phân tích thu nhập của hộ nông dân do thay đổi hệ thống canh tác ở đồng bằng sông hồng - Pdf 10

BÁO CÁO TỔNG HỢP
PHÂN TÍCH THU NHẬP CỦA HỘ NÔNG DÂN
DO THAY ĐỔI HỆ THỐNG CANH TÁC Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Người thực hiện: TS. Lê Thị Nghệ
ThS. Lương Như Oanh
KS. Phạm Quốc Trị
Và tập thể cán bộ nghiên cứu
HÀ NỘI, THÁNG 4 NĂM 2006
2
Lời cảm ơn
Nhân dịp nghiệm thu đề tài “Phân tích thu nhập của hộ nông dân do
thay đổi hệ thống canh tác ở Đồng bằng sông Hồng”, chúng tôi xin trân thành
cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động triển
khai nghiên cứu thành công đề tài của:
- Giám đốc dự án MISPA và Ban điều hành Dự án;
- Lãnh đạo viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp
nông thôn; cán bộ phòng Khoa học, phòng Tổ chức Hành chính và
phòng Tài vụ Viện;
- Các cố vấn tư vấn kỹ thuật triển khai nghiên cứu đề tài;
- Các giám sát viên của đề tài.
Chúng tôi cũng xin trân thành cảm ơn các đồng chí cộng tác viên: cán
bộ nghiên cứu của viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông
thôn và cán bộ nghiên cứu của Bộ Hệ thống nông nghiệp viện VASI; các cán
bộ sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Hải Dương, Nam Định, Thái Bình và Hà
Tây; các cán bộ phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Gia Lộc, Vụ Bản, Tiền
Hải và Hoài Đức; cán bộ lãnh đạo chính quyền và hộ nông dân tại các xã:
Đoàn Thượng, Thống Kênh, Vĩnh Hào, Thành Lợi, Nam Cường, Đông Quí,
Đức Giang và Lại Yên đã không quản ngại khó khăn, tận tình phối hợp triển
khai nghiên cứu và cung cấp đầy đủ hệ thống thông tin hết sức phong phú và
quý báu, đóng góp cho sự thành công của đề tài./.

nhập bình quân đầu người của nông dân có tăng, nhưng tốc độ tăng chậm trong
những năm qua. Tính theo giá cố định năm 1994, thu nhập/khẩu/tháng ở đồng bằng
tăng từ 190 ngàn đồng/khẩu/tháng năm 1996 lên 264 ngàn đồng/khẩu/tháng năm
2002, tổng mức tăng đạt 40%, nhưng chỉ bằng mức tăng trung bình cả nước (bảng
dưới), có một khoảng cách so với mức tăng ở vùng Đông nam bộ (45%). Tính theo
giá hiện hành, bình quân thu nhập từ trồng trọt của một hộ ở ĐBSH chỉ đạt 4,9 triệu
đồng năm 2000, đứng thứ 6 trên 8 vùng sinh thái trong cả nước (GSO,2001) (bảng
1).
Một số nguồn thông tin khác cho thấy thu nhập của nông dân còn thấp hơn
nhiều. Tác giả Nguyễn Mạnh Huấn nghiên cứu ở Thái bình năm 1999, 2000, đưa ra
con số thu nhập tại chỗ (không tính thu từ nơi khác chuyển về) bình quân/hộ/năm
chỉ là 2119 ngàn đồng. Cùng giai đoạn này, trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn
quốc gia đưa ra con số tổng thu nhập của hộ trung bình là 9,465 triệu đồng/hộ/năm,
4
hay 185 ngàn đồng/tháng/khẩu. Sự khác nhau của các con số trên do phương pháp
nghiên cứu khác nhau, nhưng tất cả đều cho thấy thu nhập của người dân ở ĐBSH là
khá thấp.
Bảng I-1: Thu nhập bình quân đầu người tháng (1000 đồng)
(giá so sánh năm 1994)
1996 1999 2001-2002
So sánh
2002/1996
Cả nước 192,49 221,19 267,01 1,39
Thành thị 432,89 387,42 468,38 1,08
Nông thôn 159,54 168,70 205,72 1,29
Đồng bằng sông Hồng 189,60 210,17 264,39 1,39
Nguồn : Tổng cục thống kê (2003)
Thu nhập của người nông dân thấp có nguyên nhân trực tiếp là do quy mô đất
trung bình của các nông hộ quá nhỏ. Nhưng nhiều nhà kinh tế lí luận rằng, mức thu
nhập vẫn có thể tăng lên nhờ sự chuyển đổi của các hệ thống sản xuất nông nghiệp ở

