độ. Người
ta không thể áp dụng một phương án nào đó vi phạm chế độ chính sách chế độ chính sách kế
toán tài chính. Mặt khác, quán triệt yêu cầu này sẽ đảm bảo cho việc kiểm tra, kiểm soát của
Nhà nước và của ngành đối với công tác kế toán của doanh nghiệp, tạo điều kiện thống nhất
trong công tác chỉ đạo, lãnh đạo hoạt động kế toán tài chính.
- Phải xuất phát từ đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của ngành và phù hợp với
tính chất của sản phẩm dịch vụ mà từng doanh nghiệp thực hiện. Mỗi ngành, mỗi doanh
nghiệp có những đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh đồng thời tính chất sản phẩm dịch vụ
SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914
21
Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung
mà ngành và doanh nghiệp thực hiện cũng khác nhau. Do đó để tổ chức hợp lý, khoa học công
tác kế toán nói chung và công tác kế toán tính giá thành nói riêng cần phải chú trọng đến đặc
điểm cụ thể của doanh nghiệp về trình độ quản lý, trình độ kế toán và tính chất của sản phẩm
dịch vụ. Song đều phải tôn trọng pháp luật của Nhà nước.
- Phải quán triệt tinh thần tiết kiệm và nâng cao hiệu quả. Bất kỳ một nền sản xuất xã hội nào
người ta cũng đều chú ý đến vấn đề hiệu quả. Để đạt được hiệu quả cần phải tiết kiệm chi phí.
Do đó, tiết kiệm trở thành một yêu cầu quan trọng trong quản lý. Trong việc hoàn thiện một
phương án nào đó, người ta không thể hoàn thiện bằng mọi giá mà phải tính toán cân đối sao
cho tiết kiệm nhất, đạt hiệu quả nhất. Điều này đòi hỏi khi đưa ra một phương án mang tính
khả thi cao nhưng vẫn tiết kiệm được chi phí.
- Phải đảm bảo yêu cầu về chất lượng thông tin và đáp ứng việc cung cấp thông tin kịp thời
- Phương pháp tỷ lệ
- Phương pháp loại trừ chi phí sản phẩm phụ
- Phương pháp tổng cộng chi phí
- Phương pháp định mức
Theo cách phân loại này để xác định tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm ở
doanh nghiệp thì kế toán phải đồng thời sử dụng nhiều phép tính toán số liệu khác nhau
• Cách phân loại thứ hai:
Theo cách phân loại này, kế toán phải căn cứ vào việc sử dụng số liệu để tính toán giá
thành đơn giản phức tạp và đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ ở doanh nghiệp để
chia ra các phương pháp tính giá thành sau:
- Phương pháp tính giá thành giản đơn
- Phương pháp tính giá thành phân bước
- Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
- Phương pháp tính giá thành định mức
Các phương pháp tính giá thành trên sử dụng các phép tính toán số liệu đã trình bày ở
phương pháp phân loại thứ nhất để tính giá thành sản phẩm. Việc phân chia các phương pháp
tính giá thành ở cách thứ hai vừa gắn với tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ sản xuất,
đồng thời cũng căn cứ vào tính chất của việc sử dụng số liệu khi tính giá thành.
• Cách phân loại thứ ba:
Chia ra các phương pháp tính giá thành sau:
- Phương pháp trực tiếp
- Phương pháp hệ số
- Phương pháp tỷ lệ
- Phương pháp tính giá thành phân bước
- Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
- Phương pháp tính giá thành định mức
- Phương pháp định mức
Các tài liệu đề cập cách phân loại này không nói đến các tiêu thức để phân loại mà chỉ
nêu những đặc trưng chính của các phơng pháp tính giá thành đó như: đối tượng tính giá
thành, điều kiện vận dụng, công thức tổng quát… Em cho rằng để phân biệt một phương pháp
thành, nhận xét rõ ràng mạch lạc , có cơ sở khoa học hơn khi nghiên cứu về mặt lý thuyết và
vận dụng trong thực tiễn ở các doanh nghiệp.
3.2. Các điều kiện vận dụng phương pháp tính giá thành trong những loại hình sản xuất
cụ thể.
Việc áp dụng các phương pháp tính giá thành tuỳ thuộc vào đối tượng tính giá thành ,
đơn vị tính giá thành, kỳ tính giá, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và yêu cầu quản trị.
Xác định đứng đắn đối tượng tính giá thành phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý kinh doanh
của từng ngành và từng doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong công tác tính giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp. Kỳ tính giá thành là thời gian mà kế toán phải tính giá thành cho các
đối tượng tính giá thành. Việc xác định tính kỳ tính giá thành cho mỗi đối tượng cần tính giá
phải xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của ngành và của doanh nghiệp cũng
như chu kỳ sản xuất sản phẩm hoàn thành.Tuy nhiên, nếu có điều kiện thuận lợi có thể xác
định kỳ tính giá thành là hàng tháng vào thời điểm cuối mỗi tháng. Như vậy sẽ góp phần tích
cực hơn nữa trong việc xác định kết quả sản xuất trong tháng được kịp thời, giúp cho công tác
quản lý giá thành được nhanh chóng, nhạy bén. Phải xuất phát từ tình hình thực tế về sự biến
động giá cả của hàng mua vào, mục đích sử dụng thông tin mà kế toán doanh nghiệp phải biết
SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914
24
Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung
sử dụng linh hoạt phương pháp tính giá phù hợp, cũng như sử dụng những chỉ tiêu giá thành
sản phẩm một cách hợp lý và linh hoạt, như các chỉ tiêu giá thành theo biến phí, giá thành theo
biến phí có phân bổ hợp lý chi phí cố định… Theo quan điểm hiện nay (phổ biến ở các nước
có nền kinh tế phát triển) là phương pháp tính giá theo quá trình sản xuất và phương pháp tính
giá theo công việc.
- Phương pháp tính giá thành theo công việc được vận dụng trong phương pháp tính giá thành
theo đơn đặt hàng.
- Phương pháp tính giá thành theo quy trình sản xuất. Phương pháp này vận dụng trong
phương pháp tính giản đơn, phương pháp tính giá thành phân bước và một số phương pháp kỹ
thuật truyền thống tuỳ thuộc vào đặc điểm quy trình công nghệ và tính chất sử dụng của sản
phẩm.