Lời mở đầu
1. Đặt vấn đề
Từ lâu,thủy sản là loại thực phẩm phổ biến được ưa chuộng ở nhiều quốc gia nhất là
các quốc gia có biển hoặc có các thủy vực nội địa lớn.Cùng với sự tăng trưởng kinh tế,gia
tăng dân cư,nhu cầu về thủy sản ngày càng lớn để đáp ứng thị hiếu tiêu dùng đa dạng từ
cao cấp đến bình dân.Tăng trưởng tiêu dùng thủy sản không những diễn ra mạnh mẽ ở
các nước phát triển,mà còn ở các nước đang phát triển.Cùng với xu thế tiêu thụ này thì
việc trao đổi xuất nhập khẩu thủy sản giữa các quốc gia được đẩy mạnh và Việt Nam
không nằm ngoài xu thế đó.
Từ khi chúng ta mở rộng xuất khẩu thì nghề nuôi cá tra và cá ba sa bước sang một
trang mới và trở thành đối tượng xuất khẩu mang về nguồn ngoại tệ cao.Thị trường xuất
khẩu đã mở ra trên 69 quốc gia và vùng lãnh thổ,đặc biệt do chất lượng sản phẩm ngày
càng được nâng cao ,có thời điểm xuất khẩu cá tra qua thị trường EU đã tăng 214%về
khối lượng và giá trị.
Bên cạnh những thuận lợi đem lại tăng trưởng cho ngành thì cũng còn không ít những
khó khăn ,thách thức ,những rủi ro luôn thường trực trên thị trường ảnh hưởng tới sự
phát triển của các doanh nghiệp.Đặc biệt đối với lĩnh vực xuất khẩu thì thanh toán quốc
tế thường gặp nhiều rủi ro do sự biến động của chính sách tiền tệ,sự bất ổn chính trị của
một quốc gia,sự khác biệt về luật pháp,lựa chọn phương thức thanh toán,…Thanh toán
quốc tế là một mắt xích không thể thiếu trong quá trình trao đổi hàng hóa thời kì hội
nhập.Chính vì vậy,nghiên cứu những rủi ro trong thanh toán quốc tế có ý nghĩa không
nhỏ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn của Việt Nam
2. Mục đích nghiên cứu
Phân tích và nhận định những rủi ro thường gặp trong thanh toán quốc tế đối với nhà
xuất khẩu nói chung.Trên cơ sở phân tích đó,vận dụng vào tình hình xuất khẩu cá tra,cá
ba sa ở Việt Nam,đề ra những giải pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu những rủi ro này góp
phần giúp các doanh nghiệp trong ngành ổn định và phát triển.
1
3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu những rủi ro trong thanh toán quốc tế đối với nhà xuất khẩu cá tra,cá ba
sa ở Việt Nam trong những năm gần đây.
tra Việt Nam, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2009. Liên minh châu Âu (EU) đạt giá trị
512 triệu USD và theo sau là thị trường Nhật với 371,6 triệu USD.
Được coi là thị trường có nhiều thách thức đối với cá tra Việt Nam với những rào cản
thuế quan và kỹ thuật, nhưng Mỹ vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng mạnh và ổn định về
nhập khẩu mặt hàng này. Tại thị trường Mỹ, cá da trơn đang dần lấy lại thị phần. Năm
2008, kim ngạch xuất khẩu cá da trơn vào thị trường Mỹ của các doanh nghiệp Việt Nam
theo thống kê của Hải quan Mỹ, tháng 2/2008 Mỹ nhập khẩu 4.356 tấn cá da trơn các
loại, tăng 26,7% so tháng 2/2007, đưa tổng lượng nhập khẩu cá da trơn vào Mỹ 2 tháng
đầu năm 2008 đạt 8.740 tấn, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2007. Nguyên nhân chính là
do sản lượng nhập khẩu cá từ Trung Quốc vào Mỹ giảm đột biến trong năm 2008, vì Mỹ
áp dụng quy định mới về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với cá da trơn Trung Quốc, cùng
với việc cá rô phi Trung Quốc bị mất mùa do thời tiết lạnh.
Tháng 9/2009, Mỹ đã nhập khẩu trên 4 nghìn tấn cá tra Việt Nam, trị giá 13,48 triệu
USD, tăng 77% về lượng và 75% về giá trị so với cùng kỳ 9 tháng đầu năm, xuất khẩu cá
tra sang thị trường này tăng gần 63% về giá trị đạt trên 95 triệu USD.