1
. Hiu qu kinh t ca cỏc h thng sn xut
trong vựng cú xu th c canh lỳa (thng vựng trng) thp hn cỏc h thng sn
xut trong vựng a canh cõy mu hng hoỏ, cõy n qu v phỏt trin chn nuụi.
Nhng h thng cú tớnh cht chuyờn mụn hoỏ cao (vớ d chn nuụi ln, cõy n qu)
cú hiu qu kinh t cao gp nhiu ln h thng a canh truyn thng, nhng do
nhiu lớ do t l ca cỏc h thng chuyờn canh cha cao Mt khỏc, s bin i ca
cỏc h thng rung t trong cỏc vựng khỏc nhau BSH cng din bin phc tp.
ụ th hoỏ, cụng nghip v giao thụng phỏt trin ó lm mt ỏng k din tớch t
canh tỏc lỳa BSH. iu ú dn n vic gim bỡnh quõn din tớch t nụng
nghip/u ngi v nh hng ti tớnh n nh trong sn xut nụng nghip mt
s vựng.
Túm li, trong nhng nm qua, ó xut hin s chuyn i ca cỏc h thng
sn xut v quỏ trỡnh a dng hoỏ sn xut cỏc vựng khỏc nhau trong ng bng
sụng Hng. Tuy nhiờn, quỏ trỡnh ny din ra cũn chm v cha chc chn? Nhng
nm ti, trin vng phỏt trin ca hn 3,1 triu nụng h hin ny s quyt nh
tng lai ca nụng nghip, nụng thụn BSH. Vi v trớ rt quan trng c v kinh t,
chớnh tr v vn hoỏ ca BSH, cõu hi t ra l: lm th no cú th h tr cỏc
nụng h nõng cao thu nhp?; Chớnh sỏch no cú th gii quyt c mõu thun mt
bờn l thu nhp cao ca h nụng dõn v bờn kia l tỡnh trng khan him v rung
t?; Chớnh sỏch no cú th nõng cao hn na hiu qu s dng cỏc ngun lc
t ai v lao ng hin nay?; khuyn khớch u t ca nụng h phỏt trin sn
xut nụng nghip, trỏnh c xu th phỏt trin lch lc?
1.2 Kinh t h nụng dõn v vn nghiờn cu h thng sn xut nụng
nghip BSH
Mt vi s ỏnh giỏ khỏc nhau trờn õy cho thy nhng nghiờn cu v h nụng
dõn BSH tuy nhiu nhng cũn khỏ tn mn. Mi nghiờn cu vi lớ do khỏc nhau
ch tp trung cho mc ớch riờng no ú v phng phỏp ỏp dng cho cỏc nghiờn
cu ny khụng ging nhau. Vỡ th, vic s dng kt qu nghiờn cu cú sn ny cho
mc ớch xõy dng chớnh sỏch phỏt trin nụng nghip, nụng thụn ng bng gp

xuất quy mô lớn hơn, chuyên môn hoá để sản xuất ra hàng hoá bán ra thị
trường. Người sản xuất sẽ tính đến lợi thế so sánh và quyết định đầu tư công
nghệ, kỹ thuật cao. Cụ thể, logic đầu tư của nông hộ sẽ là:
o Những người sản xuất sẽ đầu tư nhiều hơn về lao động để tối đa hoá lợi
nhuận trên 1 đơn vị diện tích với điều kiện lao động dư thừa trong khi các
nguồn lợi về tài nguyên thiên nhiên hạn chế (nước, đất…). Các hệ thống sản
xuất mang tính chất thâm canh cao và phát triển đa dạng các hệ thống khác
nhau, kết hợp đồng thời các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi cho lợi nhuận
cao.
o Nhưng nếu điều kiện về nguồn lợi tự nhiên thuận lợi, những người sản xuất
lại muốn tối đa hoá thu nhập trên 1 đơn vị lao động.
o Nếu nguồn lao động thuê rẻ, những người chủ trang trại có xu thế sử dụng
các hệ thống sản xuất và kỹ thuật cho phép tối đa hoá lợi nhuận của vốn.
Không giống các loại hình kinh tế khác, quy luật phát triển của kinh tế hộ nông
dân rất đa dạng: Quy luật kinh tế phổ biến nhất trong nông hộ là Quy luật về tính
hợp lí khi ra quyết định trong đó mục tiêu sản xuất các nông hộ sẽ được điều chỉnh
trên cơ sở cân bằng các nguồn lực sẵn có của gia đình (vốn, đất, lao động…). Sau
nữa là Quy luật sinh học của các kiểu hộ khi quan niệm rằng hộ nông dân phát triển
7
theo các giai đoạn khác nhau phụ thuộc vào tuổi của chủ hộ, từ việc mới thiết lập
đến tích tụ phát triển và cuối cùng là giai đoạn phân hoá khi tuổi của chủ hộ đã cao
(Chu kỳ tích tụ và phân hoá ruộng đất của Trai - a - Nốp). Cuối cùng người ta
không thể bỏ qua Quy luật tiến hoá của hộ nông dân từ sản xuất tự cung tự cấp sang
sản xuất hàng hoá, hiện tượng mà chúng ta thấy nhiều trong thực tế.
b. Đất đai đối với nông hộ nhỏ.
Đất đai luôn là vấn đề sống còn của bất kỳ một nông hộ lớn hay nhỏ. Sở hữu
ruộng đất là quan trọng, nhưng đối với các nông hộ nhỏ khả năng tiếp cận được
ruộng đất và vấn đề an toàn của ruộng đất mà hộ đang khai thác lại quan trọng hơn
nhiều. Ngoài những yếu tố về thị trường và các yếu tố nông hộ kể ra trên đây, hai
vấn đề này xác định thái độ của nông hộ đối với việc đầu tư và phát triển. Trong

