TIỂU LUẬN:Tập hợp lực lượng của Mỹ và Liên Xô trong chiến tranh lạnh 1945 -1991 - Pdf 10


TIỂU LUẬN

Tập hợp của Mỹ và Liên Xô trong
chiến tranh lạnh 1945 -1991
1
Trên cơ sở lý thuyết Địa chính trị đã học, anh chị hãy so sánh quá trình triển
khai, tập hợp lực lượng của Mỹ và Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh lạnh (1945-1991).

Bài làm
Trên một mức độ rất lớn, hành vi đối ngoại của một quốc gia bị chi phối bởi môi
trường quốc tế, nhưng môi trường quốc tế lại không phải là nhân tố duy nhất ảnh hưởng
đến hành vi đối ngoại của một nước. Từ góc độ lý luận, môi trường quốc tế của thời kỳ
đầu chiến tranh lạnh chỉ tạo điều kiện cho xung đột và đối kháng giữa hai cường quốc,
biến chiến tranh lạnh thành khả năng chiến tranh nóng. Nhưng sự thực, hai nước Xô –
Mỹ lại không lựa chọn phương thức hợp tác mà từng bước đi đến Chiến tranh lạnh. Đó
là vì sự đối lập căn bản về ý thức hệ, sự khác biệt căn bản về lợi ích quốc gia của hai
nước. Hay nói cách khác, động cơ hành vi của hai nước về cơ bản là triệt tiêu lẫn nhau.
Sự đối lập đó đã có những biểu hiện rõ ràng trong thời kỳ “nghẹt thở” này.
Liên Xô và Mỹ, một là nước Xã hội chủ nghĩa lớn nhất, một là nước Tư bản chủ
nghĩa lớn nhất. Chịu sự chi phối của tín ngưỡng ý thức hệ, hai nước dựa vào tiến triển
của Chiến tranh thế giới thứ 2 và cục diện sau chiến tranh để ra sức mở rộng phạm vi

trang bị tốt nhất trong các khu giải phóng cả nước. Đối với các Đảng Cộng sản Tây Âu,
Liên Xô lại không giành sự trợ giúp nào.
Trong chiến tranh Thế giới thứ hai, Rudơven thực hiện chính sách ngoại giao
theo chủ nghĩa hiện thực, Mỹ và Liên Xô kết thành đồng minh chống phát xít, dòng
chảy chính của quan hệ hai nước trong thời chiến là hữu hảo và hợp tác. Nhưng suy cho
cùng, Rudơven vẫn là nhân vật đại diện cho giai cấp tư sản, trong quan hệ đối ngoại của
ông ta không thể không có nhân tố ý thức hệ chống cộng, ông ta lại càng không thể là
“phần tử đỏ trong Nhà Trắng”. Vì vậy, cùng với việc sắp sửa kết thúc chiến tranh thế
giới thứ hai, xung đột ý thức hệ giữa Mỹ - Xô ngày càng bộ lộ rõ. Nhân tố ý thức hệ
trong chính sách đối ngoại của Rudơven được phản ánh rõ nét trong chính sách đối với
Đông Âu. Bề ngoài ông chủ trương chính sách tự quyết dân tộc ở Đông Âu, để nhân
dân ở đó lựa chọn chính phủ của mình. Nhưng trên thực tế, mục đích của chính sách đó
là biến khu vực này thành “phi chủ nghĩa cộng sản hoá”, làm suy yếu ảnh hưởng của
chủ nghĩa xã hội. Đối với mục tiêu ý thức hệ trong chính sách đối ngoại của Mỹ, trợ lý
thân cận của Rudơven là Hopkin đã nói hết sức rõ ràng: “Cố gắng lợi dụng sức mạnh
ngoại giao của chúng ta, thúc đẩy và khích lệ xây dựng chính quyền dân chủ trên toàn
thế giới. Chúng ta không nên ngần ngại tỏ rõ lập trường của mình đối với thế giới, tức
là yêu cầu nhân dân thế giới đều phải được hưởng quyền thành lập một chính phủ đích
thực do dân bầu. Chúng ta tin tưởng, chính thể dân chủ có sức sống của chúng ta là tốt
nhất trên thế giới”.
Còn đối với Mỹ, luôn đi theo quan điểm học thuyết Vùng đất Rìa, đã tìm mọi
cách cô lập Liên Xô. Mỹ cố gắng áp đặt tầm ảnh hưởng của mình lên những vùng đất
đối chọi lại những vùng đất chịu ảnh hưởng của Liên Xô, cố gắng cô lập Liên Xô một
cách tốt nhất có thể. Sau khi Rudơven mất, đặc biệt là sau khi kết thúc Chiến tranh thế
giới thứ hai, động cơ ý thức hệ chống cộng thúc đẩy chế độ xã hội, và quan niệm giá trị
của Mỹ ngày càng được biểu hiện rõ ràng trong quan chính sách đối ngoại của Mỹ. Sau
khi nhậm chức tổng thống, tư tưởng chống cộng, chống Xô và đẩy mạnh chế độ xã hội
Mỹ của Truman được thể hiện nhiều trong lời nói, đồng thời biểu hiện cụ thể trong
chính sách của ông ta. Ông ta cho rằng: “Toàn thế giới nên áp dụng chế độ Mỹ”. Chính
sự thúc đẩy của hệ tư tưởng đó, ngay sau chiến tranh, Mỹ đã đứng về một bên các nước

loại thứ nhất là đối kháng căng thẳng trực tiếp giữa hai siêu cường, như sự Phong toả
Berlin và khủng hoảng Berlin, Khủng hoảng tên lửa Cuba; thứ hai là đối kháng gián
tiếp giữa hai nước lớn siêu cường, hoặc là nói sự giao tranh căng thẳng giữa đồng
minh của siêu cường này với siêu cường kia: chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt
Nam, nội chiến Angôla và việc Liên Xô đưa quân vào Ápganixtan. Những cuộc giao
tranh này, dù thuộc loại thứ nhất, hay loại thứ hai đều có đặc điểm chung là diễn ra
trên những khu vực nhạy cảm. Và nếu siêu cường nào thiết lập được tầm ảnh hưởng
của mình lên khu vực đó, sẽ là một khó khăn lớn đối với siêu cường kia.
LIÊN MINH PHÒNG THỦ VARXAVA VÀ HIỆP ƢỚC
BẮC ĐẠI TÂY DƢƠNG (NATO)
Dưới đây là bảng so sánh về hai tổ chức quân sự lớn nhất lúc bấy giờ.
Tiêu chí
so sánh
Liên minh phòng thủ Vacxava
Hiệp ƣớc Bắc Đại Tây Dƣơng (NATO)
Hoàn
cảnh
- Vào năm 1955 thì khối NATO đã
phê chuẩn hiệp ước Pari (1954) nhằm
tái vũ trang cho Tây Đức, đưa Tây
Đức gia nhập khối NATO nhằm chống
lại Liên Xô, chống CHDC Đức.
- Việc làm này đã làm cho hoà bình
và an ninh châu Âu bị uy hiếp nghiêm
trọng.
- Sự phát triển ảnh hưởng của chủ nghĩa
cộng sản và Liên Xô lúc đó đang trên đà
phát triển rất mạnh ở châu Âu.
- Các nước Đông Âu được sự giúp đỡ của
Liên Xô, đang xây dựng chủ nghiã xã hội.