Để vượt qua những khó khăn trong thời kỳ khủng hoảng các doanh nghiệp xúât khẩu
cá tra. Từ đầu năm 2009 đến nay, xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam đã mở rộng thêm
thị trường ra 24 quốc gia mới, nâng tổng số các thị trường nhập khẩu cá tra, cá basa của
Việt Nam lên 110 quốc gia vùng lãnh thổ.
Năm 2010, mặc dù, phải đối mặt với nhiều khó khăn "sóng gió" song ngành thủy sản
vẫn vượt lên về đích vượt kế hoạch với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 4,9 tỷ USD, tăng
17% so với năm 2009. Dự kiến, năm 2011 tiếp tục là năm khó khăn đối với ngành Thủy
sản, song ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy
3
sản (Vasep) tin tưởng rằng, năm 2011 sẽ đánh dấu bước thay đổi về chất cho cá tra của
Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Ngày 21/1/2011, Theo Hiệp hội Thủy sản Việt Nam (VASEP), đến thời điểm này các
nhà nhập khẩu châu Âu đã bắt đầu chấp nhận mua cá tra Việt Nam với giá sàn xuất khẩu
cá philê thịt trắng là 3 USD/kg.
Biểu đồ giá cá tra biến đổi qua từng năm 2000-20010
Khó khăn trong đầu vào
Trong năm này, đồng Euro giảm giá so với đồng đôla gây ra tác động tiêu cực đến
đầu ra cá tra, cá ba sa. Bên cạnh đó, ngành cá da trơn Mỹ đã xây dựng rào cản thương
mại đối với xuất khẩu cá tra của Việt Nam.
Sản phẩm chiến lược trong xuất khẩu thủy sản là cá tra năm 2010 có dấu hiệu chững
lại.Tình trạng “treo ao” đã kéo dài gần như suốt cả năm nay nên dường như động lực đầu
tư nuôi của người dân cũng bị hạn chế. Những tháng cuối năm 2010, nhu cầu thủy sản lên
cao, giá cá tra từ 15.000 - 16.000 đồng lên đến 19.500 - 21.000 đồng/kg, tuy nhiên vẫn
5
không thực sự thu hút người nuôi. Do vấn đề lớn hiện nay những hộ nuôi cá tra ở đồng
bằng sông Cửu Long đang khó khăn về vốn, cộng thêm vấn đề về tỷ giá USD làm cho giá
thức ăn thủy sản tăng cao, càng làm cho người nuôi gặp khó khăn. Bên cạnh đó, do hàng
loạt cơ sở cung cấp giống ngưng sản xuất nên cá tra giống hiện nay khá khan hiếm, hiện
ở mức 25.000 đồng/kg. Chưa kể gần đây điện, thuê nhân công, thuốc men phòng trị
bệnh cũng đồng loạt tăng giá.
Chi phí nuôi tăng đòi hỏi vốn đầu tư cao, trong khi nông dân cho biết họ rất khó vay
ngân hàng. Số bị thua lỗ liên tục chưa trả hết nợ nên ngân hàng không cho vay đã đành,
nhưng số đã trả nợ rồi cũng khó vay lại. Hộ nào có đất đai tài sản lớn được vay rất hạn
chế.
Ngoài ra, những đại lý thức ăn, thuốc thú y không còn bán thiếu như trước. “Chi phí
đầu tư cao, khả năng khó có lời. Đã vậy, nông dân bị thua lỗ kéo dài lại đang khó khăn về
vốn
Đặc biệt là trong khi giá lương thực - thực phẩm tăng đến 60%, nhưng giá cá xuất
khẩu từ đầu năm đến nay vẫn không tăng.
Trên TTCK, nhóm cổ phiếu ngành thủy sản là một trong những nhóm cổ phiếu rớt
giá đầu tiên, mở màn cho sự rớt giá sâu và liên tục của thị trường. Cổ phiếu cá da trơn từ
vị thế là loại cổ phiếu được nhiều người săn đón đã trở thành cổ phiếu rớt giá mạnh và
liên tục, gây tâm lý ngao ngán cho nhà đầu tư.