pháp hỗ trợ nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân ở ĐBSH theo từng
vùng sinh thái.
Điểm nổi bật được ghi nhận trong báo cáo này là đã tiến hành nghiên cứu bao
quát được tại các vùng khác nhau ở trong ĐBSH như vùng ven đô thị, vùng ven
biển, vùng thuần lúa và vùng đa dạng hoá nông nghiệp. Điều này có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong việc đánh giá hiện trạng thu nhập của các hộ nông dân tại các vùng
khác nhau ở ĐBSH và là cơ sở thực tiễn trong việc đề xuất các giải pháp cụ thể
nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân. Thông qua các cuộc điều tra khảo sát tại
thực địa, báo cáo cũng góp phần bổ sung các kết quả định tính về hiện trạng thu
nhập của hộ nông dân ở ĐBSH trong thời gian gần đây nhất (năm 2004) mà thời
gian qua chưa có nghiên cứu nào thực hiện.
Bên cạnh đó, những phân tích về thu nhập của hộ nông dân trong báo cáo luôn
được gắn liền với các hệ thống sản xuất của nông hộ ở từng vùng khác nhau. Chính
việc tiếp cận nghiên cứu này đã góp phần quan trọng trong quá trình đánh giá thu
nhập của các hộ nông dân mà các báo cáo khác trước đây không thực hiện được.
Điểm hạn chế của đề tài:
Trước hết, do điều kiện và thời gian nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên số mẫu
điều tra còn khá khiêm tốn, 418 hộ. Số mẫu đại diện này là rất ít nếu so với 3,1 triệu
hộ ở ĐBSH và rõ ràng không thể đại diện được đầy đủ hiện trạng thu nhập của hộ
nông dân vùng ĐBSH nói chung.
Bên cạnh đó, do số liệu điều tra thực địa chỉ thể hiện được tình trạng thu nhập
và sản xuất của hộ nông dân tại thời điểm nghiên cứu (năm 2004) do đó không thể
hiện được xu thế biến động thu nhập của hộ nông dân theo hệ thống canh tác qua
từng giai đoạn khác nhau mà chỉ tính được thu nhập của các nhóm hộ theo hệ thống
canh tác khác nhau từ đó so sánh mức thu nhập giữa các nhóm hộ có hệ thống canh
tác khác nhau trên tổng thể các hộ điều tra (có nghĩa, chỉ so sánh mức thu nhập theo
hệ thống canh tác của các nhóm hộ trong cùng một thời điểm, chứ không so sánh
mức thu nhập của hộ trước và sau khi thay đổi hệ thống canh tác. Tuy nhiên, cách
tính này có thể loại trừ ảnh hưởng của các biến động giá vật tư đầu vào và giá sản
phẩm đầu ra qua các năm). Để khắc phục điều này, chúng tôi phải so sánh với các

