LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tất cả các doanh nghiệp đều
phải nỗ lực không ngừng cạnh tranh để tồn tại. Dưới sự chỉ đạo của Chính
phủ, các doanh nghiệp đều nhận thức phải không ngừng nâng cao năng lực
quản lý, phát triển hoạt động kinh doanh, đổi mới dịch vụ theo tiêu chuẩn
quốc tế để nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo phát triển bền vững trong
quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Trong bối cảnh chung của nền kinh tế đất nước có đà phát triển khá ấn
tượng nhưng cũng còn nhiều bất cập và lắm thách thức, Tập đoàn tài chính
Sacombank đã vượt qua những khó khăn và khẳng định được vị trí, vai trò
của mình trong nền kinh tế thị trường, đứng vững và phát triển trong cơ chế
mới, chủ động mở rộng mạng lưới giao dịch, đa dạng hoá các dịch vụ kinh
doanh…
Qua tìm hiểu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp dựa
vào các kiến thức đã học ở trường, em lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Phân tích
thống kê hoạt động kinh doanh của Tập đoàn tài chính Sacombank giai
đoạn 2004-2009”.
Do hiểu biết chuyên môn có hạn và thời gian có hạn nên đề tài không
thể tránh được thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các
thầy cô trong khoa để bài viết được hoàn thiện hơn. Chuyên đề được hoàn
thành với sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo TS. Bùi Đức Triệu.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo!
Hà Nội, ngày 19 tháng 03 năm 2009
1
CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH SACOMBANK
1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Chính thức được thành lập và đi vào hoạt động vào ngày
21/12/1991, Sacombank xuất phát điểm là một ngân hàng nhỏ, ra đời
trong giai đoạn khó khăn của đất nước với số vốn điều lệ ban đầu 3 tỷ
đồng và hoạt động chủ yếu tại vùng ven thành phố Hồ Chí Minh.
lịch sử hình thành và phát triển Ngân hang với việc thành lập Tập đoàn tài
chính Sacombank. Hiện nay Tập đoàn tài chính Sacombank có sự góp mặt
của các thành viên:
Thành viên trực thuộc
- Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank),
đóng vai trò hạt nhân điều phối hoạt động của Tập đoàn;
- Công ty Chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank-
SBS);
- Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín
(Sacombank-SBL);
- Công ty Kiều hối Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank-SBR);
- Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Sài Gòn Thương
Tín (Sacombank-SBA);
- Công ty Vàng bạc đá quý Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín
(Sacombank-SBJ);
3
Thành viên hợp tác chiến lược
- Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn Thương Tín (STI);
- Công ty cổ phần Địa ốc Sài Gòn Thương Tín (Sacomreal);
- Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Tân Định (Tadimex);
- Công ty cổ phần Đầu tư - Kiến trúc - Xây dựng Toàn Thịnh Phát;
- Công ty cổ phần Quản lý quỹ đầu tư Việt Nam (VFM);
Sacombank có 3 đối tác chiến lược nước ngoài uy tín đang nắm gần
30% vốn cổ phần:
- Dragon Financial Holdings thuộc Anh Quốc, góp vốn năm 2001;
- International Financial Company (IFC) trực thuộc World Bank, góp
vốn năm 2002;
- Tập đoàn Ngân hàng Australia và Newzealand (ANZ), góp vốn năm
2005.
Sacombank hợp tác hiệu quả với các tổ chức kinh tế trong và ngoài
toàn hoạt động làm mục tiêu ưu tiên hàng đầu và điều hành kinh doanh linh
hoạt, tận dụng thời cơ của thị trường để tạo ra hiệu quả cho Ngân hàng nhằm
củng cố nội lực, chuẩn bị nền móng vững chắc cho bước phát triển tiếp theo.
Đến cuối năm 2008, tổng tài sản đạt 68.439 tỷ đồng, tăng 6%, trong đó
nguồn vốn huy động đạt 59.343 tỷ đồng, tăng 7% so với đầu năm và quản lý
thanh khoản luôn nằm trong tầm kiểm soát chặt chẽ. Đồng thời Ngân hàng
tăng vốn điều lệ lên 5.116 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu là 7.759 tỷ đồng bằng
5
hình thức phát hành cổ phiếu trả cổ tức. Ngoài ra Ngân hàng thực hiện mua cổ
phiếu quỹ để hỗ trợ thị truờng theo chủ trương của Chính phủ, đến cuối năm
đạt 352 tỷ đồng.