chất
Liên minh phòng thủ quân sự, chính
trị.
Liên minh phòng thủ quân sự, chính trị.
Vai trò
và tác
dụng
- Tăng cường sức mạnh quân sự cho
các nước Đông Âu giữ gìn hoà bình,
an ninh của Liên Xô và các nước
Đông Âu. Đối phó với mọi âm mưu
gây chiến của bọn Đế quốc. Tạo thế
cân bằng chiến lược về quân sự giữa
các nước xã hội chủ nghĩa với các
nước đế quốc. Tiêu biểu như ở
Hungari (1956), Tiệp Khắc (1968), Ba
Lan
- Nhằm xây dựng một lực lượng quân sự
mạnh cho đất nước tư bản chủ nghĩa ở Âu
Châu để ngăn cản “làn sóng cộng sản chủ
nghĩa” có thể lan sang các nước Tây Âu có
thể gây phương hại đến an ninh của các
nước đồng minh của Mỹ.
Kết quả
- Ngày 31/3/1991, tổ chức hiệp ước
Vacsava giải thể vì những biến đổi
chính trị ở Liên Xô và Đông Âu và do
Xô - Mỹ thoả thuận về việc chấm dứt
“Chiến tranh lạnh”.


Do có quan điểm khác nhau về việc điều hành một nước Đức thống nhất trong
tương lai, hai phía Liên Xô và Mỹ
Ngày 7 tháng 3 năm 1948, hội nghị London giữa 3 nước phương Tây đưa ra nghị
quyết hợp nhất ba vùng chiếm đóng phía Tây thành một chính quyền liên bang độc lập
Ngày 20 tháng 6 năm 1948, phần phía Tây của Berlin bắt đầu sử dụng Đồng
Mark làm đơn vị tiền tệ chung
Về mặt pháp lý, Tây Berlin cũng không là một phần của Cộng hoà Liên bang
Đức trong khi Đông Berlin trở thành thủ đô của Cộng hoà Dân chủ Đức.
Năm 1948, Stalin muốn giành toàn bộ thành phố này cho Đông Đức nên đã ra
lệnh phong tỏa tất cả đường bộ từ phía Tây Đức đến Berlin. Phương Tây cũng không
vừa, họ thiết lập một cầu không vận, vận chuyển 1,5 triệu tấn lương thực, thuốc men,
nhu yếu phẩm, cho người dân phần Tây Berlin, tính ra trên 120.000 chuyến bay đến
thành phố này trong vòng 10 tháng. Phong tỏa Berlin thất bại.
Bức tường Berlin, từng được Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Đức gọi là "Tường
thành bảo vệ chống phát xít" và bị người dân Cộng Hoà Liên Bang Đức gọi là "Bức
tường ô nhục" là một phần của biên giới nội địa nước Đức và đã chia cắt phần Tây
Berlin với phần phía đông của thành phố và với lãnh thổ của nước Cộng hòa Dân chủ
Đức bao bọc chung quanh Tây Berlin từ ngày 13 tháng 8 năm 1961 đến ngày 9 tháng
11 năm 1989. Bức tường này là một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của cuộc
Chiến tranh Lạnh và của việc chia cắt nước Đức. Khoảng 5000 người đã tìm cách vượt
qua bức tường để sang Tây Berlin. Số người bị thiệt mạng khi vượt tường nằm trong
khoảng từ 86 đến 200 người.
Sau khi Đệ nhị thế chiến chấm dứt, nước Đức bị chia thành bốn vùng chiếm
đóng theo Hội nghị Yalta, do các nước Đồng Minh (Mỹ, Liên Xô, Anh và Pháp) kiểm
soát và quản lý. Berlin, đã từng là thủ đô của Đế chế Đức, cũng bị chia làm bốn khu
vực tương tự như nước Đức. Cùng lúc đó cuộc Chiến tranh Lạnh giữa Đông và Tây
cũng đã bắt đầu trên nhiều bình diện khác nhau. Berlin trở thành trung tâm của cuộc
chiến giữa các cơ quan tình báo của cả hai phe. Trong năm 1948 Cuộc phong tỏa Berlin
của Liên bang Xô Viết là một trong những cuộc khủng hoảng lớn đầu tiên trong cuộc
Chiến tranh Lạnh.

soát được và trở thành một lỗ hổng để người dân chạy qua Tây Berlin. Từ 1949 cho đến
1961 khoảng 2,6 triệu người đã rời bỏ Đông Đức và Đông Berlin, trong số đó vẫn còn
47.433 người chạy trốn chỉ riêng trong hai tuần đầu của tháng 8 năm 1961. Ngoài ra
Tây Berlin cũng là cửa ngỏ đi đến phương Tây cho nhiều người Ba Lan và Tiệp Khắc.
Vì những người này thường là những người trẻ tuổi và được đào tạo tốt nên việc di dân
này là mối đe dọa cho sức mạnh kinh tế của Đông Đức và cuối cùng là cho sự tồn tại
của quốc gia này.
Thêm vào đó khoảng 50.000 người dân Đông Berlin tuy hằng ngày làm việc ở
Tây Berlin nhưng lại sinh sống và cư ngụ dưới những điều kiện rẻ tiền hơn ở Đông
Berlin hay ở những vùng ngoại thành Berlin. Vào ngày 4 tháng 8 năm 1961 Hội đồng
thành phố Berlin (Đông) ban quy định bắt buộc những người này phải đăng ký và phải
trả tiền nhà cũng như những phí tổn phụ (điện, nước) bằng tiền Deutsche Mark của Tây
Đức. Trước khi bức tường được xây dựng, lực lượng Công an Nhân dân của Đông Đức
trong Đông Berlin cũng đã kiểm soát nghiêm ngặt các con đường và phương tiện giao
thông đi qua phần phía tây của thành phố để ngăn chặn những người "chạy trốn cộng
hòa" và "buôn lậu". Ngoài ra, nhiều người ở Tây Berlin và người Đông Berlin nhưng
làm việc tại Tây Berlin đã dùng tiền Mark Đông Đức được đổi với giá rẻ trên thị trường
ngoại tệ chợ đen – tỷ giá hối đoái thời điểm đấy là 1:4 – để mua lương thực thực phẩm
tương đối rẻ và các hàng hóa tiêu dùng cao cấp ít ỏi ở Đông Berlin. Qua đó hệ thống
kinh tế theo chế độ kinh tế kế hoạch của Đông Đức lại càng suy yếu đi. Bức tường được
xây dựng để phục vụ cho ý định của những người cầm quyền Đông Đức, đóng kín cửa
biên giới để chấm dứt cái được gọi một cách bình dân là "bỏ phiếu bằng chân" – rời bỏ
"quốc gia công nông xã hội chủ nghĩa".
Bức tường được xây dựng theo chỉ thị của lãnh đạo Đảng Xã hội Chủ nghĩa
Thống nhất Đức, dưới sự bảo vệ và canh phòng của lực lượng Công an Nhân dân và
Quân đội Nhân dân Quốc gia – trái với những lời cam đoan của Chủ tịch Hội đồng Nhà
nước của Đông Đức, Walter Ulbricht, người trong một cuộc họp báo quốc tế tại Đông