Mục đích cụ thể nhằm:
- Hệ thống hoá được thông tin về các hệ thống sản xuất nông nghiệp và tình hình
thu nhập của hộ nông dân trong các vùng khác nhau của đồng bằng sông Hồng.
- Xác định được các yếu tố và điều kiện nâng cao thu nhập và thúc đẩy sự phát
triển bền vững và hiệu quả các hệ thống sản xuất nhằm nâng cao thu nhập của
người dân trong vùng đồng bằng sông Hồng.
- Đề xuất được những kiến nghị chính sách nhằm hỗ trợ sự phát triển nông
nghiệp ở đồng bằng sông Hồng nói chung và sự phát triển của các hệ thống sản
xuất nông nghiệp nói riêng theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng thu nhập và
bảo vệ nguồn lợi tài nguyên khan hiếm (đất, nước), ngăn chặn những xu thế
biến đổi tiêu cực.
10
4. Giả thiết nghiên cứu
1. Thu nhập của các hộ ở nông thôn trong các vùng khác nhau ở đồng bằng
phụ thuộc không chỉ vào các điều kiện của nông hộ mà cả yếu tố vùng, các
điều kiện, thể chế và chính sách cụ thể về đất đai, thị trường, tình hình kinh
tế xã hội ở mỗi nơi.
2. Mặc dù quy mô diện tích còn nhiều hạn chế nhưng chiến lược của các nông
hộ đã thay đổi thay vì mục tiêu tự cung tự cấp các nông hộ đã tham gia
mạnh vào sản xuất hàng hoá nông sản. Xu thế chuyên môn hoá không mâu
thuẫn với các chiến lược khác nhau như:
a. Tối đa hoá lợi nhuận
b. Tránh mạo hiểm và hoạt động nặng nhọc
c. Giá trị hoá các lợi thế vùng.
Nói cách khác, trong điều kiện của ĐBSH, quy mô kinh tế của nông hộ
không hoàn toàn tỷ lệ thuận với quy mô diện tích của nông hộ.
3. Bên cạnh những hạn chế về ruộng đất và một số nguồn lợi khác, rủi ro
được xem yếu tố hạn chế cơ bản đến sức sản xuất, khả năng phát triển và
hiệu quả kinh tế của các hệ thống sản xuất nông nghiệp hiện nay. Nhóm
yếu tố rủi ro quan trọng cần nghiên cứu bao gồm:

thu nhập phi nông nghiệp?
5. Có hay không hiện tượng mất an toàn về ruộng đất ảnh hưởng đến chiến
lược phát triển của các kiểu hộ nông dân?
a. Hình thức mất an toàn nào? Ở đâu? Mức độ ra sao?
b. Tác động của các hình thức mất an toàn này đến chiến lược đầu tư
và sự phát triển của các kiểu hộ nông dân như thế nào?
6. Những chính sách (nhóm chính sách) nào có thể cải thiện nâng cao thu
nhập của nông dân? tập trung nghiên cứu các nhóm chính sách sau đây: (1)
Chính sách ruộng đất, (2) Chính sách lao động và việc làm, (3) chính sách
vốn, (4) chính sách khoa học công nghệ và (5) chính sách điều tiết thị
trường và tiêu thụ nông sản?
12
PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp tiếp cận
2.1.1.Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học
để phân tích và giải thích các mối quan hệ tương hỗ. Trong thời gian gần đây quan
điểm này được áp dụng và phát triển trong nghiên cứu nông nghiệp.
Hệ thống được hiểu là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có quan hệ
và tác động qua lại. Một hệ thống có thể xác định như một tập hợp các đối tượng
hoặc cá thuộc tính được liên kết tạo thành một chính thể và nhờ thế hệ thống có một
đặc tính mới gọi là tính “trội” của hệ thống. Như vậy, hệ thống không phải là phép
cộng đơn giản của các yếu tố, các đối tượng mà là sự kết hợp hữu cơ giữa các yếu tố
và có quan hệ giàng buộc chặt chẽ với nhau.
Ngoài các yếu tố bên trong hệ thống, còn có các yếu tố bên ngoài hệ thống, không
nằm trong hệ thống nhưng có tác động với các yếu tố bên trong hệ thống, gọi là yếu
tố môi trường. Những yếu tố môi trường tác động lên hệ thống là yếu tố “đầu vào”,
còn những yếu tố môi trường chịu sự tác động trở lại của hệ thống là yếu tố “đầu
ra”. Phép biến đổi của hệ thống là khả năng thực tế khách quan của hệ thống trong
việc biến đổi “đầu vào” thành “đầu ra”. Thực trạng của hệ thống là một khả năng kết

