báo cáo tổng hợp tình hình hoạt động của sở tài chính tỉnh bắc giang - Pdf 10

TIỂU LUẬN:

Báo cáo tổng hợp tình hình hoạt động
của Sở Tài chính Tỉnh Bắc Giang LỜI MỞ ĐẦU

Bắc Giang là vùng đất cổ có bề dày lịch sử, gắn bó hữu cơ với cả nước trong
quá trình dựng nước và giữ nước. Trải qua các thời kỳ lịch sử, tỉnh Bắc Giang ngày
nay đã có tên gọi và quy mô địa giới hành chính.
Khi đất nước ta bước vào thời kỳ độc lập, tự chủ, để phục vụ cho việc phát
triển kinh tế và quản lý đất nước, các triều đại phong kiến nước ta tiếp tục co sự
điêu chỉnh về địa giới hành chính và tên gọi. Và Bắc giang đượ tách ra từ tỉnh Hà
Bắc trước đây ( gồm 2 tỉnh là Bắc Giang và Bắc Ninh sau này)
Bắc Giang là tỉnh miền núi nằm ở phía đông bắc Bắc Bộ. Phía Bắc và Đông

giá trước đây và sở tài chính ngày nay, với mở đầu của bản Sắc lệnh: “Xét rằng,
ngay khi lo việc kháng chiến, Chính phủ đã bắt đầu công việc kiến quốc, nhưng sự
kiến quốc cần phải có một chương trình cụ thể được nghiên cứu một cách kỹ
lưỡng ”.
Từ đó đến nay, gắn bó chặt chẽ với vận mệnh của Tổ quốc qua những chặng
đường lịch sử của dân tộc, ngành tài chính đã có nhiều đóng góp vào việc thực hiện
các nhiệm vụ chiến lược mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong từng thời kỳ. Trong
những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, công tác kế hoạch được xây dựng
phục vụ 2 nhiệm vụ chiến lược là kháng chiến và kiến quốc, thực hiện khẩu hiệu
“Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi”. Ngành tài chính mặc dù mới ra đời
nhưng đã có nhiều chương trình kế hoạch giúp Chính phủ cân đối nguồn lực, thi đua
tăng gia sản xuất, tự cấp tự túc, bao vây kinh tế địch, thực hiện giảm tô, giảm tức
tiến tới cải cách ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng; chương trình mở lớp dạy
chữ, chương trình nuôi dưỡng sức dân, sức quân với mục tiêu diệt giặc đói, giặc dốt,
giặc ngoại xâm, bảo vệ chính quyền Cách Mạng còn non trẻ; thù trong giặc ngoài
với cùng một âm mưu: “tiêu diệt Đảng ta, phá tan Việt Minh, giúp bọn phản động
Việt Nam đánh đổ chính quyền nhân dân, để lập một chính phủ phản động lam tay
sai cho chúng”
2. Lịch sử phát triển:
Khi hoà bình lập lại, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, thực hiện nhiệm vụ khôi
phục, phát triển kinh tế, xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải
phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc; ngành tài chính với chức năng,
nhiệm vụ của mình đã tập trung nghiên cứu, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-
xã hội 5 năm đầu tiên (1961-1965) lấy mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa xã hội làm
trọng tâm, thực hiện một bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng bước
đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội, đồng thời hoàn thành cải tạo
Xã hội chủ nghĩa, làm cho nền kinh tế miền Bắc trở thành kinh tế Xã hội chủ nghĩa.