Do phát triển quá nhanh và ảnh hưởng của chính sách thắt chặt tiền tệ đã làm cho
các doanh nghiệp lâm vào tình trạng thiếu vốn lưu động.
phải thực hiện được việc truy suất nguồn gốc, trước hết là cá tra, tôm và cá ngừ. Trong
thời gian tới, Việt Nam cần kết hợp với các đối tác hoặc tự mình phải tìm ra những kênh
phân phối, tiêu thụ riêng. Việc này sẽ góp phần nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu người tiêu
dùng nhanh hơn, đặc biệt sẽ gia tăng được những sản phẩm giá trị gia tăng.
7
Để giúp ngành này phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu về chất lượng vệ sinh thực
phẩm nghiêm ngặt. CARD đã phối hợp với Vụ nghề cá bang Vic-to-ria và liên kết với
các cơ quan trong nước như Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2, Khoa Thủy sản -
Trường ĐH Cần Thơ triển khai dự án PMPs cho các hộ nuôi cá tra ở các tỉnh ĐBSCL.
Người nuôi cá tra ĐBSCL nếu sớm dụng PMPs sẽ giảm bớt được chi phí nuôi, tăng khả
năng tiêu thụ sản phẩm, duy trì sự bền vững môi trường… đảm bảo sản phẩm được làm
ra đáp ứng được tiêu chuẩn về chất lượng mang tính toàn cầu.
. Để ngành nuôi và chế biến cá tra phát triển bền vững, phải giải quyết thấu đáo chuỗi
giá trị “ nuôi - chế biến - xuất khẩu”. Sau thời gian phát triển rầm rộ, đã đến lúc phải sắp
xếp lại nghề này. Cá tra đã có sân chơi lớn nên phải được tổ chức, quy hoạch, có sự đầu
tư bài bản về vốn, kỹ thuật, công ghệ hiện đại… Xu thế phát triển tới đây là “liên kết",
đặt chất lượng lên hàng đầu; theo đó cần xem xét ưu tiên về vốn, cơ chế thông thoáng với
những doanh nghiệp làm tốt, có đóng góp tích cực cho nghề cá để các doanh nghiệp này
an tâm đầu tư mở rộng sản xuất đồng thời phải xử lý nghiêm những doanh nghiệp làm ăn
gian dối.
1.4.Rủi ro trong xuất khẩu cá da trơn:
1.4.1 Rủi ro về chính trị :
- Rủi ro này gặp phải khi chính sách chính trị, môi trường pháp lý, tập quán thương
mại ở mỗi nước có sự khác biệt.
- Do rào cản thương mại.
- Rủi ro này còn được thể hiện qua sự khác biệt về yếu tố pháp lý, sự hiểu biết nhận
thức khác nhau về hệ thống pháp lý, về qui chế quản lý ngoại hối của một số quốc gia…
Giải pháp :
- Tìm hiểu kỹ về tình hình chính trị của các nước nhập khẩu cá da trơn của Việt Nam
- Yêu cầu các công cụ của ngân hàng như bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
1.4.5.Rủi ro về lựa chọn phương thức thanh toán:
Có khá nhiều phương thưc thanh toán, mỗi phương thức có ưu và nhược điểm khác
nhau. Một trong những phương thức được các nhà đầu tư Việt Nam sử dụng là Phương
thức thanh toán TT (Telegraphic Transfer Remittance).
1.4.5.1 Phương thức thanh toán TT (Telegraphic Transfer Remittance):
a. Định nghĩa:
Là hình thức thanh toán người mua yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích trước 1 số
tiền nhất định để trả cho người bán vào 1 thời điểm nhất định.
9
b. Hình thức: 3 hình thức
- Thanh toán trả trước: người mua trả tiền trướccho người bán trước thời hạn giao
hàng, có thể là trả trước : 100% giá trị invoice/ 30%-> 70% trị giá hợp đồng và trả hết sau
khi giao.
- Thanh toàn trả sau: trả 100% giá trị hoá đơn sau khi nhận hàng hoá (100% invoice
value after receiving goods).
- Thanh toán trả trước và trả sau: Giữa người mua và người bán ko quen, nhưng
trong giao dịch lần đầu, người bán yêu cầu thanh toán trước số tiền như là tiền cọc.
c. Rủi ro:
Đối tác sau khi nhận được hàng sẽ viện vào nhiều lý do như hàng kém chất lượng,
không đủ số lượng hay kể cả hàng khó bán do biến động thị trường… để chần chừ trả nốt
số tiền còn lại trong hợp đồng.