đây cũng gần giống như khái niệm hệ thống sản xuất ở Pháp, cũng tương tự hệ
thống nông nghiệp ở Nga.
Cho đến nay đã có một số khái niệm về hệ thống nông nghiệp như sau:
- Theo Vissac (1986), Hệ thống nông nghiệp là sự Bảng hiện không gian của
sự phối hợp các ngành sản xuất và kỹ thuật do một xã hội thực hiện. Nó Bảng
hiện một sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học – sinh thái và môi
trường tự nhiên, là đại diện một hệ thống xã hội – văn hoá qua các hoạt động
xuất phát từ những thành quả kỹ thuật;
- Hệ thống nông nghiệp thích ứng với phương thức khai thác nông nghiệp của
một không gian nhất định do xã hội tiến hành là kết quả của sự phối hợp của
các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá và kỹ thuật (Touve 1988);
- Mzoyer (1986), Hệ thống nông nghiệp trước hết là một phương thức khai
thác môi trường được hình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống sức
sản xuất thích ứng với các điều kiện sinh thái, khí hậu của một không gian
nhất định, đáp ứng các điều kiện và nhu cầu của thời điểm ấy.
Tóm lại, khái niệm hệ thống nông nghiệp đã xuất phát từ 2 cách tiếp cận đã được
công nhận rộng rãi, đó là: tiếp cận hệ thống nông trại ở Anh và tiếp cận hệ thống
nông nghiệp ở Pháp. Tuy nhiên, cách tiếp cận nông nghiệp là toàn diện hơn và
phù hợp với sự phát triển.
2.1.3. Hệ thống canh tác
Như đã trình bày ở phần trên, rõ ràng hệ thống nông nghiệp đã đặt hệ thống vật
nuôi, cây trồng vào trong một không gian, thời gian, một điều kiện xã hội nhất
định. Nó là sự phối hợp các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hoá và kỹ
thuật.
Về thực chất hệ thống canh tác đồng nghĩa với hệ thống nông nghiệp. Có một số
định nghĩa về hệ thống canh tác như sau:
14
- Hệ thống canh tác (hệ thống nông trại, hệ thống nông nghiệp) là sự bố trí một
cách thống nhất và ổn định các ngành nghề trong nông trại được quản lý bởi
hộ gia đình trong một môi trường tự nhiên, sinh học, kinh tế, xã hội phù hợp

sản xuất chùng (Zandazardatra).
Như vậy, hệ thống cây trồng là một thể thống nhất trong mối quan hệ tương tác
giữa các loại cây trồng được bố trí hợp lý trong không gian và thời gian tức là
mối quan hệ giữa các loại cây trồng trong từng vụ và giữa các vụ khác nhau trên
một mảnh đất, trong một hệ sinh thái. Vì vậy, nghiên cứu hệ thống cây trồng là
15
nghiên cứu: công thức luân canh và hình thức đa canh, cơ cấu cây trồng hay tỷ lệ
diện tích dành cho mùa vụ cây trồng nhất định, kỹ thuật canh tác cho cả hệ thống
canh tác đó.
2.1.4. Phát triển hệ thống canh tác
Phát triển hệ thống canh tác (PHC) là một phương pháp tiếp cận nhằm phát triển hệ
thống nông trại và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững.
Hệ thống nông trại là các nông hộ, có thể chia thành ba phân hệ cơ bản chúng liên
kết chặt chẽ trong mối tác động qua lại lẫn nhau: (i) Nông hộ như là một đơn vị ra
quyết định; (ii) Trang trại với các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi (iii) Các thành
phần ngoài trang trại. Trong phát triển hệ thống canh tác (PHC), hệ thống nông trại
được xem như một thể thống nhất của các hệ thống canh tác chiếm ưu thế trong
cộng đồng nông thôn.
Cộng đồng nông thôn là những hệ thống lớn hơn, bao gồm các nông hộ có hoặc
không có trang trại. Các hệ thống nông hộ không trang trại lại bao gồm nhiều phân
hệ. Chúng liên kết và tác động chặt chẽ lẫn nhau. Các nhà buôn lớn, những người
buôn bán lẻ, các nhóm xã hội, các cơ quan nhà nước, cơ cấu lãnh đạo, chính kiến và
tôn giáo, vv Tất cả đều thuộc hệ thống ngoài nông trại. Hệ thống nông trại thường
tham gia và có tác động qua lại với một vài hay toàn bộ các hệ thống này.
Nông trại là hệ thống chủ yếu và là tâm điểm tập trung nghiên cứu phát triển hệ
thống canh tác.
Hệ thống nông trại gồm 3 phân hệ, chúng có mối liên hệ và tác động qua lại nhau rất
chặt chẽ:
1. Hộ gia đình, là đơn vị ra quyết định, nó thiết lập các mục tiêu cho hệ thống,
điều khiển sự hoạt động của hệ thống, phân phối sử dụng lao động, nhu cầu