ngoặt lịch sử trong đổi mới tư duy và đường lối phát triển kinh tế đất nước trong
thời kỳ mới.
Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, ngành tài chính
đã đi đầu trong công cuộc đổi mới, đã không ngừng vươn lên, tự đổi mới mình cả
về tư duy kinh tế, phương pháp kế hoạch hoá, cách tổ chức triển khai công tác
nghiên cứu, xây dựng, thực hiện kế hoạch. Thành công to lớn trong hơn 20 năm đổi
mới về phát triển kinh tế- xã hội của đất nước có sự đóng góp quan trọng của ngành
tài chính. Cũng chính từ những đóng góp đó và sự khẳng định vai trò vị trí của
mình, ngành tài chính đã được Chính phủ xác định là cơ quan có chức năng tham
mưu tổng hợp về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và cơ
chế, chính sách quản lý kinh tế, giúp Nhà nước phối hợp, điều hành thực hiện các
mục tiêu và các cân đối chủ yếu của nền kinh tế.
Ra đời cùng với hệ thống cơ quan tài chính địa phương của cả nước theo Quyết
nghị của Hội đồng Chính phủ, ngành tài chính Bắc Giang đã tiếp nối truyền thống
của ngành bắt tay vào việc nghiên cứu xây dựng kế hoạch khôi phục và phát triển
kinh tế - xã hội và từ đó đến nay dưới dự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, HĐND và UBND
tỉnh, sự chỉ đạo và hướng dẫn của Bộ Tài chính, lớp lớp đội ngũ những người làm
công tác tại địa phương đã phấn đấu vươn lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được
giao, góp phần xứng đáng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Với chức năng là cơ quan tham mưu tổng hợp về chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội, về cơ chế chính sách quản lý kinh tế của cấp uỷ
Đảng, chính quyền địa phương, ngành tài chính Bắc Giang đã nghiên cứu, vận dụng
các cơ chế chính sách của Đảng, nhà nước vào điều kiện cụ thể của địa phương,
tham mưu cho cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương xây dựng mục tiêu, phương
hướng phát triển kinh tế- xã hội thông qua xây dựng các định hướng chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm và các cơ chế điều hành, giải
pháp cụ thể để triển khai thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra.

hội của địa phương.
3. Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, dự
án, quy hoạch, kế hoạch về lĩnh vực tài chính; hướng dẫn các cơ quan thuộc thành
phố, cơ quan tài chính cấp huyện, xã thống nhất tổ chức triển khai thực hiện pháp
luật, chính sách chế độ và các quy định của Nhà nước về tài chính trên địa bàn;
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về tài chính.
4. Trình UBND tỉnh phương án phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi của từng
cấp ngân sách của địa phương; trình UBND tỉnh để trình H ĐND tỉnh phê chuẩn
định mức phân bổ dự toán chi ngân sách địa phương, quyết định một số chế độ thu
phí và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật.
Hướng dẫn và tổ chức thực hiện chế độ công khai tài chính – ngân sách chế độ
quản lý tài chính, báo cáo kế toán theo quy định của pháp luật.
5. Trình UBND tỉnh quy định nhiệm vụ và các biện pháp quản lý, điều hành
ngân sách hàng năm của địa phương.
a) Hướng dẫn, kiểm tra các cơ quan hành chính, các đơn vị sự nghiệp (sau đây
gọi chung là cơ quan hành chính sự nghiệp) thuộc thành phố và cơ quan tài chính
cấp huyện, xã xây dựng dự toán ngân sách nhà nước hàng năm theo quy định của
pháp luật.
b) Thẩm định và chịu trách nhiệm về việc thẩm định dự toán ngân sách của các
cơ quan, đơn vị cấp thành phố và UBND huyện, xã
c) Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, lập dự toán thu, chi ngân
sách địa phương, lập phương án phân bổ ngân sách cấp thành phố, báo cáo UBND
tỉnh để trình HĐND tỉnh quyết định.
6. Báo cáo UBND tỉnh xem xét để trình HĐND tỉnh quyết định dự toán điều
chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết, đề xuất các phương án cân
đối ngân sách và các biện pháp cần thiết, đề xuất các phương án cân đối ngân sách
và các biện pháp cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ thu, chi ngân sách, thực hành tiết

phố quản lý; tham gia xét thầu đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết
định của UBND tỉnh và các dự án khác trên địa bàn theo đề nghị của chủ đầu tư và
được sự chấp thuận của UBND tỉnh
b) Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư trong việc trình UBND tỉnh điều chỉnh
kế hoạch phân bổ vốn đầu tư trong trường hợp cần thiết.
14. Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra các chủ đầu tư thực hiện quyết toán vốn đầu tư
theo đúng quy định của nhà nước, giải quyết vướng mắc phát sinh trong quá trình
lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư.
Hướng dẫn và kiểm tra việc thẩm tra, phê duyệt quyết toán đối với các dự án đầu
tư đã được phân cấp theo quy định.
15. Thống nhất quản lý các khoản vay và viện trợ dành cho địa phương theo quy
định của pháp luật . Giúp UBND tỉnh triển khai phát hành trái phiếu và các hình
thức vay nợ khác của địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
16. Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch vốn đầu tư, tình hình quản lý, sử dụng
vốn đầu tư, quyết toán vốn đầu tư thuộc ngân sách địa phương của Chủ đầu tư và cơ
quan tài chính quận, huyện, phường, xã, tình hình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư
của Kho bạc Nhà nước ở thành phố, quận, huyện.
17. Tổ chức thẩm tra quyết toán vốn đầu tư, trình Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt
(đối với dự án do Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt quyết toán vốn đầu tư) . Thẩm tra,
phê duyệt và chịu trách nhiệm về việc phê duyệt quyết toán các dự án đầu tư bằng
nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng cơ bản địa phương theo quy định.
Chủ trì tổ chức kiểm tra báo cáo quyết toán các dự án nhóm A sử dụng vốn ngân
sách nhà nước do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định đầu tư, trình Uỷ UBND tỉnh phê
duyệt theo quy định của pháp luật.
18. Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, phân tích tình hình huy động
và sử dụng vốn đầu tư, đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng vốn đầu tư, chủ trì thẩm
tra quyết toán vốn đầu tư của địa phương, báo cáo Bộ Tài chính và UBND tỉnh theo

