thực trạng lạm phát tại việt nam năm 2008, những giải pháp đã thực hiện và bài học kinh nghiệm rút ra - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Có thể khẳng định rằng: Ổn định tài chính và tiền tệ là điều kiện cơ
bản để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với một quốc gia
đang phát triển như Việt Nam.
Nền kinh tế nước ta đang chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước. Cơ chế mới là môi trường thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế theo xu hướng hiện đại, chắt lọc kế thừa những
thành tựu và khắc phục những tồn tại đã qua. Trong đó lạm phát là một vấn
đề hết sức nghiêm trọng đối với các hoạt động kinh tế-chính trị-xã hội không
chỉ ở Việt Nam mà hầu hết các nước trên thế giới đều quan tâm. Lạm phát là
một trong những chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc
gia nhưng cũng là một trở ngại lớn nhất trong công cuộc phát triển đất nước.
Bước sang nền kinh tế thị trường, chúng ta phải đối đầu với con số lạm phát
không nhỏ do cơ chế cũ để lại. Lạm phát không chỉ gây ra rối loạn kinh tế,
ngừng trệ sản xuất, và bóp méo hoạt động phân bổ nguồn lực xã hội, mà còn
ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của mọi tầng lớp nhân dân, ảnh hưởng trực
tiếp tới cuộc sống của người nghèo và người có thu nhập thấp trong xã hội,
do thu nhập không thay đổi kịp với tốc độ thay đổi giá. Lạm phát giá lương
thực có thể xóa tan thành quả công cuộc xóa đói, giảm nghèo trong nhiều
năm qua của các nước đang phát triển trên thế giới.
Lạm phát là một vấn đề phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh
tế vĩ mô. Chính vì vậy, việc nghiên cứu nguyên nhân và tìm kiếm các biện
pháp đối phó với lạm phát luôn thu hút các nhà kinh tế thế giới và là công
việc thường niên của chính phủ các nước. Trong bối cảnh lạm phát tăng cao,
việc nghiên cứu tìm nguyên nhân và biện pháp để giải quyết lạm phát ở Việt
Nam là một việc hết sức cấp thiết. Việc nghiên cứu định lượng để nhận định
tình hình, tìm ra nguyên nhân và lời giải cho bài toán lạm phát ở Việt Nam
sẽ giúp chúng ta nhanh chóng ổn định kinh tế vĩ mô, đưa nền kinh tế quay
trở lại guồng tăng trưởng.
Nhận thức được sự cần thiết và quan trọng trong việc nghiên cứu và
tìm hiểu về vấn đề Lạm phát tại Viêt Nam trong năm vừa qua, nhóm sinh

vượt xa lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông
tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng nhanh và không ổn định, tiền lương thực
tế của người lao động bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin
không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng và hoạt động sản xuất
kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn. Tuy nhiên siêu lạm phát rất ít khi xảy
ra.
Lịch sử của lạm phát cũng chỉ ra rằng, lạm phát ở các nước đang phát
triển thường diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hiệu quả của nó phức tạp và
trầm trọng hơn. Vì vậy các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại:
Lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50%
một năm; lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm
phát trên 50%; siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên
200% một năm.
3. Nguyên nhân gây ra lạm phát
a) Lạm phát theo thuyết tiền tệ:
Kinh tế đi vào lạm phát, đồng tiền mất giá… có nhiều nguyên nhân
dẫn đến lạm phát. Lạm phát là hiện tượng tăng liên tục mức giá chung và có
thể giải thích theo 3 cách.
- Theo học thuyết tiền tệ, lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa
mức cung tiền.
- Theo học thuyết Keynes, lạm phát xảy ra do thừa cầu về hàng hoá và
dịch vụ trong nền kinh tế (do cầu kéo).
- Theo học thuyết chi phí đẩy, lạm phát sinh ra do tăng chi phí sản
xuất (chi phí đẩy).
Trên thực tế lạm phát là kết quả của tổng thể 3 nguyên nhân trên, mỗi
nguyên nhân có vai trò khác nhau ở mỗi thời điểm khác nhau.
b) Lạm phát theo thuyết Keynes (lạm phát cầu kéo)
Tăng cung tiền là nguyên nhân duy nhất dẫn đến việc tăng cầu về
hàng hoá và dịch vụ. Tăng tiêu dùng, chi phí công cộng và tăng dân số là
những nhân tố phi tiền tệ, sẽ dẫn đến tăng cầu. Áp lực lạm phát sẽ tăng sau 1

khác nhau đối với nền kinh tế. Xét trên góc độ tương quan, trong một nền
kinh tế mà lạm phát được coi là nỗi lo của toàn xã hội và người ta có thể
nhìn thấy tác động của nó.