phân tầng xã hội, sự phụ thuộc lẫn nhau), văn hoá (tín ngưỡng, quan điểm/thái độ,
truyền thống); (iii) Môi trường chính sách và thể chế, bao gồm:
- Các phạm vi của chính sách: các ưu tiên phát triển, nông nghiệp (khuyến
khích xuất khẩu, thay thế nhập khẩu, tiếp cận thị trường, khuyến khích các
thành phần kinh tế), chính sách công nghiệp, cơ sở hạ tầng, dịch vụ, dịch vụ,
giáo dục, chăm lo sức khoẻ, việc làm, các vấn đề quốc gia và khu vực ;
- Cơ cấu tổ chức của chính sách: cấu trúc chính sách, sự tham gia lập kế hoạch,
thực hiện kế hoạch;
- Cơ cấu pháp lý: quyền làm chủ các điều khiển các nhân tố sản xuất, quyền
làm chủ điều khiển các quá trình sản xuất;
- Nghiên cứu và khuyến nông: hướng tới thị trường, nghiên cứu hệ thống canh
tác, nghiên cứu phát triển khu vực hoá, khuyến nông;
- Dịch vụ nông nghiệp: tổ chức và quản lý của các tổ chức tiếp thị, tín dụng,
cung ứng đầu vào cho sản xuất, vv
17
2.1.5. Chuyển đổi hệ thống canh tác
Chuyển đổi hệ thống canh tác là một trong những nội dung chủ yếu của chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông thôn nói chung.
Trong nông nghiệp cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất
trồng trọt, chuyển sang sản xuất chăn nuôi, thuỷ sản và dịch vụ nông nghiệp. Trong
trồng trọt sự chuyển dịch cơ cấu diễn ra theo hướng giảm tỷ lệ sản xuất cây lương
thực chuyển dần sang sản xuất cây thực phẩm, công nghiệp ngắn, dài ngày và cây ăn
quả. Rõ ràng, để thực hiện quá trình chuyển đổi đó, chuyển đổi hệ thống canh tác là
trọng tâm của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Chuyển đổi hệ thống canh tác là thực hiện một bước chuyển từ trạng thái hiện trạng
của hệ thống sang một trạng thái hệ thống mới mà mình mong muốn đáp ứng yêu
cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Thực chất của chuyển đổi hệ thống canh
tác là một biện pháp nhằm thúc đẩy hệ thống canh tác phát triển.
Vì vậy, có thể nói chuyển đổi hệ thống canh tác hiện nay là phát triển hệ thống canh
tác trong điều kiện môi trường kinh tế - xã hội mới mà nền kinh tế thị trường đã và

đang phát triển. Frank Ellis đã phân tích sâu sắc 8 chính sách nông nghiệp đó và
chỉ ra ảnh hưởng của nó đến phát triển nông nghiệp ở các nước đang phát triển.
Đặc biệt các dẫn chứng của ông đều dựa trên những tác động của chính sách này
tới việc phát triển hệ thống canh tác, đó là: chính sách giá cả, marketing, vật tư
đầu vào, tín dụng, cơ giới hoá, đất đai, nghiên cứu và tưới tiêu.
Các nhân tố kỹ thuật được Bảng hiện là những tiến bộ khoa học kỹ thuật đưa vào
sản xuất thông qua các tổ chức khoa học và kinh tế trong quá trình chuyển giao
có ảnh hưởng lớn đến chuyển đổi hệ thống canh tác. Tiến bộ khoa học - kỹ thuật
mà trước hết là những thành tựu khoa học về sinh vật (như giống cây trồng, gia
súc, các thành tựu về công nghệ gieo trồng, chăm sóc) có chất lượng cao, sản
phẩm sản xuất ra được thị trường chấp nhận sẽ kích thích chuyển đổi hệ thống
canh tác nhanh hơn.
Hiện nay, hộ nông dân đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ tương đối độc lập với
các tổ chức kinh tế nhà nước, họ tự ra quyết định và tự chịu trách nhiệm trước
kết quả sản xuất kinh doanh của họ. Tuy nhiên, sản xuất của hộ nông dân sẽ gặp
khó khăn nếu như không có các tổ chức kinh tế hỗ trợ cho nông dân “đầu vào”
và “đầu ra”. Vì vậy, chuyển đổi hệ thống canh tác trong các hộ, nông trại phụ
thuộc rất nhiều vào vai trò hỗ trợ của nhà nước mà trước hết là các tổ chức
khuyến nông nhà nước. Ở nơi nào mà tổ chức khuyến nông hoạt động hiệu quả,
các tiến bộ kỹ thuật được nông dân chấp nhận sẽ là yếu tố thuận lợi thúc đẩy
chuyển đổi hệ thống canh tác, ngược lại sẽ hạn chế rất lớn.
2.2.Kinh tế hộ nông dân
2.2.1.Hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân
Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và
phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông
thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân.
Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao
gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn. Trong các
hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt các hoạt động có liên quan với nông
nghiệp và không có liên quan với nông nghiệp. Cho đến gần đây có một khái niệm