Nhà nước thu hồi đất, thu tiền sử dụng đất, thuê đất, góp vốn liên doanh bằng giá trị
quyền sử dụng đất.
b) Tổ chức tiếp nhận, quản lý, trình UBND tỉnh xử lý hoặc xử lý theo thẩm
quyền đối với tài sản vô chủ, tài sản mới được tìm thấy, tài sản tịch thu sung quỹ
nhà nước, tài sản viện trợ không hoàn lại khi các dự án kết thúc chuyển giao theo
quy định của pháp luật. Riêng tài sản tịch thu sung công quỹ nhà nước do vi phạm
hành chính thực hiện theo điều 61 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.
c) Kiểm tra, xử lý hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý các vướng mắc về tài sản
thuộc sở hữu nhà nước tại các cơ quan hành chính sự nghiệp và tổ chức khác theo
quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
d) Quản lý tài sản nhà nước tại các tổ chức Hội, tổ chức bán công.
e) Tổ chức quản lý và khai thác tài sản nhà nước chưa giao dịch cho tổ chức, cá
nhận quản lý, sử dụng; quản lý các nguồn tài chính phát sinh trong quá trình quản
lý, khai thác, chuyển giao, xử lý tài sản nhà nước.
23. Giúp UBND tỉnh thống nhất quản lý công tác giá tại địa phương theo quy
định của pháp luật; tổ chức thực hiện các chính sách, biện pháp của Nhà nước về
giá . Trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định phương án giá do UBND huyện, xã
hoặc doanh nghiệp nhà nước xây dựng đối với giá tài sản, hàng hóa dịch vụ quan
trọng, giá sản phẩm độc quyền, giá chuyển quyền sử dụng đất, giá đền bù giải
phóng mặt bằng theo quy định của pháp luật.
a) Phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức hiệp thương giá, kiểm soát giá
độc quyền, chống bán phá giá, niêm yết giá theo quy định của pháp luật.
b) Thu nhập thông tin, phân tích tình hình và sự biến động giá cả; báo cáo tình
hình giá cả thị trường và tình hình thực hiện công tác quản lý nhà nước về giá tại
địa phương theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính và UBND tỉnh.
c) Chủ trì, phối hợp các cơ quan có liên quan kiểm tra việc thực hiện pháp luật
về giá của các tổ chức, cá nhân hoạt động trên địa bàn thành phố; xử lý hoặc kiến