* Đối với lĩnh vực sản xuất
Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra
biến động không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất. Sự
mất giá của đồng tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hạch toán kinh doanh. Hiệu
quả kinh doanh - sản xuất ở một vài doanh nghiệp có thể thay đổi, gây ra
những xáo động về kinh tế. Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi
nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn.
* Đối với lĩnh vực lưu thông
Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng
hoá. Các nhà doanh nghiệp thấy rằng việc đầu tư vốn vào lĩnh vực lưu
thông. Thậm chí khi lạm phát trở nên khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào
lĩnh vực sản xuất sẽ gặp phải rủi ro cao. Do đó nhiều người tham gia vào
lĩnh vực lưu thông nên lĩnh vực này trở nên hỗn loạn. Tiền ở trong tay
những người vừa mới bán hàng xong lại nhanh chóng bị đẩy vào kênh lưu
thông, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng vọt và điều này làm thúc đẩy lạm phát
gia tăng.
* Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng
Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàng bị thu
hẹp. Số người gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều. Về phía hệ thống
ngân hàng, do lượng tiền gửi vào giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu
cầu của người đi vay, cộng với việc sụt giá của đồng tiền quá nhanh, sự điều
chỉnh lãi suất tiền gửi không làm an tâm những người hiện có lượng tiền mặt
nhàn rỗi trong tay. Về phía người đi vay, họ là những người có lợi lớn nhờ
sự mất giá đồng tiền một cách nhanh chóng. Do vậy, hoạt động của hệ thống
ngân hàng không còn bình thường nữa. Chức năng kinh doanh tiền tệ bị hạn
chế, các chức năng của tiền tệ không còn nguyên vẹn bởi khi có lạm phát thì
chẳng có ai tích trữ của cải hình thức tiền mặt.

gần ba phần tư mức cả năm 2007, đã vượt qua mức theo mục tiêu đã đề ra
cho cả năm 2008; nhập siêu gia tăng cả về kim ngạch tuyệt đối (3.366 triệu
USD so với 1.933 triệu USD), cả về tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu (56,5%
so với 18,2%)
Theo Tổng cục Thống kê, giá tiêu dùng tháng 5 tăng đến 3,91% so với
tháng trước, cao nhất so với các tháng từ đầu năm đến nay (tháng 1 tăng
2,38%, tháng 2 tăng 3,56%, tháng 3 tăng 2,99%, tháng 4 tăng 2,20%), đưa
tốc độ tăng giá sau 5 tháng (tháng 5.2008 so với tháng 12.2007) lên đến
15,96%.
Mức lạm phát này cao hơn mức lạm phát của cả năm 2007 (12,63%)
và cao hơn mức cả năm của 15 năm qua (tính từ năm 1993).
Cũng theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng
12/2008 giảm 0,68% so với tháng trước, nhưng so với tháng 12/2007 tăng
19,89% và chỉ số giá bình quân năm 2008 so với năm 2007 tăng 22,97%;
đặc biệt, so với kỳ gốc năm 2005 đã tăng 46,07%.
Nhìn chung, trong năm 2008 có 4 nhóm hàng có chỉ số giá bình quân
tăng cao so với năm trước là: hàng ăn - dịch vụ ăn uống tăng 36,57% (riêng
lương thực tăng 49,16%, thực phẩm tăng 32,36%); nhà ở - vật liệu xây dựng
tăng 20,51%; phương tiện đi lại - bưu điện tăng 16% và đồ dùng - dịch vụ
khác tăng 13,17%. Ngoài ra, chỉ số giá bình quân của vàng trong năm 2008
đã tăng 31,93%, trong khi chỉ số giá USD chỉ tăng bình quân 2,35% so với
năm 2007.
Biểu đồ diễn biến tình hình lạm phát từ năm 2000 đến nay - Nguồn: GSO,
BVSC.
Chuyên gia IMF cho rằng, với chính sách hiện nay, Việt Nam đang
nhập khẩu lạm phát từ bên ngoài. Việt Nam cần có một cách tiếp cận mới,
linh hoạt hơn, thích ứng với biến động thị trường để cuối 2008 lạm phát có
thể trở về một con số. Cách đây vài năm, năm 2004, Việt Nam cũng đặt
trong chỉ số lạm phát của Việt Nam ở mức 9,4%. Tuy nhiên, so với thời
điểm đó, tình hình lạm phát năm nay có nhiều điểm khác.