đình. Mỗi một hộ nông dân cố gắng đạt được một thu nhập thoả mãn nhu cầu thiết
yếu bằng cách tạo một sự cân bằng giữa mức độ thoả mãn nhu cầu của gia đình với
mức độ nặng nhọc của lao động. Sự cân bằng này thay đổi theo thời gian, theo quy
luật sinh học do tỷ lệ giữa Người tiêu dùng và Người lao động quyết định. Một hộ
nông dân sau khi một cặp vợ chồng cươí nhau và ra ở riêng, đẻ con thì Người tiêu
dùng tăng lên, gia đình gặp khó khăn, nhưng dần dần con cái lớn lên số lao động
tăng thêm, gia đình trở nên khá hơn. Đến lúc con lớn lên thành lập hộ mới thì chu kỳ
bắt đầu lại từ đầu. Sự cân bằng này phụ thuộc rất nhiều yếu tố tự nhiên và kinh tế -
xã hội mà tác giả đã nghiên cứu rất kỹ. Chính nhờ quy luật này mà các doanh
20
nghiệp gia đình có sức cạnh tranh mạnh hơn các nông trại tư bản chủ nghĩa vì trong
điều kiện mà nông trại lớn phá sản thì hộ nông dân làm việc nhiều giờ hơn, chịu bán
sản phẩm rẻ hơn, không tính đến lãi, hạn chế tiêu dùng để qua được các thời kỳ khó
khăn.
2.2.2.Động thái kinh tế hộ nông dân
Nền kinh tế nông dân vẫn tồn tại như một hình thái sản xuất đặc thù nhờ các đặc
điểm:
- Khả năng của nông dân thoả mãn nhu cầu của tái sản xuất đơn giản nhờ sự kiểm
soát tư liệu sản xuất, nhất là ruộng đất. Nhờ giá trị xã hội của nông dân hướng
vào quan hệ qua lại hơn là vào việc đạt lợi nhuận cao nhất.
- Nhờ việc chuyền giao ruộng đất từ thế hệ này sang thế hệ khác chống lại sự tập
trung ruộng đất vào tay một số ít nông dân.
- Khả năng của nông dân thắng được áp lực của thị trường bằng cách tăng thời
gian lao động vào sản xuất (khả năng tự bóc lột sức lao động).
- Đặc trưng của nông nghiệp không thu hút việc đầu tư vốn do có tính rủi ro cao
và hiệu quả đầu tư thấp.
- Khả năng của nông dân kết hợp được hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp
để sử dụng hết lao động và tăng thu nhập. Tuy vậy, ở tất cả các xã hội nền kinh
tế nông dân phải tìm cách để tồn tại trong các điều kiện rất khó khăn do áp lực
của các chế độ hiện hành gây ra.

xúc với thị trường sản phẩm, thị trường lao động, thị trường vật tư. Hộ nông dân
thuộc kiểu này vẫn chưa phải một xí nghiệp kiểu tư bản chủ nghĩa hoàn toàn phụ
thuộc vào thị trường. Các yếu tố tự cấp vẫn còn lại rất nhiều và vẫn quyết định cách
sản xuất của hộ. Vì vậy, trong điều kiện này nông dân có phản ứng với giá cả, với
thị trường chưa nhiều. Tuy vậy, thị trường ở nông thôn là những thị trường chưa
hoàn chỉnh, đó đây vẫn có những giới hạn nhất định.
Cuối cùng đến kiểu hộ nông dân sản xuất hàng hoá là chủ yếu: Người nông
dân với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của gia đình.
Kiểu nông dân này phản ứng với thị trường vốn, thị trường ruộng đất, thị trường vật
tư, lao động và thị trường sản phẩm. Tuy vậy, giả thiết rằng Người nông dân là
người sản xuất có hiệu quả không được chứng minh trong nhiều công trình nghiên
cứu. Điều này, có thể giải thích do hộ nông dân thiếu trình độ kỹ thuật và quản lý,
do thiếu thông tin thị trường, do thị trường không hoàn chỉnh. Đây là một vấn đề
đang còn tranh luận. Vấn đề ở đây phụ thuộc vào trình độ sản xuất hàng hoá, trình
độ kinh doanh của nông dân.
2.3. Thu nhập và cách tính thu nhập của hộ nông dân
2.3.1 Cách tính thu nhập
Năng suất của lao động được thể hiện qua chỉ tiêu: Giá trị gia tăng thuần/lao
động/năm.
Giá trị gia tăng thuần là giá trị mới được tạo ra bỏi hộ nông dân trong một quá
trình sản xuất.
Để chọn các thời điểm khởi đầu và kết thúc cho một quá trình sản xuất thì
thường phải chú ý tới một chu kỳ sản xuất. Nếu muốn so sánh nhiều hệ thống sản
22
xuất khác nhau thì bắt buộc phải chọn cùng một quá trình sản xuất. Thường ta có thể
chọn 1 năm sản xuất làm chu kỳ tính toán.
Để tính toán giá trị gia tăng thuần tạo ra bởi hộ nông dân thì phải biết giá trị
của sản xuất hay Tổng sản phẩm (PB) của hộ (cả phần bán đi và phần giữ lại cho
hộ).
Thực ra sản phẩm của hộ trong một chu kỳ sản xuất không được bán đi toàn