điều hoà phối hợp trong công tác lãnh đạo.
* Các Phó giám đốc sở:
- Là công chức trong ban lãnh đạo sở, giúp Giám đốc điều hành một số lĩnh vực
và một số công việc của sở theo sự phân công của Giám đốc.
- Khi Giám đốc vắng, Phó giám đốc sẽ đảm nhận điều hành công việc của sở
theo chế độ uỷ quyền.
- Được Giám đốc phân công tham gia dự hội nghị của Bộ tài Chính, Tỉnh uỷ,
HĐND, UBND hoặc các cơ quan của tỉnh, của Trung ương mời, tham gia các ban
chỉ đạo của tỉnh.
- Thực hiện một số công tác khác khi Giám đốc phân công.
* Trưởng phòng:
- Là người quản lý điều hành công việc chung của phòng theo chức năng, nhiệm
vụ được giao và chịu trách nhiệm cá nhân trước Giám đốc và Phó giám đốc phụ
trách khối về công việc của phòng.
- Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ công tác của cơ quan, của phòng sắp xếp bố
trí phân công nhiệm vụ đối với từng cán bộ trong phòng theo khả năng, tính chất
công việc một cách hợp lý đảm bảo hiệu quả.
- Xây dựng chương trình công tác của phòng trong từng thời gian, hàng tháng,
quý, 6 tháng, cả năm.
- Chịu trách nhiệm về tổng hợp báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác
chuyên môn của phòng theo định kỳ.
- Chủ trì các cuộc họp của phòng để nghe kết quả thực hiện công việc của cán bộ
công chức trong phòng.
- Theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn các phòng Tài chính - Kế hoạch cấp huyện; các
phòng Kế hoạch sở, ban, ngành; các đơn vị cơ sở thuộc ngành, lĩnh vực phòng phụ
trách.
- Quản lý thời gian và kỷ luật lao động, theo dõi về tiến độ và chất lượng công

- Điều hành các công việc: Hành chính, tài vụ, văn thư lưu trữ, đánh máy, in ấn
văn bản và quản lý tài sản, trang thiết bị của cơ quan, quản lý và điều hành xe ô tô
con cho lãnh đạo đi công tác. Đảm bảo điều kiện phục vụ để cơ quan hoạt động
bình thường, đôn đốc công tác vệ sinh chung của cơ quan.
- Thực hiện tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa.
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Gíam đốc sở phân công
* Phòng Tổng hợp, ngân sách.
- Đánh giá, tổng hợp cân đối toàn diện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài
hạn, trung hạn và hàng năm của tỉnh.
- Nghiên cứu đề xuất và vận dụng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội áp
dụng trên địa bàn tỉnh.
- Chủ trì phối hợp với các phòng nghiệp vụ thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư,
công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và phân vùng kinh tế, theo dõi
tổng hợp quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực phòng theo dõi.
- Theo dõi tổng hợp kế hoạch các ngành, lĩnh vực: an ninh, quốc phòng, thống kê,
khoa học công nghệ và các ngành nội chính.
- Thực hiện tổng hợp báo cáo định kỳ và đột xuất với Bộ Tài chính, Tỉnh uỷ,
HĐND, UBND tỉnh.
- Triển khai các chương trình và ứng dụng công nghệ thông tin (đề án 112).
- Tổng hợp và cân đối vốn đầu tư phát triển trên địa bàn; theo dõi tình hình huy
động, phân bổ, cấp phát các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước.
- Tổng hợp và cân đối kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự kiến giao chỉ tiêu
kế hoạch hàng năm trình với UBND tỉnh quyết định.
- Giúp Giám đốc xây dựng kế hoạch hướng dẫn việc lập kế hoạch ngân sách
Nhà nước hàng năm trình UBND tỉnh, và tổ chức triển khai thực hiện sau khi kế
hoạch được duyệt


Cụ thể hoá và hướng dẫn thực hiện thống nhất các chế độ, định mức tiêu chuẩn
tài chính của Nhà nước đối với các đơn vị hành chính, sự nghiệp thuộc ngân sách
tỉnh, đối với Phòng Tài chính - kế hoạch cấp huyện.
Tham mưu lãnh đạo Sở trình UBND tỉnh về định mức phân bổ dự toán chi ngân
sách đối với các đơn vị hành chính, sự nghiệp tỉnh.
Lập dự toán ngân sách và phương án phân bổ dự toán ngân sách đối với các đơn
vị hành chính, sự nghiệp cấp tỉnh.
Cấp phát và quản lý kinh phí của các đơn vị hành chính, sự nghiệp cấp tỉnh (kể
cả nguồn kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia, dự án). Kiểm tra, kiểm soát việc
sử dụng kinh phí của các đơn vị hành chính, sự nghiệp cấp tỉnh.
Hướng dẫn các đơn vị hành chính, sự nghiệp cấp tỉnh xây dựng dự toán thu chi
ngân sách, thẩm định dự toán ngân sách của các đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh.
Thẩm tra việc phân bổ dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc của cơ quan
cùng cấp theo quy định.Lập tổng quyết toán ngân sách hàng năm đối với kinh phí
do phòng Quản lý.
Thẩm định và thông báo quyết toán đối với các đơn vị hành chính, sự nghiệp.
Hướng dẫn, kiểm tra công tác kế toán, quyết toán của các đơn vị hành chính sự
nghiệp.
Hướng dẫn và tổ chức thực hiện chế độ công khai tài chính - ngân sách, chế độ
quản lý tài chính, báo cáo kế toán theo quy định của Pháp luật.
* Phòng Tài Chính Doanh Nghiệp.
- Giúp UBND Tỉnh và Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
nước về tài chính doanh nghiệp.
- Hướng dẫn thực hiện các chính sách, chế độ quản lý tài chính doanh nghiệp
(công ty Nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước tham gia) , chế độ quản lý, bảo
toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp; dự báo khả năng động viên tài
chính từ doanh nghiệp trên địa bàn.