7
Berlin vào ngày 15 tháng 6 năm 1961 đã trả lời câu hỏi của nữ nhà báo Tây Đức

nêu ra – chứ không như theo kế hoạch là đến 14 ngày nữa."
Trong đêm 12 rạng sáng ngày 13 tháng 8 năm 1961 Quân đội Nhân dân Quốc
gia, 5.000

người của Cảnh sát biên phòng (tiền thân của Lực lượng Biên phòng sau
này), 5.000 người thuộc Công an Nhân dân và 4.500

người thuộc lực lượng công nhân
vũ trang bắt đầu phong tỏa các đường bộ và đường sắt dẫn đến Tây Berlin. Quân đội
Xô Viết được đặt trong tình trạng báo động và hiện diện tại các cửa khẩu biên giới của
Đồng Minh. Tất cả các liên kết giao thông còn tồn tại giữa hai phần Berlin đều bị gián
đoạn.
Một cuộc chạm trán trực tiếp có vẻ nguy hiểm giữa quân đội Mỹ và Xô Viết xảy
ra vào ngày 27 tháng 10 năm 1961 tại Checkpoint Charlie trên đường Friedrich khi 10
chiếc tăng mỗi bên đã đỗ đối diện nhau ngay trước vạch ranh giới. Thế nhưng vào ngày
hôm sau cả hai nhóm tăng đều được rút về. Cả hai phe đều không muốn vì Berlin mà
cuộc Chiến tranh Lạnh sẽ leo thang hay cuối cùng là đi đến một cuộc chiến tranh hạt
nhân.

8
Đất nƣớc bị chia cắt
Từ ngày 1 tháng 6 năm 1952 dân cư trong Tây Berlin không còn được phép tự
do vào Đông Đức. Sau nhiều cuộc thương lượng kéo dài Hiệp định giấy thông hành
được ký kết năm 1963, tạo điều kiện cho hằng trăm ngàn người Tây Berlin thăm viếng
họ hàng trong phần phía đông của thành phố vào dịp cuối năm.
Bắt từ đầu thập niên 1970 với chính sách tiếp cận giữa Đông Đức và Tây Đức do
Willy Brandt và Erich Honecker mở đầu, biên giới của hai quốc gia được mở rộng hơn
một ít. Đông Đức bắt đầu cho phép đi du lịch dễ dàng hơn, đặc biệt là cho những nhóm
người "phi sản xuất" như những người đang nghỉ hưu và cho phép công dân Tây Đức
thăm viếng một cách đơn giản hơn từ những vùng gần biên giới. Một quyền tự do du

Kỳ 1: Từ sự kiện Vịnh Con lợn
Chiến tranh Lạnh bắt đầu được một thời gian, Trung Âu và khu vực Viễn Đông
trở thành mặt trận giằng co, đấu tranh chủ yếu của hai phe Xô, Mỹ. Điều đó cũng có
nghĩa thế trận được bày ngay trước cổng của Liên Xô. Đối với Mátxcơva, đặc biệt là
Nikita Khrushchev, người đang giữ chức Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Cộng sản

9
Liên Xô, đó là điều không thể chấp nhận được. Vì thế, Cremli quyết tâm tìm cách thay
đổi tình hình. Sau khi cách mạng Cuba thắng lợi vào năm 1959, cơ hội đã đến với
người Liên Xô
Đứng trước sự uy hiếp về quân sự và quyết định đình chỉ viện trợ kinh tế của
Mỹ, Cuba vẫn kiên cường. Nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của Mátxcơva, ngày
3/7/1960, lãnh tụ Cuba, Fidel Castro, tuyên bố từ nay về sau sẽ là một bộ phận cấu
thành của phe xã hội chủ nghĩa. Ngày 2/9 năm đó, trong một cuộc mít tinh với sự tham
gia của hàng trăm nghìn người, Fidel đã đọc bản “Tuyên ngôn La Habana” nổi tiếng,
kịch liệt chỉ trích chính sách mở rộng xâm lược của Mỹ ở Mỹ Latinh, tuyên bố “Mỹ
Latinh là của người Mỹ Latinh”.
Sau khi đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, dưới sự ủng hộ của các nước xã hội
chủ nghĩa, tình cảm chống Mỹ của người Cuba dâng cao. Tháng 1/1961, Mỹ cắt quan
hệ ngoại giao với Cuba. Quan hệ giữa Mỹ và Cuba căng thẳng cực độ. Ngày 20/1/1961,
John Kennedy lên thay Dwight Eisenhower làm tổng thống thứ 35 của Mỹ.
Tình hình vẫn không có gì thay đổi bởi trong quá trình tranh cử, Kennedy đã
biểu thị một cách rõ ràng rằng Mỹ sẽ không để cho Liên Xô biến Cuba thành căn cứ của
mình trên biển Caribê. Tiếp quản Nhà Trắng, Kennedy càng cho thúc đẩy kế hoạch ủng
hộ các phẩn tử lưu vong Cuba lật đổ chính quyền của Fidel. Theo Dobrynin, nhà ngoại
giao kỳ cựu của Liên Xô, Cục tình báo trung ương Mỹ và Lầu Năm góc đã lên kế hoạch
bí mật mang tên Mangosta với mục tiêu là làm suy yếu và sụp đổ hoàn toàn chính
quyền của Fidel.
Ngày 15/4/1961, ba chiếc máy bay B-26 sơn cờ hiệu Cuba mang theo bom, tên
lửa và súng máy tấn công một số sân bay chủ yếu gần La Habana như ở Ciudad