Hình 4. Lạm phát ở Việt Nam, Philippines, Trung
Quốc, Thái Lan và Malaysia
b) Merrill Lynch phân tích thực trạng lạm phát ở Việt Nam
Ngân hàng đầu tư Merrill Lynch của Mỹ vừa công bố một báo cáo về
tình hình kinh tế châu Á, trong đó lấy Việt Nam làm tâm điểm để phân tích
tình trạng lạm phát leo thang trong khu vực.
Trong bản báo cáo tựa đề “Vietnam: Anatomy of an inflation shock”
(Việt Nam: Giải phẫu cú sốc lạm phát) này, các chuyên gia Merrill Lynch
cho rằng, cuộc chiến chống lạm phát của Việt Nam có hàm chứa nhiều bài
học quan trọng cho khu vực.
Trong những năm gần đây, Việt Nam gây ấn tượng bởi tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao liên tục. Mặc dù vậy, Việt Nam đang chịu tác động từ
chính thành công quá lớn và quá nhanh chóng của chính mình.
“Cú sốc” lạm phát
Tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay được coi là một ví dụ về “cú
sốc” lạm phát. Một số ví dụ khác bao gồm Trung Quốc hồi mùa xuân năm
2004 và mùa thu năm 2007, Ấn Độ đầu 2008, Indonesia mùa hè 2005…
Báo cáo cho rằng, kinh tế Việt Nam có nhiều điểm giống như kinh tế
Trung Quốc, chẳng hạn cả hai nước đều mới gia nhập WTO, tốc độ tăng
trưởng cao nhờ xuất khẩu và đầu tư… Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất là
cuộc chiến chống lạm phát ở Việt Nam căng thẳng hơn nhiều. Vấn đề cốt lõi
- theo báo cáo nhận định - là Việt Nam đã tiếp nhận một lượng vốn lớn hơn
rất nhiều so với khả năng hấp thụ của nền kinh tế.
Merrill Lynch cho rằng, trong cuộc chiến chống lạm phát, nhìn chung
Việt Nam có những điểm khác biệt cơ bản sau so với các nước châu Á khác.
Thứ nhất, Việt Nam đang ở tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, trong
khi phần lớn các nền kinh tế đang nổi lên ở châu Á có cán cân vãng lai thặng
dư. Thặng dư này có thể tạo ra một tấm nệm cho sự rút lui của các dòng vốn
ngoại, đồng thời giúp cho việc tăng giá đồng nội tệ để chống lạm phát trở

Nam chính là lạm phát do nguyên nhân cung tiền.
(Chịu sự tăng giá của hàng hóa trên thế giới như nhau nhưng lạm
phát ở Việt Nam cao hơn nhiều so với các quốc gia khác)
Giá cả các loại hàng hóa trên thế giới đã tăng nhanh, tỷ lệ nghịch với
sự mất giá danh nghĩa của đồng USD đẩy mặt bằng giá nguyên nhiên vật
liệu đầu vào, đặc biệt là dầu thô, lên cao gấp 2 đến 3 lần so với năm 2003.
Giá dầu lửa đã tăng từ 53,4 USD/thùng tháng 1-2007 lên 89,4 USD/thùng
tháng 12-2007, và đạt đỉnh mới 125,96 USD/thùng vào ngày 9-5-2008. Tốc
độ tăng giá năng lượng, đặc biệt là giá lương thực trong nửa cuối năm 2007
và đầu năm 2008 là nguyên nhân dẫn tới tình trạng lạm phát trên diện rộng ở
tất cả các nước trên thế giới. Đến cuối năm 2007, lạm phát so với cùng kỳ
năm trước của Việt Nam là 12,63% và đến tháng 4-2008, tỷ lệ này đã là
21,42%. Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy lạm phát ở Việt Nam cao hơn
nhiều so với các quốc gia khác.
2. Lạm phát do cung tiền ở Việt Nam
Trên đây chúng ta xét đến yếu tố chi phí đẩy dù yếu tố này không giải
thích được hoàn toàn nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam. Trong thời
gian qua, cung tiền được mọi người xem là nguyên nhân căn bản gây nên
lạm phát ở Việt Nam, sau đây chúng ta xem xét yếu tố này.