Sau đây là 10 sự kiện tiêu biểu trong năm 2008:
• Ngày 08/01/2008, Sacombank trở thành Ngân hàng Việt Nam
đầu tiên thành lập văn phòng đại diện (VPĐD) Nam Ninh tại
Trung Quốc. Trong năm 2008, VPĐD Nam Ninh đã có gần 2.000
lượt tư vấn thương mại cho các doanh nghiệp Trung Quốc và
Việt Nam.
• Ngày 19/01/2008, Sacombank công bố phủ kín mạng lưới hoạt
động tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
Tính đến cuối năm 2008, Sacombank đã hiện diện tại 45/64 tỉnh
thành trong cả nước với 247 điểm giao dịch, 01 VPĐD tại Trung
Quốc và 01 Chi nhánh tại Lào.
• Ngày 15/03/2008, Sacombank trở thành Ngân hàng Việt Nam
đầu tiên đưa vào sử dụng Trung tâm dữ liệu (Data Center)
chuyên biệt và đạt chuẩn quốc tế.
• Ngày 16/05/2008, Sacombank là Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Việt Nam đầu tiên công bố hình thành Tập đoàn Tài chính
tư nhân.
• Ngày 26/07/2008, Sacombank đạt giải nhất “Cuộc bình chọn báo
cáo thường niên năm 2007” do Sở Giao dịch chứng khoán TP
7
tạo, các công ty liên doanh và trự thuộc hoạt động đạt hiệu quả cao. Mặt khác,
Sacombank đã thiết lập, phát huy tác dụng thiết thực của các hình thức hợp
tác – liên minh - liên kết với các đối tác chiến lược trong và ngoài nước và tạo
được sự khác biệt về loại hình hoạt động – phương thức kinh doanh - kỹ năng
chăm sóc khách hàng, đồng thời đã luôn tìm kiếm khoảng trống thị trường để
phát triển thị phần, thu hút thêm nhiều khách hàng mới và khách hàng tiềm
năng. Trong khi đó, Sacombank cũng tiếp tục tái cấu trúc bộ máy và hành
lang pháp lý của Ngân hang; tập trung đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực; không ngừng nghiên cứu, đa dạng hoá sản phẩm, dịch
vụ; quan tâm đặc biệt đến công tác quản lý và kiểm tra kiểm toán nội bộ. Nhờ
đó, cùng với việc đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng, Sacombank đã đảm bảo
chất lượng phát triển ngày một thêm bền vững, thể hiện qua một số thành tựu
nổi bật và các chỉ tiêu tài chính quan trọng.
1.3.1. Về vốn chủ sở hữu
Đến cuối năm 2007, vốn điều lệ Sacombank đạt 4.449 tỷ đồng, tăng
113% so với năm trước và tăng gấp 23 lần so với năm 2001, đạt tốc độ tăng
trưởng bình quân 71%/năm, tiếp tục dẫn đầu hệ thống các Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Việt Nam về quy mô vốn điều lệ.
8
1.3.2. Về mạng lưới
Trong năm 2007, Sacombank đã thành lập mới 13 chi nhánh và 46 văn
phòng giao dịch, nâng tổng số điểm giao dịch lên 211 điểm tại 44/64 tỉnh,
thành phố trong cả nước, tiếp tục dẫn đầu hệ thống Ngân hang Thương mại
Cổ phần Việt Nam về quy mô mạng lưới giao dịch.
1.3.3. Về tổng tài sản
Tổng tài sản đến cuối năm 2007 đạt 64.573 tỷ đồng, tăng 161% so với
năm trước và gấp 20 lần so với năm 2001, trong đó tổng tài sản sinh lời đạt
85%.
9
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
BAN KIỂM SOÁT HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
Bộ phận
Kiểm toán nội bộ
CÁC HỘI ĐỒNG
VÀ CÁC UỶ BAN
VĂN PHÒNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN ĐIỀU HÀNH
Phòng Nhân sự
Trung tâm đào tạo
Phòng Đầu tư
KHỐI ĐIỀU HÀNH
Phòng Kế hoạch
Phòng Chính sách
Phòng TCKT
KHỐI TIỀN TỆ
Phòng KD vốn
Phòng KD ngoại hối
Phòng Sản phẩm tiền tệ
Trung tâm KD tiền tệ phía Bắc
KHỐI CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN
Phòng Phân tích ứng dụng
Phòng Phát triển ứng dụng
Phòng Kỹ thuật hạ tầng
Trung tâm dữ liệu
KHỐI GIÁM SÁT
Phòng K.tra, kiểm soát nội bộ
Lợi nhuận kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh phần giá trị thặng dư hoặc
mức hiệu quả kinh doanh mà đơn vị cơ sở thu được từ các hoạt động
kinh doanh.
• Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng số tiền mà đơn vị thực
tế đã thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh
doanh thu như bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho khách
hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu
có) trong kỳ nhờ bán sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của mình.
• Tài sản cố định (TSCĐ)
Để tiến hành sản xuất, kinh doanh, bên cạnh sức lao động và đối tượng
lao động, đơn vị cơ sở còn cần phải có tư liệu lao động. Trong đó, bộ
phận các tư liệu lao động thoả mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn sau đây
được coi là TSCĐ:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài
sản (TSCĐ hữu hình) hay do tài sản mang lại (TSCĐ vô hình);
15
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;
- Thời gian sử dụng ước tính trên một năm;
- Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.
Các tiêu chuẩn trên thường thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của
nền kinh tế (nhất là tiêu chuẩn về mặt giá trị).
• Mức khấu hao TSCĐ
Mức khấu hao TSCĐ là sự tính toán và phân bổ một cách có hệ thống
nguyên giá của TSCĐ vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong suốt thời
gian sử dụng của tài sản đó.
• Số lượng lao động trong danh sách của đơn vị cơ sở
Số lượng lao động trong danh sách của đơn vị cơ sở (còn gọi là số người
đăng ký hay lao động có trong danh sách) là những người lao động đã
được ghi tên vào danh sách lao động của đơn vị cơ sở, do đơn vị trực
Bảng 3.1: Tốc độ tăng và tốc độ phát triển của doanh thu giai đoạn 2004-2008
Chỉ tiêu
Năm
Doanh thu
(tỷ đồng)
Lượng tăng
(giảm) tuyệt đối
(tỷ đồng)
Tốc độ phát
triển (%)
Tốc độ tăng
giảm (%)
2004 836 - - -
2005 1.209 373 144,617 44,617
2006 1.996 787 165,095 65,095
2007 4.537 2.541 227,305 127,305
2008 8.377 3.840 184,637 84,637
Nhận xét:
17
Kết quả tính toán ở bảng 3.1 cho ta thấy từ năm 2004 đến năm 2008,
doanh thu của Tập đoàn đều tăng và tăng với tốc độ rất cao, đặc biệt là trong
2 năm 2007 và năm 2008. Năm 2006 doanh thu của Tập đoàn là 1.996 tỷ
đồng, sang năm 2007 doanh thu đã tăng lên 2.541 tỷ đồng tức là đạt 4.537 tỷ
đồng, tăng 127,305% so với năm 2006. Đây là bước nhảy vọt đáng kinh ngạc
của một Tập đoàn còn non trẻ. Đến năm 2008, doanh thu tăng lên 3.840 tỷ
đồng so với năm 2007, đạt 8.377 tỷ đồng, tăng 84,637% so với năm trước.
Biểu đồ 3.2: Doanh thu của Tập đoàn tài chính Sacombank giai đoạn
2004-2008
836
1209
2007 1.280,2 872,3 313,851 213,851
2008 973,3 -306,9 76,027 -23,973
Nhận xét:
Kết quả tính toán ở bảng 3.3 cho ta thấy từ năm 2004 đến năm 2008, lợi
nhuận của Tập đoàn hầu như là tăng và tăng với tốc độ khá cao, đặc biệt là
năm 2007. Năm 2006 lợi nhuận của Tập đoàn đạt 407,9 tỷ đồng nhưng đến
cuối năm 2007 thì con số đó lên tới 1.280,2 tỷ đồng, lượng tăng tuyệt đối là
872,3 tỷ đồng, tăng 213,851% so với năm trước. Sang năm 2008, do ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn cầu, lợi nhuận của Tập đoàn đã
giảm xuống 306,9 tỷ đồng so với năm 2007, đạt 973,3 tỷ đồng, giảm
23,973%. Tuy vậy, con số lợi nhuận mà Tập đoàn đạt được vẫn ở mức cao.