lượng Cuba lưu vong, đồng ý với chúng rằng Mỹ sẽ bỏ 53 triệu USD để chuộc những
tên phản động lưu vong bị bắt trong Sự kiện Vịnh Con lợn về trước lễ Noel và sẽ loại
Cuba ra khỏi Tổ chức các nước châu Mỹ trong hội nghị của tổ chức này vào tháng
1/1962…
3/ Cổ vũ mạnh mẽ phe xã hội chủ nghĩa. Ngày 18/4/1961, Liên Xô ra tuyên bố
kiên quyết ủng hộ cuộc đấu tranh dũng cảm giành độc lập, tự do của nhân dân Cuba,
yêu cầu Mỹ ngừng mọi hành động xâm lược nhằm vào Cuba. Khrushchev sau này cũng
viết: “Sau khi Fidel giành thắng lợi quyết định trước các phần tử phản cách mạng,
chúng tôi đã tăng cường viện trợ quân sự cho Cuba. Quân đội Cuba có thể tiếp nhận
được bao nhiêu vũ khí, chúng ta sẽ cung cấp bấy nhiêu”.
Nếu đem kết hợp ba yếu tố trên lại, rõ ràng, Cuba ngày càng gần với Liên Xô và
phe xã hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh giữa Mátxcơva và Oasinhtơn lấy La Habana làm
thể mang cũng ngày càng quyết liệt. Cuộc khủng hoảng trên biển Caribê đã xảy ra trong
bối cảnh đó.
Kỳ 2: Đến những chuyến tầu bí mật trên biển Caribê
Từ khi Chiến tranh Lạnh bắt đầu, hai phe Xô, Mỹ luôn trong tình trạng “tên
chuẩn bị rời cung, súng sẵn sàng lẩy cò” và bên nào cũng muốn giành phần thắng.
Về phần Oasinhtơn, sau khi Eisenhower bước vào Nhà Trắng, John Dulles thay
George Marshall làm Ngoại trưởng, từ “ngăn chặn”, chính sách đối phó với phe xã hội
chủ nghĩa của Mỹ đã chuyển thành “ngăn chặn và giải phóng”:
Một mặt dựa vào ưu thế hạt nhân quân sự để đạt được hiệu quả uy hiếp cao nhất
với giá thấp nhất, thông qua răn đe hạt nhân và thiết lập vòng vây quân sự tiếp tục ngăn
chặn sự “bành trướng” của Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản; mặt khác dựa vào các hành
động bí mật và tấn công tâm lý để lật đổ chính quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa, dùng
biện pháp hòa bình “giải phóng nhân dân các nước Đông Âu khỏi ách áp bức của chủ
nghĩa cộng sản” (chiến lược Diễn biến hòa bình).
Đối với Mátxcơva, sau khi Stalin mất, Georgy Malenkov lên giữ chức Chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng. Trong hơn hai năm nắm quyền, Malenkov đã cho thực thi chính
sách đối ngoại tương đối hòa hoãn, làm dịu bớt sự đối kháng vốn rất quyết liệt với thế
giới phương Tây do Mỹ đứng đầu.

tập quân sự quy mô lớn ở biển Caribê…
Hơn ai hết, Chủ tịch Fidel Castro, hiểu rõ thế và lực của Cuba lúc này, muốn
chống lại Mỹ cách tốt nhất là nhờ vào sự giúp đỡ của Liên Xô. Sau sự kiện bãi biển
Giron, Khrushchev đã hai lần viết thư cho Kennedy nói rõ với người Mỹ rằng Liên Xô
phải cung cấp cho Cuba mọi sự viện trợ cần thiết. Tháng 7/1962, Fidel phái Raul và
Che Guevara dẫn đầu đoàn đại biểu Cuba thăm Liên Xô với mục đích chủ yếu là yêu
cầu Liên Xô có biện pháp giúp Cuba.
Trên thực tế, từ khi xảy ra sự kiện bãi biển Giron, Khrushchev luôn suy nghĩ
nghiêm túc về sách lược đối với vấn đề Cuba. Theo Khrushchev, người Mỹ sẽ không
thể chấp nhận được sự tồn tại của chính quyền Fidel. Nếu Liên Xô không có bước đi
quyết định bảo vệ Cuba thì rất có thể sẽ mất Cuba. Nếu Cuba sụp đổ, các nước Latinh
khác sẽ rời bỏ Liên Xô, làm sụt giảm nghiêm trọng vị thế của Liên Xô trên trường quốc
tế. Với suy nghĩ đó, Khrushchev quyết tâm biến Cuba thành lô cốt đầu cầu ngay trong
sân sau của phương Tây.
Trong chuyến thăm này, Cuba và Liên Xô đã đạt được một hiệp định đàm phán
quân sự. Theo đó, Liên Xô sẽ cung cấp viện trợ quân sự cho Cuba và cử chuyên gia
quân sự tới đảo quốc này. Nội dung cụ thể của hiệp định không được công bố, nhưng
sau đó người Mỹ phát hiện, số lượng tầu Liên Xô chở vật tư đi tới biển Caribê tăng
mạnh, chỉ trong hai tháng 7 và 8/1962 đã là hơn 100 lượt. Đặc biệt, những chiếc tàu này
sau khi cập cảng Cuba, hàng hoá đều do người Liên Xô bốc dỡ.
Điều này đã làm cho người Mỹ nghi ngờ. Khi đó, ở nước Mỹ cũng loang đi tin
có 16 tàu hàng của Liên Xô chở theo 3.000-5.000 nhân viên kĩ thuật và rất nhiều cấu
kiện tên lửa đã tới Cuba. Tuy chưa được kiểm chứng, nhưng nó đã làm cho người Mỹ
cảm thấy bất an. Ngay lập tức, Mỹ tăng cường giám sát đường không và đường biển đối
với Cuba, chụp ảnh tất cả những tàu Liên Xô đi vào vùng biển Cuba.

12
Kennedy rất quan tâm tới những thông tin tình báo này. Bắt đầu từ tháng 8/1962,
việc nhân viên và trang bị của Liên Xô được đưa vào Cuba luôn nằm trong chương
trình nghị sự của Nhà Trắng. Phái cứng rắn của Đảng Cộng hòa càng được thể, phê

khi đó, nếu phóng từ lãnh thổ của mình và muốn đến được nước Mỹ, tên lửa của Liên
Xô phải mất từ 20-30 phút bay
Cục diện bất lợi này khiến Khrushchev cảm thấy bất an. Trước chuyến thăm
Mátxcơva của Raul Castro, tháng 5/1962, Khrushchev đi thăm Bungari. Một hôm,
Khrushchev đi dạo trên bờ Biển Đen với Nguyên soái Rodion Malinovsky - Bộ trưởng
Quốc phòng Liên Xô. Malinovsky chỉ tay sang phía bờ đối diện nói: “Chỉ cần vài phút
là những quả tên lửa hạt nhân bố trí ở các căn cứ quân sự Mỹ trên đất Thổ Nhĩ Kỳ có
thể huỷ diệt Kiép, Minxcơ và Mátxcơva”.
Khrushchev hỏi: “Vậy tại sao chúng ta không thể thiết lập căn cứ quân sự ở gần
nước Mỹ?” Và Khrushchev quyết tâm biến ý tưởng đó thành hiện thực. Đúng lúc này,
quan hệ giữa Mỹ và Cuba leo thang căng thẳng. Trong một thời gian ngắn, Cuba đã cử