Sau khi chính thức gia nhập WTO vào năm 2007, Việt Nam được
cộng đồng quốc tế đánh giá cao về tiềm năng phát triển. Vốn đầu tư nước
ngoài đổ vào Việt Nam tăng lên nhanh chóng. Năm 2007, vốn đầu tư trực
tiếp (FDI) giải ngân lên tới 8 tỷ USD, năm 2008 lên tới 11.7 tỷ USD, chiếm
gần 1/3 lượng vốn đầu tư trong nền kinh tế. Dòng vốn đầu tư gián tiếp (FPI)
cũng tăng lên nhanh chóng, trong năm 2007 ước tính có trên 7 tỷ USD từ
dòng vốn gián tiếp đổ vào Việt Nam. Vốn viện trợ phát triển (ODA) hàng
năm Việt Nam nhận được khoảng 2 tỷ USD (năm 2007 là 2 tỷ USD, 2008
2.2 tỷ USD). Kiều hối chuyển về Việt Nam hàng năm từ 5-7 tỷ USD. Mặc
dù, Việt Nam luôn bị thâm hụt thương mại cao nhưng khoản thâm hụt này ít
hơn các dòng tiền chuyển vào Việt Nam dẫn đến cán cân tài khoản vãng lai

doanh liên kết với các doanh nghiệp, tập đoàn để tăng vốn điều lệ, mở rộng
mạng lưới nhanh chóng vượt quá khả năng quản trị, cho thành lập thêm các
ngân hàng mới và tất cả các ngân hàng chủ yếu đua nhau tìm kiếm lợi nhuận
từ nghiệp vụ cho vay nên càng làm cho tín dụng của hệ thống ngân hàng
tăng cao trong suốt năm 2007 và 3 tháng đầu năm 2008, đó là nguyên nhân
rất quan trong gây sức ép rất lớn làm gia tăng lạm phát trong thời gian qua.
Do nhu cầu nhập khẩu lớn và ngày càng tăng trong khi giá cả các mặt
hàng hàng ngày tăng nhanh nên nước ta đã nhập khẩu cả tỷ lệ lạm phát của
các nước khác. Tổng kim ngạch nhập khẩu là 88% (tháng 8/08) so với GDP
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ đầu tư/GDP cao nhất
thế giới. Trong những năm gần đây tỷ lệ đầu tư/GDP luôn lớn hơn 40%
trong khi đó tốc độ tăng trưởng chỉ đạt ở trung bình chưa đến 8%. ICOR của
Việt Nam lớn hơn 5 lần, cao hơn nhiều so với các nước Đông Á, và các quốc
gia khác cùng trình độ phát triển như Việt Nam hiện nay. Trong một nghiên
cứu trước đây của chúng tôi có tựa đề “Các vấn đề tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam” chúng tôi đã nêu ra các nguyên nhân yếu kém trong cơ cấu nền
kinh tế. Chính những yếu kém này là những nguyên nhân sâu xa cho bất ổn
vĩ mô và lạm phát cao.
Tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài trong nhiều năm qua, áp lực in
tiền tài trợ cho thâm hụt ngân sách cũng gây nên áp lực cho lạm phát. Ngoài
ra, việc kiểm soát giá hàng hóa và neo tỷ giá ngoại tệ một cách khá cứng
nhắc cũng gây ra những xáo trộn kéo dài cho nền kinh tế. Tỷ giá hay giá
hàng hóa không phản ánh giá thị trường do kiểm soát hoặc độc quyền đều ẩn
chứa khả năng lạm phát tiềm tàng trong tương lai.
NHỮNG BIỆN PHÁP KIỀM CHẾ LÀM PHÁT NĂM 2008 ĐÃ
ĐƯỢC THỰC HIỆN
Sau khi tiến hành các giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, cho đến thời
điểm này các diễn biễn vẫn theo hướng khả quan. Theo con số của Tổng Cục
Thống kê thì chỉ số CPI tháng 6 giảm phân nửa so với mức tăng của tháng 5,
điều này cho thấy 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ đã

thị trường giá cả tín dụng, ngân hàng tài chính, thị trường ngoại hối, thị
trường lao động, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản.
Ông Nguyễn Đức Thắng, Phó Vụ trưởng Vụ thương mại dịch vụ giá
cả, Tổng cục Thống kê cho rằng, mặc dù tốc độ tăng giá đã chững lại nhưng
giá cả nhiều mặt hàng thiết yếu còn diễn biến phức tạp. Theo ông Thắng thì
cần tiếp tục thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, kiểm soát chặt chẽ hoạt
động thương mại, tăng cường quản lý giá chặt chẽ, khai thông hệ thống phân
phối một cách minh bạch.