Biểu đồ 3.4: Lợi nhuận của Tập đoàn tài chính Sacombank giai đoạn
2004-2008
19
151.2
234.4
407.9
1280.2
973.3
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
2004 2005 2006 2007 2008
Lợi nhuận
3.1.3. Phân tích biến động giá trị gia tăng giai đoạn 2004-2008
151.2
234.4
407.9
1280.2
973.3
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
2004 2005 2006 2007 2008
Lợi nhuận
3.2 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Tập đoàn
3.2.1. Đánh giá tình hình trang bị và tình hình sử dụng tài sản cố định giai
đoạn 2007 – 2008
Bảng 3.7: Những chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản cố định của Tập đoàn giai
đoạn 2007-2008
21
STT Chỉ tiêu Đơn vị 2007 2008
Lượng
tăng
(giảm)
tuyệt đối
Tốc độ
phát triển
%
1 Doanh thu (
)
tr.đ/ người
185,153 281,963 96,81 152,286
8
Hiệu năng sử dụng TSCĐ
tính theo doanh thu
tr.đ/tr.đ
4,821 4,938 0,117 102,427
9
Hiệu năng TSCĐ tính theo
GO
tr.đ/tr.đ
4,522 5,167 0,645 114,264
10
Tỷ suất lợi nhuận tính trên
TSCĐ (
G
R
)
tr.đ/tr.đ
1,276 0,574 -0,702 44,984
11
Hiệu năng khấu hao TSCĐ
tính theo doanh thu
tr.đ/tr.đ
101,725 101,081 -0,644 99,367
12
Hiệu năng khấu hao TSCĐ
tính theo GO
tr.đ/tr.đ
doanh thu (173,186%) lớn hơn tốc độ phát triển của TSCĐ (169,063%).
Cụ thể là năm 2007 cứ 1 triệu đồng TSCĐ đầu tư vào sản xuất kinh
doanh thì tạo ra được 4,821 triệu đồng doanh thu, còn năm 2008 cứ 1
triệu đồng TSCĐ đầu tư vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được 4,938
triệu đồng doanh thu.
- Chỉ tiêu hiệu năng sử dụng TSCĐ tính theo GO có tốc độ phát triển lớn
hơn 100 phản ánh hiệu quả sử dụng TSCĐ của Tập đoàn năm 2008
tăng so với năm 2007 nguyên nhân là do tốc độ phát triển của GO
(193,198%) lớn hơn tốc độ phát triển của TSCĐ (169,063%). Cụ thể là
năm 2007 cứ 1 triệu đồng TSCĐ đầu tư vào sản xuất kinh doanh thì tạo
ra được 4,522 triệu đồng GO, còn năm 2008 cứ 1 triệu đồng TSCĐ đầu
tư vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được 5,167 triệu đồng GO.
Trong 2 chỉ tiêu trên, ta thấy chỉ tiêu hiệu năng sử dụng TSCĐ tính theo
GO có tốc độ phát triển lớn hơn, do đó có thể kết luận năm 2008 Tập đoàn sử
dụng TSCĐ có hiệu quả hơn năm 2007.
23
- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận tính trên TSCĐ có tốc độ phát triển nhỏ hơn
100 phản ánh tỷ suất lợi nhuận tính trên TSCĐ năm 2008 giảm so với
năm 2007 nguyên nhân là do tốc độ phát triển của lợi nhuận (76,027%)
nhỏ hơn tốc độ phát triển của TSCĐ (169,063%). Cụ thể là năm 2007
cứ 1 triệu đồng TSCĐ đầu tư vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được
1,276 triệu đồng lợi nhuận, còn năm 2008 cứ 1 triệu đồng TSCĐ đầu tư
vào sản xuất kinh doanh thì tạo ra được 0,574 triệu đồng lợi nhuận.
+ Về hiệu quả gián tiếp, kết quả tính toán ở bảng 2.4 cho ta thấy:
- Chỉ tiêu hiệu năng khấu hao TSCĐ tính theo doanh thu có tốc độ phát
triển nhỏ hơn 100 phản ánh hiệu quả sử dụng mức khấu hao TSCĐ của
Tập đoàn năm 2008 tăng so với năm 2007 nguyên nhân là do tốc độ
phát triển của doanh thu (173,186%) nhỏ hơn tốc độ phát triển của mức
khấu hao TSCĐ (174,288%). Cụ thể là năm 2007 để tạo ra 1 triệu đồng
doanh thu thì cần phải trích 101,725 triệu đồng khấu hao TSCĐ, còn
x Hiệu năng sử dụng TSCĐ
tính theo doanh thu
DL
G
= DL
DT
x H
G
25