13
hai đoàn đại biểu sang thăm Liên Xô, đề nghị Mátxcơva giúp La Habana chống lại sự
xâm lược của Oasinhtơn
Nhằm tạo thế cân bằng với Mỹ, Khrushchev đương nhiêu đã vui vẻ nhận lời giúp
đỡ Cuba. Nhưng giúp bằng cách gì? Cung cấp những loại vũ khí thông thường như xe
tăng, đại pháo …cũng chỉ giúp Cuba nâng cao khả năng phòng ngự thông thường,
không thể tạo ra sức mạnh răn đe đối với Mỹ. Khrushchev cho rằng: “Chúng ta nhất
định phải nghĩ ra biện pháp thực tế để đối phó với Mỹ và sự can thiệp của Mỹ ở biển
Caribê”. Cuối cùng, Khrushchev quyết định phải xây dựng căn cứ quân sự và bố trí tên
lửa hạt nhân, máy bay Il-28 ở Cuba.
Khrushchev dự tính nếu hoàn thành việc bố trí tên lửa hạt nhân ở Cuba trước khi
bị người Mỹ phát hiện thì chỉ cần 1/10 số tên lửa của Liên Xô thoát khỏi đòn trả đũa
của Lầu Năm góc cũng đủ giáng đòn sấm sét vào New York. Kết quả của việc bố trí tên
lửa hạt nhân ở Cuba không chỉ có thể khống chế hành động quân sự tuỳ tiện của Mỹ
nhằm vào Cuba, mà còn giúp tạo thế cân bằng hạt nhân giữa Mátxcơva và Oasinhtơn.
Theo Khrushchev, người Mỹ xây dựng các căn cứ quân sự bao vây Liên Xô, sử dụng
vũ khí hạt nhân đe doạ Liên Xô, nên họ đáng được nếm vị đắng khi thấy tên lửa của
Liên Xô chĩa vào

tầm trung của Liên Xô ở San Cristobal (tỉnh La Habana). Ngay lập tức, thông tin trên
được cấp báo cho cố vấn an ninh quốc gia, George Bundy. Nhận thấy tính nghiêm trọng
của sự việc, không một chút chậm trễ, Bundy vội vàng sang gặp tổng thống. 11 giờ trưa
16/10, trên bàn Kennedy đã có tất cả những tấm ảnh phóng to cùng lời chú giải của CIA
về căn cứ tên lửa của Liên Xô trên đất Cuba.
Theo CIA, những bãi phóng tổng hợp của Liên Xô xây dựng ở Cuba được cấu
thành từ 16-20 quả tên lửa, có thể sẵn sàng tham chiến trong vòng 2 tuần nữa. Khi đó,
Oasinhtơn, Dalas hay Saint Louis và rất nhiều thành phố khác cùng toàn bộ các căn cứ
trực thuộc Bộ tư lệnh không quân chiến lược Mỹ đều nằm trong tầm bắn của tên lửa
Liên Xô. Viễn cảnh khủng khiếp trên khiến người Mỹ không thể ngồi yên. Trong một
hành động được cho là đối phó, Lầu Năm góc nhanh chóng vạch ra kế hoạch huấn
luyện quân sự và lấy đó làm bình phong che mắt để tiến hành tập kết binh lực ở các căn
cứ quân sự thuộc bang Florida, gần Cuba.
Tham gia kế hoạch huấn luyện quân sự trên của Lầu Năm góc có khoảng 40.000
lính thủy đánh bộ Mỹ, trong đó 5.000 quân được bố trí ở căn cứ hải quân Guantnamo
của Mỹ trên lãnh thổ Cuba. Sư đoàn đổ bộ đường không số 101, tinh nhuệ nhất của
quân đội Mỹ cũng được đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Tất cả chỉ đợi lệnh là
nổ súng tiến công Cuba.
Từ 11 giờ trưa đến 6 giờ chiều ngày 16/10, Kennedy đã triệu tập hai cuộc họp bí
mật thảo luận về kế hoạch hành động đối với Cuba. Phái diều hâu trong Lầu Năm góc
đưa ra hai phương án cứng rắn: 1/ Lực lượng vũ trang Mỹ trực tiếp tấn công Cuba. Ban
đầu, máy bay Mỹ sẽ tiến hành tấn công đường không, phá hủy các cơ sở phòng thủ, kho
vũ khí và sân bay của Cuba. Sau đó, lính thủy đánh bộ Mỹ sẽ đổ bộ lên Cuba, tiêu diệt
toàn bộ tên lửa, nhân viên kĩ thuật của Liên Xô và chính quyền Fidel.
2/ Huy động khoảng 500 chiếc máy bay tiến hành ném bom rải thảm đối với
Cuba, mục tiêu chủ yếu là các bãi phóng tên lửa của Liên Xô. Tuy nhiên, cả hai phương
án này rõ ràng mang tính xâm lược, đặc biệt là có thể khơi nguồn cho một cuộc chiến
tranh giữa Mỹ và Liên Xô, nên đã gặp phải sự phản đối của phái ôn hòa chiếm đa số tại
cuộc họp.
Quan trọng hơn, Kennedy vẫn chưa biết rõ mục đích thực sự của Liên Xô khi