Còn ông Hoàng Thọ Xuân – Vụ trưởng Vụ chính sách thị trường
trong nước (Bộ Công Thương) cho biết, Bộ này đang gấp rút soạn thảo trình
Thủ tướng một nghị định về kiểm tra, kiểm soát, xử lý các hành vi như: đầu
cơ găm hàng, tùy tiện nâng giá, tung tin thất thiệt, gian lận, buôn lậu
(nhóm hành vi liên quan đến kiểm soát giá). Mục đích là để giữ ổn định giá
các mặt hàng thiết yếu, kiềm chế lạm phát những tháng cuối năm.
Trước đó, ngày 9/7 Thủ tướng Chính phủ cũng ra (công điện 1063/
CĐ –TTg) yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố phải tăng cường
quản lý thị trường, trực tiếp chỉ đạo các cơ quan chức năng thường xuyên
kiểm tra, kiểm soát, bán hàng theo đúng giá niêm yết, nhất là các mặt hàng
thiết yếu (như lương thực, xăng dầu, sắt thép, xi măng, phân bón, thuốc trừ
sâu, giấy, thuốc chữa bệnh) và phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng về
tình trạng đầu cơ, găm hàng, buôn lậu, đưa tin thất thiệt.
Thực hiện các biện pháp kiềm chế lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế
vĩ mô những tháng cuối năm 2008, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng
đã yêu cầu các bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các đơn vị,
cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động thực hiện quyết liệt, đồng bộ
các nhóm giải pháp, đặc biệt là các giải pháp ổn định tiền tệ, đẩy mạnh phát
triển sản xuất, giảm nhập siêu và bảo đảm an sinh xã hội.
Theo Báo Gia đình & Xã Hội, 18/7/2008, 08:13 (GMT+7)
IV. BÀI HỌC RÚT RA
1. Những bất cập còn tồn tại trong những chính sách kiềm chế lạm phát

VND với lãi suất 1,55% - 1,65%/tháng, lãi suất cho vay trung dài hạn lên tới
1,70% - 1,75%/tháng, nhưng không phải ai cũng vay được.
Một số ngân hàng thương mại cổ phần khác tăng lãi suất lên rất cao,
ngắn hạn tới 1,95%/tháng, trung và dài hạn tới 2,0% - 2,05%/tháng. Với
mức lãi suất đó chỉ có những khách hàng thực sự quá khó khăn, hoặc đầu tư
mạo hiểm theo kiểu “lướt sóng” mua vàng mới dám vay, bởi vì hiếm có lĩnh
vực sản xuất kinh doanh nào có mức lợi nhuận 24% - 26%/năm để đủ trả lãi
ngân hàng.
Theo thông lệ, tác động của việc thực hiện chính sách tiền tệ có độ trễ
ít nhất là 6 tháng. Do đó tình trạng thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế từ hạn
chế cho vay sẽ tác động đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong nửa
cuối năm 2008. Rõ ràng, mục tiêu tăng trưởng GDP là 9% trong năm nay
khó đạt được.
Với những quy định khống chế trần lãi suất tiền gửi của ngân hàng
thương mại là 12%/năm, Ngân hàng Nhà nước cũng cần có biện pháp khống
chế ngay lãi suất cho vay, có lẽ hợp lý hơn cả là không được quá 15%/năm,
nhằm hạn chế những rủi ro với chính các ngân hàng thương mại và với
doanh nghiệp.
c) Coi trọng điều hành tỷ giá
Trong 2 năm gần đây, USD đã mất giá nhiều so với các ngoại tệ mạnh
khác cũng như các đồng tiền trong khu vực, ước tính khoảng 20% - 24%.
Tuy nhiên ở Việt Nam thì lại để cho USD lên giá nhẹ: năm 2005 tăng
0,90%, năm 2006 tăng 0,90%, năm 2007 tăng 0,10%. Thậm chí năm 2007
Ngân hàng Nhà nước đã bơm ra tới gần 150.000 tỷ đồng mua khoảng 9,9 tỷ
USD để thực hiện mục tiêu tăng giá nhẹ 0,50%.
Việc neo giữ tỷ giá quá lâu đã là nguyên nhân quan trọng góp phần
gây nên lạm phát cao hiện nay. Việc này cũng làm cho hàng hoá nhập khẩu
vào Việt Nam tăng giá, thêm phần lạm phát.
d) Bất cập trong công tác dự báo
“Dù loại trừ các yếu tố bên ngoài, khách quan, vẫn có thể nhận thấy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status