Nhưng có những hàng hoá khác cũng mua từ bên ngoài và được sử dụng trong quá
trình sản xuất như công cụ sản xuất, các đầu tư cải tạo ruộng đất, các vườn cây
cũng là một phần của phương tiện sản xuất, được gọi là Vốn cố định và không được
tiêu thụ toàn bộ trong vòng một chu kỳ sản xuất mà nó được dùng trong vòng nhiều
năm. Trong quá trình sử dụng các yếu tố này bị mất dần giá trị qua nhiều chu kỳ sản
xuất.
Người ta gọi Khấu hao là một phần của giá trị của Vốn cố định được phân chia
hàng năm vào trong giá trị của sản phẩm và kéo dài trong suốt thời gian sử dụng của
những hàng hoá này.
Ví dụ, đối với một công cụ có thời gian sử dụng chắc chắn trong 10 năm, ta tính
khấu hao bằng 1/10 giá trị thay thế của công cụ này. Thường ta cần biết giá trị của
cùng loại tài sản nếu phải mua mới tại thời điểm nghiên cứu để làm giá trị tính khấu
hao.
Người ta phân biệt Giá trị tăng thuần (VAN) và Giá trị tăng thô tuỳ theo ta đã trừ
hay chưa giá trị toàn bộ của khấu hao.
GIÁ TRỊ GIA TĂNG THÔ = GIÁ TRỊ TỔNG SẢN PHẨM - CHI PHÍ
TRUNG GIAN
GIÁ TRỊ GIA TĂNG THUẦN = GIÁ TRỊ TĂNG THÔ – GIÁ TRỊ KHẤU
HAO
Giá trị tăng thuần/lao động cho biết năng suất lao động của hộ.
(Người ta gọi là năng suất được Bảng hiện của lao động và ta chỉ chia giá trị gia
tăng theo một yếu tố duy nhất là lao động mà không tính toán tới vốn. Ta cũng có
thể tính theo cùng cách đối với vốn: năng suất Bảng thị của vốn bởi quan hệ Giá trị
gia tăng thuần / Vốn của hộ).
Giá trị gia tăng là một kết quả quan trọng bởi vì nó cho phép so sánh hoạt động có
hiệu quả cao giữa các hộ mà không cần phải xem xét sự phân chia của giá trị sản
phẩm.
Cần phải chú ý là bằng phương pháp tính của nó thì giá trị gia tăng thuần thể hiện cả
tình trạng của giá cả nông nghiệp. Ví dụ một Giá trị gia tăng cao có thể là do một
chính sách bảo trợ giá hay chính sách “đóng cửa” trong xuất nhập khẩu đặc biệt

đơn hay không tích luỹ thì hộ sẽ bị giảm sức sản xuất và giảm sức mua.
Thu nhập thuần nông nghiệp cho chúng ta biết một chỉ số phụ về khả năng tái
sản xuất của hộ nông nghiệp.
Không nên quên rằng các kết quả này chỉ đặc trưng cho một thời điểm nào đó
của một hệ thống sản xuất chứ không đặc trưng hoá động thái phát triển của hệ
thống này. Động thái là một yếu tố không thể thiếu được trong việc chẩn đoán một
hệ thống sản xuất.
Nghiên cứu sự phân chia của Giá trị gia tăng thuần trong hộ nông dân hay từ
hộ tới các tác nhân kinh tế khác cho chúng ta những thông tin quý giá về những mối
quan hệ xã hội tồn tại trong một xã hội.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status