- Phối hợp với Sở Xây dựng, sở Công nghiệp thông báo giá vật liệu xây dựng
trên địa bàn toàn tỉnh theo quy định để kiểm soát giá vật liệu xây dựng và làm căn
cứ xây dựng dự toán, thanh quyết toán các công trình xây dựng cơ bản.
- Tổ chức kiểm tra, thanh tra các tổ chức, cá nhân hoạt động trên địa bàn tỉnh
chấp hành các quy định của pháp luật về giá và các quy định khác của pháp luật có
liên quan đến quản lý Nhà nước về giá tại địa phương theo chỉ đạo của UBND tỉnh.
* Phòng Tin hoc-Thống Kê.
- Tổ chức, điều hành, quản lý hệ thống mạng máy tính Sở Tài chính, đảm bảo hệ
thống hoạt động thống nhất, liên tục và thông suốt, theo mô hình và định hướng do
ban giám đốc sở quy định.
- Hỗ trợ kỹ thuật cho các phòng ban thuộc Sở để các phòng ban vận hành, khai
thác tốt hệ thống mạng phục vụ cho công tác chuyên môn của nội bộ mỗi phòng và
cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin lên mạng theo qui định.
- Lập mô hình, phương án kỹ thuật, phối hợp với các phòng ban trong Sở thực
hiện từng bước việc kết nối hệ thống mạng máy tính của Sở với hệ thống máy tính
của cá cơ quan tài chính cấp trên, với Cục thuế và Kho Bạc Thành phố, các cơ quan
tài chính cấp dưới, các đối tượng chịu sự quản lý về mặt tài chính ngân sách, hành
chính nhà nước trên địa bàn Thành phố và thực hiện các biện pháp hỗ trợ khác
nhằm tăng cường hoạt động trao đổi thông tin được mã hoá bằng công nghệ thông
tin về tài chính ngân sách, hành chính nhà nước giữa các phòng ban trong sở với các
đơn vị nêu trên
- Tham mưu đề xuất và phối hợp với các phòng ban trong Sở thực hiện các biện
pháp bảo đảm an ninh, bảo mật cần thiết cho các thông tin trên hệ thống mạng của
Sở và các thông tin trao đổi giữa các đơn vị trong Sở với các đơn vị ngoài Sở. Thực
hiện việc cảnh báo và nhắc nhở ý thức bảo vệ an toàn dữ liệu đối với các thành viên
tham gia mạng
- Đề xuất và xây dựng các biện pháp an toàn vật lý cho toàn hệ thống như chống
cháy, chống sét, chống nổ.