Rủi ro tại Việt Nam:
Sáng 5.1.2010, ban điều hành xuất khẩu thuỷ sản sang Nga cho biết, tính đến hết
tháng 12.2009, doanh nghiệp Việt Nam bán qua thị trường Nga trên 39.000 tấn cá tra, thu
về 64 triệu USD, giảm 63% so với cùng kỳ năm ngoái. Kể từ khi phía Nga chính thức cấp
phép nối lại nhập khẩu cá tra của Việt Nam hồi tháng 5.2009, theo ban điều hành, thị
trường này đã được doanh nghiệp khai thác khá hiệu quả. Từ tháng 5.2009 đến nay, trong
khi giá cá xuất qua châu Âu, Trung Đông, Á, Mỹ giảm 10 – 15% thì giá xuất sang Nga
lại tăng 5 – 7%.Tuy nhiên, rào cản khiến doanh nghiệp không thể đẩy mạnh sản lượng
xuất khẩu cá tra sang Nga là phương thức thanh toán tiền hàng quá rủi ro. Ông Lý Ngọc
chỉ có những đối tác thật sự uy tín, thậm chí có ràng buộc nhau về tài chính mới sử dụng
cách thanh toán này.
Những rủi ro khác trong việc đòi nợ:
Theo Vụ Thị trường châu Âu, nhiều doanh nghiệp Việt Nam thường không chú ý là
giao dịch với một người nhưng khi ký hợp đồng lại với một tư cách pháp nhân khác mà
mình không rõ, đến khi không thu được tiền hàng, tranh chấp xảy ra, đối tác đứng ra giao
dịch chỉ nhận là đại lý (agent) của pháp nhân đứng ra ký hợp đồng nhập khẩu và không
chịu trách nhiệm pháp lý; liên hệ với đối tác là pháp nhân đứng tên ký hợp đồng thì
không liên lạc được, doanh nghiệp Việt Nam thường bị thua thiệt…
11
“Với những đối tác nước ngoài không nghiêm túc, phương thức thanh toán lại không
chắc chắn mà phụ thuộc vào thiện chí của người mua thì việc đòi tiền hàng chỉ có thể
thực hiện thông qua luật sư để tiến hành các thủ tục gây sức ép hoặc khởi kiện tại tòa án
Hà Lan”,Vụ Thị trường châu Âu nhận định.
Công ty nước ngoài cũng như công ty Việt Nam khi đã đăng ký kinh doanh là có tư
cách pháp nhân, tuy nhiên không phải đối tác có tư cách pháp nhân là yên tâm ký hợp
đồng, mà cần chú ý tới khả năng chuyên doanh, số lượng nhân viên, tình hình tài chính,
các điều khỏan hợp đồng mà khách hàng đưa ra…Các doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý tư
cách pháp nhân người, công ty giao dịch và người/công ty đứng ra ký kết hợp đồng
(trong trường hợp nêu trên, khi tranh chấp xảy ra, người giao dịch chỉ nhận tư cách là đại
lý và không chịu trách nhiệm, lúc ký hợp đồng đã lấy danh nghĩa một công ty khác mà
doanh nghiệp ta lại không chú ý đến vấn đề này).
Vừa qua, một số cơ quan thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, như Pakixtan,
Singapore, Hà Lan… cũng đã đăng tải thông tin cảnh báo về việc doanh nghiệp Việt Nam
không được thanh toán tiền hàng khi chấp nhận phương thức thanh toán D/A, D/P (thanh
toán nhờ thu kèm chứng từ - người mua sẽ gửi lại cho ngân hàng lệnh chi), đặc biệt là
giao dịch với những đối tác mới.
Giải pháp :
Để phòng tránh những rủi ro không thu được tiền hàng khi giao dịch với đối tác nước
ngoài, Vụ Thị trường châu Âu khuyến cáo các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cần
Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ được sử dụng rất rộng rãi trong kinh
doanh XNK của doanh nghiệp vì nó bảo đảm tính an toàn.Là vì :
Các đối tác ký kết hợp đồng thường có trụ sở ở những quốc gia khác nhau nên giữa
các bên vẫn tồn tại sự thiếu tin tưởng lẫn nhau, phương thức tín dụng chứng từ giúp 2 bên
yên tâm về quyền lợi của mình nghiêm ngặt theo thông lệ quốc tế
3. Phương thức giao chứng từ trả tiền(CAD)
13
CAD là phương thức thanh toán trong đó nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở
tài khoản kí thác với mức kí quỹ thường là 100% để thanh toán tiền hàng cho nhà xuất
khẩu, khi họ xuất trình đầy đủ các chứng từ theo yêu cầu.
Nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ xuất trình bộ chứng từ cho
ngân hàng để nhận tiền thanh toán .
III. Phân tích so sánh:
1. Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
Ưu điểm:
Là công cụ chiến lược thúc đẩy xuất khẩu. Có tiềm năng thu lợi nhuận trong dài hạn
nếu kiểm soát rủi ro tốt. Nhà xuất khẩu được bảo vệ chống lại việc không trả tiền.
BHTDXK giúp các doanh nghiệp xuất khẩu có thể tiếp cận các nguồn vốn cho vay từ
các ngân hàng và các tổ chức tín dụng dễ dàng hơn với tỷ lệ giá trị vốn vay/giá trị được
bảo hiểm (tài sản bảo đảm) cao hơn để đầu tư phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm,
giảm quỹ dự phòng tổn thất.
Nhược diểm:
BHTDXK mang tính chuyên môn cao, đòi hỏi đầu tư lớn về vốn, công nghệ thông tin,
nghiệp vụ đánh giá rủi ro, thu hồi nợ, giải quyết khiếu nại minh bạch, công bằng; phân
tán rủi ro thông qua hoạt động tái bảo hiểm và (hoặc) đồng bảo hiểm.
2. Thư tín dụng xuất khẩu
Ưu điểm:
NH sẽ thực hiện thanh toán đúng như qui định trong thư tín dụng bất kể việc người
mua có muốn trả tiền hay không.
- Chậm trễ trong việc chuyển chứng từ được hạn chế tối đa.
15
tranh lành mạnh và chịu sự điều chỉnh của luật pháp về bảo hiểm và thương mại. Trên thế
giới, mô hình doanh nghiệp BHTDXK có sự khác nhau ở từng giai đoạn và ở từng quốc
gia nhưng cuối cùng nó vẫn luôn là công cụ chính sách đắc lực của chính phủ, có tiềm
năng thu lợi nhuận trong dài hạn nếu kiểm soát rủi ro tốt.
Thứ hai, BHTDXK mang tính chuyên môn cao, đòi hỏi đầu tư lớn về vốn, công nghệ
thông tin, nghiệp vụ đánh giá rủi ro, thu hồi nợ, giải quyết khiếu nại minh bạch, công
bằng; phân tán rủi ro thông qua hoạt động tái bảo hiểm và (hoặc) đồng bảo hiểm. Vì vậy,
việc tìm kiếm sự hợp tác của các công ty BHTDXK quốc tế hàng đầu là cần thiết đối với
doanh nghiệp bảo hiểm của Việt Nam. Nhiều công ty bảo hiểm trong nước vẫn còn ngần
ngại triển khai loại hình bảo hiểm này do thiếu vốn và nhất là chưa nhận thức đầy đủ tầm
quan trọng cũng như tiềm năng của loại hình bảo hiểm này.
Thứ ba, cũng cần có khung pháp lý điều chỉnh và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
BHTDXK phát triển, có chính sách cụ thể cho việc cấp tín dụng của các ngân hàng cho
các doanh nghiệp xuất khẩu có hợp đồng BHTDXK.
Tuy nhiên nếu chúng ta, có những chính sách và phương án đúng đắn chúng ta sẽ ít
gặp rủi ro trong việc thanh toán tiền hàng.
Bên cạnh đó, nhà xuất khẩu cần phải chú ý một vài điều sau:
- Cẩn thận lựa chọn ngân hàng có bề dày kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc về nghiệp
vụ ngân hàng, có mối quan hệ rộng và chi nhánh trên thế giới và điều quan trọng
là hết lòng bảo vệ khách hàng.
- Để hạn chế rủi ro do vận chuyển không phù hợp với L/C cần:
• Tìm hiểu kĩ vấn đề chuyển tải, điều tra về tuyến đường vận tải. Tu chỉnh
L/C mới giao hang nếu không giải quyết được vấn đề chuyển tải.
• Yêu cầu được giao hàng từng phần và xác định số lần giao hàng,
• Làm rõ thời gian và khối lượng của từng lần giao hàng.
- Cẩn thận với lời cam kết thanh toán của nhà nhập khẩu không ràng buộc rõ ràng
nghĩa vụ của họ……
16
Kết luận