phương diện ngoại giao, Mátxcơva cũng thể hiện rõ thái độ cứng rắn. Ngày 18/10, Bộ
trưởng Ngoại giao Liên Xô, Andrei Andreyevich Gromyko, lần lượt hội kiến với Tổng
thống Mỹ, John Kennedy và Ngoại trưởng Mỹ, David Dean Rusk, tại New York.
Gromyko khẳng định: “Nếu Mỹ lựa chọn hành động thù địch đối với Cuba, cũng
có nghĩa Mỹ đã nhằm vào một số nước có quan hệ tốt đẹp với Cuba, tôn trọng độc lập
của Cuba và viện trợ cho Cuba những lúc khó khăn. Trong bối cảnh đó, Liên Xô sẽ
không đứng nhìn. Giờ không phải là giữa thế kỷ 19, không phải là thời đại thế giới phân
chia thành những mảnh đất thuộc địa thực dân, cũng không thể xảy ra cảnh một nước bị
xâm lược hàng tuần rồi mà vẫn không kêu gọi cứu viện được. Liên Xô là một quốc gia
vĩ đại. Liên Xô sẽ không là một kẻ bàng quan trước nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến
tranh lớn gây ra bởi vấn đề Cuba hay tình hình ở khu vực khác trên thế giới”.
Khi đó cả Tổng thống Kennedy, Ngoại trưởng Rusk, Bộ trưởng quốc phòng
McNamara, Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy và Thứ trưởng Ngoại giao George
Power đều biểu thị Mỹ không muốn tấn công vũ trang đối với Cuba, nhưng quyết
không cho phép Liên Xô biến hòn đảo này thành căn cứ quân sự tiến công Mỹ và các
nước Mỹ Latinh. Gromyko phản đòn: “Mỹ xây dựng căn cứ quân sự ở Thổ Nhĩ Kỳ,
Nhật Bản và phái tới đó không ít cố vấn quân sự.
Ấy là chưa nói tới ở Anh, Italia và một số quốc gia Tây Âu khác. Một khi Mỹ có
thể xây dựng căn cứ quân sự ở những quốc gia trên thì Mỹ cũng có thể ký hiệp ước
quân sự ưới những quốc gia này. Lẽ nào Liên Xô không có quyền giúp Cuba phát triển
kinh tế và củng cố quốc phòng”. Sự cứng rắn của Mátxcơva như chất xúc tác khiến Nhà
Trắng ngày càng thiên về lựa chọn một quyết sách cứng rắn.
Sau cuộc họp bí mật của Nhà Trắng, các thành viên tiểu ban bí mật (sau này có
tên: “Tiểu ban chấp hành Ủy ban An ninh Quốc gia”) cũng tham gia vào 4 cuộc thảo
luận trong 4 đêm liên tục nhằm tập hợp ý kiến, đưa ra các phương án đối phó với việc
Liên Xô đưa tên lửa sang Cuba. Đa số đồng ý với việc thiết lập một vành đai phong tỏa
đặc biệt ngăn chặn Liên Xô đưa các thiết bị nguyên tử vào Cuba. Ngày 18/9, Kennedy
quyết định thành lập ủy ban chuyên môn phụ trách việc hoạch định những hành động
đối phó cụ thể và chỉ một ngày sau, ủy ban này đã đưa ra được một loạt phương án khác
nhau, chỉ đợi tổng thống phê chuẩn.

quân sự của Liên Xô ở Cuba. Tuần trước, có rất nhiều bằng chứng không thể chối cãi
cho thấy trên hòn đảo này đang có sự xây dựng một hệ thống tên lửa mang tính tiến
công. Căn cứ tên lửa này, ngoài việc đem tới sức mạnh vũ trang tấn công Tây bán cầu
thì không có mục đích nào khác.
Có được loại vũ khí tầm xa mang tính tiến công với sức sát thương quy mô lớn
như vậy, Cuba sẽ lập tức biến thành căn cứ chiến lược quan trọng, tạo ra sự uy hiếp rõ
ràng đối với người châu Mỹ và hòa bình, an ninh. Lần đầu tiên, người Liên Xô quyết
định bí mật bố trí thứ vũ khí chiến lược này ngoài lãnh thổ của họ. Điều đó cho thấy họ
cố ý thay đổi hiện trạng. Nếu chúng ta hy vọng bạn bè tin vào dũng khí và những lời
cam kết của chúng ta, Mỹ phải quyết không để Liên Xô làm như vậy”.
Ngay sau đó, Kennedy ra lệnh cho quân đội Mỹ bước vào trạng thái sẵn sàng
chiến đấu, 24 tiếng đồng hồ sau đó lại ký văn kiện số 3504, tuyên bố bắt đầu từ 14 giờ
(giờ GMT) ngày 24/10, Mỹ sẽ tiến hành phong tỏa toàn diện đối với Cuba, bất cứ tàu
thuyền nào tới Cuba đều phải chịu sự kiểm tra của các chiến hạm Mỹ, nếu chống lệnh
sẽ bị bắn chìm. Một biên đội hải quân khổng lồ của Mỹ được tập kết ở biển Caribê.
Một nửa số máy bay ném bom chiến lược của Mỹ sẵn sàng cất cánh. Những
chiếc tàu ngầm trang bị tên lửa Polaris đã tiến vào trận địa tác chiến. Bài phát biểu trên

17
truyền hình của Kennedy được phát đi trên toàn thế giới bằng 38 loại ngôn ngữ khác
nhau đã gây ra phản ứng mạnh mẽ. Mỹ bắt đầu hành động. Nguy cơ về một cuộc đối
đầu nghiêm trọng kể từ sau Chiến tranh Triều Tiên, thậm chí là sau Chiến tranh Thế
giới lần thứ II đã lộ diện.
CHIẾN TRANH TRIỀU TIÊN
Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) là mộ cuộc chiến tranh nóng đầu tiên trong
thời kỳ chiến tranh lạnh, và cũng là một trong những xung đột nghiệm trọng nhất giữa
Đông – Tây. Một hiện tượng đáng để mọi người suy ngẫm là cuộc chiến tranh này và
cuộc chiến tranh nóng Đông – Tây sau này đểu nổ ra ở Châu Á, hơn nữa Bán đảo
Đông Dương mà Việt Nam ở đó và Bán đảo Triều Tiên như người Mỹ nói lại không
phải là “khu vực trọng điểm”, mà là khu vực “biên duyên” chiến lược. Ngoài ra, hiai

Triều Tiên thống nhất, bởi nếu TriềuTiên thống nhất thì ở bên cạnh hai "người khổng
lồ" của hệ thống XHCN là Liên Xôvà Trung Quốc thì sớm muộn cả bán đảo Triều Tiên
cũng sẽ bị cuốn vào quỹ đạo củachủ nghĩa cộng sản.