Với chức năng, nhiệm vụ của ngành là tham mưu với tỉnh thực hiện tốt công tác
quản lý Nhà nước về tài chính, ngân sách, giá cả trên địa bàn tỉnh. Ngành Tài chính
đã tập trung chủ động triển khai các nhiệm vụ thường xuyên của mình, đồng thời
thực hiện tốt chức năng tham mưu cho cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương trong
việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.
Bám sát chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, là thiết lập và vận hành ở
Việt Nam, trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước. Mọi chính sách tài
chính, mọi việc làm của ngành tài chính thực hiện tốt định hướng và chính sách, sẽ
góp phần quan trọng đảm bảo cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đời sống
nhân dân không ngừng được cải thiện. Mọi giải pháp và công việc của cán bộ tài
chính phải xuất phát từ các yếu tố chính trị, xã hội, và phải góp phần giải quyết
được những đòi hỏi cuộc sống đặt ra. Do nền kinh tế, văn hoá, xã hội luôn vận
động, phát triển nên các giải pháp, biện pháp quản lý, thúc đẩy nền kinh tế - xã hội
phát triển cần phải bám sát thực tiễn, tính toán, cân nhắc và vận dụng linh hoạt sáng
tạo trong triển khai áp dụng.
Tăng cường hiệu quả, hiệu lực của hệ thống thanh tra, giám sát bằng nghiệp vụ,
tổ chức, thực hiện đầy đủ và đúng nguyên tắc từng quy trình chuyên môn. Tổ chức
thanh tra tài chính phải được sắp xếp và kiện toàn bộ máy hợp lý từ trên xuống
dưới. Trong công tác này cần coi trọng biện pháp công khai tài chính để hạn chế các
tiêu cực phát sinh, là việc làm cụ thể thể hiện tính dân chủ và minh bạch của cơ
quan, tổ chức, tạo tiền đề cho hoạt động thị trường tài chính mở.
Thực hiện công tác giáo dục tư tưởng, chống mọi biểu hiện sai trái trong hoạt
động thu chi, điều tiết ngân sách Nhà Nước, phải đặc biệt coi trọng kỷ luật và
nguyên tắc tài chính.
Quản lý, thanh tra, giám sát việc quàn lý hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh.
2. Kết quả hoạt động của sở Tài Chính:
Với chức năng, nhiệm vụ nêu trên trong năm 2009, hoạt động của sở Tài chính
đã đạt được những kết quả như sau:

quyết toán NSNN, tham mưu với tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh thực hiện đúng luật
NSNN và các quy định về quản lý và điều hành NSĐP của UBND tỉnh. Quá trình
điều hành đảm bảo dự toán được kinh phí ở các đơn vị có sử dụng kinh phí NSNN,
đảm bảo đúng chế độ, định mức và tiêu chuẩn quy định, thực hiện đúng các chủ
trương, chính sách nhà nước, chỉ đạo của tỉnh uỷ và UBND tỉnh trong việc thực
hiện luật thự hành tiết kiệm và chống lãng phí, luật phòng chống tham nhũng. Quản
lý chặt chẽ kinh phí các dự án, các chương trình mục tiêu quốc gia, kinh phí uỷ
quyền trung ương,
Kết quả ước thực hiện chi năm 2009: 4.691,8 tỷ đồng, đạt 148,7% dự toán năm
và tăng 19,9% so với năm 2008. Trong đó: chi đầu tư XDCB năm 2009 ước thực
hiện cả năm đạt 1.330 tỷ đồng, đạt 171,3% so với dự toán giao đầu năm, tăng 45,5%
so với năm 2008; Chi thường xuyên ước thực hiện 2.701,4 tỷ đồng, bằng 125,5% dự
toán năm và tăng 23,1% so với cùng kỳ; Chi chương trình mục tiêu quốc gia,
chương trình 135, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng ước thực hiện 109,6 tỷ đồng,
bằng 106% dự toán năm.
Thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 và Nghị định
43/2006/NĐ-CP ngày 26/04/2006 của Chính Phủ. Sở Tài Chính đã tham mưu, đề
xuất UBND tỉnh chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện đổi mới cơ chế tài chính, kết quả đến
nay đã có 165/199 đơn vị thực hiện Nghị định 130/2005/NĐ-CP , bằng 82,9%; có
664/751 đơn vị thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP bằng 88,4%. Các đơn vị được
giao quyền tự chủ, công tác quản lý tài chính và thực hành tiết kiệm chống lãng phí
đã có chuyển biến rõ rệt, thực hiện tốt việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, đảm
bảo công khai, dân chủ, tăng cường việc áp dụng giao khoán kinh phí cho từng
phòng, ban trong đơn vị, nhiều đơn vị tiết kiệm được các khoản chi để bổ sung thu
nhập cho cán bộ công chức trong đơn vị.
quyền sử dụng đất ở tại thành phố Bắc Giang và các thị trấn trong tỉnh với tổng diện
tích là 52.806,04 m2, tổng giá khởi điểm là 174,4 tỷ đồng; phê duyệt đơn giá thuê
đất của 15 đơn vị và khu dân cư số 3 với tổng diện tích đất cho thuê là 550.832,4
m2, tổng tiền thuê đất phỉa nộp hàng năm là 1.004,6 triệu đồng/năm; trình chủ tịch
UBND tỉnh phê duyệt phương án đấu giá giao đất sản xuất kinh doanh phi nông
nghiệp, với diện tích đất là 299,4 m2; giá khởi điểm là 1.676 triệu đồng;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status