18
Mỹ cũng xác định rằng, Đông Bắc Ácó nhiều lợi ích trong chiến lược toàn cầu
của mình, mà điểm then chốt là NamTriều Tiên. Mỹ coi Nam Triều Tiên như là chiếc
neo chiến lược đối với sự có mặtcủa mình trên lục địa châu Á nói chung và khu vực
Đông Á nói riêng. Bởi ngoài sựđề phòng Liên Xô, Mỹ còn sợ nếu mất Nam Triều Tiên,
thì không chỉ Liên Xô và rung Quốc, Nhật Bản cũng sẽ là một đối trọng với Mỹ.
Nam Triều Tiên sẽ là một điểmdừng chân của Mỹ ở Đông Á, giúp Mỹ khống chế
Liên Xô, Trung Quốc và Nhật Bản.Còn về phía Liên Xô, cũng coi bán đảo Triều Tiên
có tầm chiến lược quan trọng.Nếu Nam Triều Tiên được giải phóng thì phạm vi thế lực
của Liên Xô sẽ được mởrộng tới sát Nhật Bản, đối thủ kỳ cựu đáng gờm nhất của nước
Nga từ cuối thế kỷXIX.
Hơn nữa cường quốc này cũng khôngmuốn có một "biên giới mềm" của Mỹ ở
ngay sát cạnh mình và khống chế cả khu vựcvốn nằm trong vùng ảnh hưởng truyền
thống của mình. Chính vì thế, Liên Xô xemNam Triều Tiên thân Mỹ là một cái gai
trong mắt và luôn muốn nhổ bỏ nó đi.
Và như vậy, việc chiến tranh nổra trên địa bàn chiến lược Triều Tiên không phải
là toan tính của riêng phíaLiên Xô hay phía Mỹ, mà nó xuất phát từ động cơ chính trị,
kinh tế của cả haibên, nằm trong một không gian chung - đó là cuộc Chiến tranh lạnh.
Triều Tiên đã trở thành một chủthể hàm chứa khối mâu thuẫn lớn của thời đại
(mâu thuẫn giữa hai cực Xô - Mỹ).Chính vì vậy, việc nổ ra cuộc chiến ở đây là điều
người ta hoàn toàn có thể dựliệu được.
VAI TRÒ CỦA “CỰC MỸ” VÀ “CỰC XÔ” TRONG DIỄN BIẾN CUỘC
CHIẾN TRANH TRIỀU TIÊN
Ngay sau khi chiến tranh bùng nổtrên bán đảo Triều Tiên (25/6/1950), để tránh
can thiệp một cách "thô thiển", Mỹđã nhanh chóng đưa vấn đề Triều Tiên ra nghị bàn
tại diễn đàn Liên Hiệp Quốctrong lúc thiếu vắng sự tham dự của đại diện Liên Xô, rồi

Trong các bức điện ngày 1 và 6/7,Stalin viết: Liên Xô sẽ "hoàn toàn thỏa mãn
yêu cầu của Bắc Triều Tiên về vậnchuyển vũ khí và các trang bị quân sự khác", "sẽ
cung cấp toàn diện các loại vũkhí, xe tăng v.v ".
Viện trợ quân sự của Liên Xôtrong năm 1950 lên tới kỷ lục 870 triệu rúp. Nhờ
vậy quân đội Bắc Triều Tiênnhanh chóng chiếm gần hết Nam Triều Tiên, trừ khi tới
mỏm Pusan tận cùng phía nam mới gặp kháng cự đáng kể. Tuyvậy, Stalin không muốn
công khai việc Liên Xô giúp Bắc Triều Tiên về quân sự.
Ông cấm các cố vấn quân sự LiênXô vượt vĩ tuyến 38 với lý do "không muốn để
lại chứng cứ để người ta tố cáoLiên Xô tham dự cuộc chiến tranh này, đây là việc của
Kim Nhật Thành". Vì vậy,khi quân Bắc Triều Tiên bị sa lầy ở Nam Triều Tiên (tháng
7/1950) cần sự cố vấncủa chuyên gia quân sự Liên Xô, thì một số cố vấn Liên Xô đã
phải cải trangthành các phóng viên để vượt vĩ tuyến 38 xuống giúp Bộ tham mưu mặt
trận quânBắc Triều Tiên.
Sang năm 1951, trước việc quânđội Triều - Trung gặp khó khăn khi phải chống
đỡ với không quân Mỹ, Liên Xô đãtiến thêm một bước bằng việc chi viện không quân
cho Bắc Triều Tiên. Tuy vậy,Moskva vẫn tìm mọi cách tránh nảy sinh xung đột công
khai với Washington. Liên Xô đã cử những phi công ưu tú giả làmkhách du lịch và đi
tàu sang Trung Quốc.
Các phi công Liên Xô được chọnđều mang một tấm thẻ, bên trên in tên Trung
Quốc của mình cũng như những từ ngữchuyên dùng khi bay bằng tiếng Hán và tiếng
Triều Tiên. Ngoài ra, nhằm tránh bịlộ chân tướng, trong quá trình tác chiến, khi liên lạc
qua vô tuyến điện, cácphi công Liên Xô phải sử dụng tiếng Hán hoặc tiếng Triều Tiên.
Không quân LiênXô dưới vỏ bọc không quân Trung Quốc đã gây nhiều tổn thất cho
không quân Mỹ ởTriều Tiên
Đặc biệt là trận giao chiến ngày12/4/1951 đã trở thành ngày "Thứ 5 đen tối"
trong lịch sử không quân Mỹ. Một vấnđề đặt ra là người Mỹ có biết quân đội Liên Xô
đã tham gia vào Chiến tranh TriềuTiên? Câu trả lời là có.
Ngay từ cuối năm 1950, qua cácnguồn tin tình báo, Lầu Năm Góc đã kết luận
quân Liên Xô đã tham chiến. Các đàichặn thu sóng vô tuyến điện của Mỹ đã ghi lại
được nhiều đoạn đối thoại bằngtiếng Nga của các phi công Liên Xô khi tác chiến trên

tế quan trọng. Ngay khi độc lập khỏi Bồ Đào Nha năm 1975, thủ đô và chính phủ danh
nghĩa của Angola rơi vào Phong trào Giải phóng Nhân dân độc đảng trị.Trước đó,
UNITA và FLNA được Zaire, Hoa Kì, và Nam Phi hậu thuẫn đã kiểm soát được miền
Bắc, miền Nam, Tây và Tây Nam.Một phần Miền trung, bờ biển phía Tây và Thủ đô
Luanda do MPLA kiểm soát. Một thời gian trước khi dược trao trả độc lập, cuộc nội
chiến bắt đầu.
Để bảo vệ 1.376 kilômét biên giới với Tây Nam Phi của Angola chống lại sự
xâm nhập của du kích Tổ chức Nhân dân Tây Nam Phi (SWAPO) có cơ sở tại Angola,
các lực lượng quân đội Nam Phi đã dọn một dải trắng rộng một kilômét tại Angola với
chiều dài gần một nửa đường biên giới. Zaire, vốn từng cung cấp hỗ trợ cho các du kích
FNLA, nhanh chóng cung cấp viện trợ cho cả UNITA. Tới lượt mình, Liên bang Xô
Viết tăng mạnh viện trợ quân sự cho MPLA với các thiết bị quân sự như xe bọc thép,
máy bay, cố vấn; trong khi một số lượng lớn quân đội Cuba được máy bay Liên Xô đưa
tới Angola trong một nỗ lực công khai nhằm thiết lập sự cân bằng quân sự có lợi cho
MPLA. Tới tháng 10 - 1975, MPLA và các lực lượng Cuba đã kiểm soát Luanda, và đa
phần cơ sở hạ tầng đất nước, buộc các lực lượng UNITA phải chuyển sang chiến thuật
du kích. MPLA đơn phương tuyên bố mình là chính phủ thực tế của đất nước khi độc
lập được tuyên bố chính thức vào ngày 11 tháng 11, và Agostinho Neto trở thành tổng
thống Angola đầu tiên. Nước Cộng hòa nhân dân Angola ra đời (đến năm 1991 hệ
thống đa đảng được áp dụng, Nhà nước đổi tên là Cộng hòa Angola).
Năm 1976, FNLA bị quân đội Cuba đánh bại, chỉ còn lại MPLA và UNITA (khi
ấy được Hoa Kỳ và Nam Phi hậu thuẫn) cạnh tranh quyền lực. Từ năm 1979, Jose
Eduardo dos Santos đã nắm quyền lãnh đạo chính trị đất nước. Dù hệ thống đa đảng đã

21
được áp dụng từ năm 1991, Đảng Lao động của Phong trào Giải phóng Nhân dân vẫn
nắm quyền lực.
Nội chiến
Cuộc xung đột giữa MPLA và UNITA diễn ra ở vùng nông thôn, được tiếp thêm
sức lực bởi cuộc xung đột địa chính trị thời Chiến tranh lạnh và bởi khả năng tiếp cận

giữ những người lãnh đạo chủ yếu của Phái ngọn cờ và Phái quần chúng. Ngày 27-4-
1978, một nhóm sĩ quan giết chết Đaút, lấy danh nghĩa là “Uỷ ban quân uỷ Cách mạng”
tiếp quản chính quyền, đổi tên nước thành Cộng hoà Dân chủ Ápganixtan. Ngày 30-4
“Uỷ ban Quân sự Cách mạng” bị giải tán và thành lập ra “Uỷ ban Cách mạng” do Đalát
lãnh đạo. Cuộc đảo chính tháng 4 này đã được Liên Xô hoan nghênh, mặc dù Liên Xô
không hề biết kế hoạch đảo chính, bởi vì nó phù hợp với lợi ích quốc gia Liên Xô. Tuy
chính quyền mới có tuyên bố kiên trì chính sách “không liên kết”, nhưng lại nhấn mạnh
sẽ tăng cường thêm một bước quan hệ hữu hảo và hợp tác toàn diện với Liên Xô. Cố
vấn quân sự và các trang bị vũ khí ùn ùn đưa đến Ápganixtan.

22
Nhưng sau khi Đảng dân chủ Nhân dân cầm quyền chưa được bao lâu thì nội bộ
bắt đầu xảy ra tranh chấp và bộc lộ ra ngoài rất gay gắt. Những người lãnh đạo của Phái
ngọn cờ bị phế truất, và Phái quần chúng lên nắm chính quyền. Lúc này, ở Ápganixtan,
lá cờ hồng đã thay thế lá cờ ba sắc lục, đen, đỏ đại diện cho Đạo Islam, phụ nữ có thể
không phải đeo mạng che mặt khi đứng trước đàn ông… Cuộc cải cách đã đánh mạnh
vào xã hội Ápganixtan mang đạm màu sặc Đạo Islam, vì thế mà nó phải chịu sự chống
đối từ nhiều mặt. Ngay từ mùa hè 1978, ở miền Đông đã xảy ra bạo loạn vũ trang chống
chỉnh phủ. Cuối năm 1978 đầu năm 1979, phong trào đấu tranh chống chính phủ đã lan
rộng ra khắp hầu hết các khu vực trong cả nước. Sự biến động cục diện chính trị ở
Ápganixtan là Liên Xô hết sức lo ngại. Những người lãnh đạo Liên Xô không hài lòng
hành động loại trừ Phái ngọn cờ thân Liên Xô và những biện pháp cải cách cực đoan,
nhưng vì suy tính đến việc bảo vệ thế lực của Liên Xô tại đó, nên vẫn giúp đỡ Đảng dân
chủ Nhân dân củng cố chính quyền, và hy vọng Đảng này sẽ áp dụng chính sách ôn hoà
hơn. Cuối tháng 6-1979, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô quyết định
bí mật đưa một tiểu đoàn đổ bộ bằng đường không gồm 600 người đến để bảo vệ an
ninh cho căn cứ không quân trọng yếu của Ápganixtan và cử 125-150 nhân viên đến
bảo vệ an ninh cho Đại sứ quán Liên Xô ở Kabun. Mặc dù cũng đưa đến Ápganixtan
nhiều chuyên gia quân sự và chính trị, nhưng nhà lãnh đạo Liên Xô vẫn từ chối đem
quân đến Ápganix để dẹp loạn vì sợ sức ép chính trị của quốc tế. Vì có một vị trí chiến

làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô và ông đã tìm mọi cách để rút quân về nước
trong danh dự.
CHIẾN TRANH VIỆT NAM
Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh nóng khác hết sức căng thẳng, có
sự ảnh hưởng lâu dài giữa Đông – Tây trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Cũng giống như
chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam chưa làm cho chiến tranh lạnh Mỹ-Xô
thành chiến tranh nóng Mỹ-Xô.
Chiến tranh Việt Nam bắt đầu từ năm 1956, khi Mỹ ngang nhiên chống lại hiệp
định Giơnevơ, hất cẳng Pháp ra khỏi Việt Nam, đem quân vào chiến trường miền Nam
Việt Nam, lập ra chính phủ bù nhìn Ngô Đình Diệm, lấy sông Gianh – vĩ tuyến 17 làm
giới tuyến tự nhiên chia đôi hai miền Nam – Bắc. Và giới tuyến này chỉ được xoá bỏ
khi quân đội Bắc Việt Nam đánh chiếm được dinh Độc Lập, miền Nam được thống
nhất, Tổ quốc thu về một mối lúc 11 giời ngày 30-4-1975.
Về bản chất, chiến tranh Việt Nam và chiến tranh Triều Tiên đều là chiến tranh
nóng Đông – Tây trong thời kỳ chiến tranh lạnh, nhưng quan hệ Đông – Tây được phản
ánh trong cuộc chiến tranh Việt Nam lại phức tạp, đan xen gấp nhiều lần so với chiến
tranh Triều Tiên.
Ngày 18-1-1950, Việt Nam và Trung Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại
giao. Trung Quốc tuy đang gặp muôn vàn khó khăn những vẫn quyết định viện trợ cho
Việt Nam kháng Pháp. Với sự ra đời của nước Trung Hoa mới, Trung – Xô kết thành
đồng minh quân sự và Trung Hoa tích cực ủng hộ Việt Nam trong cuộc chiến tranh giữ
nước chống Pháp, buộc Mỹ phải nhìn nhận lại vị trí chiến lược của Việt Nam, coi đây là
chiến tuyến quan trọng để chống lại “sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản”. Vào
khoảng đầu năm 1950, Mỹ công khai ủng hộ Pháp và Mỹ đã bị cuốn hút thu nhập theo
từng bước. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải ký Hiệp định
Giơnevơ, công nhận nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Mỹ tuy cũng
tham gia hiệp định này nhưng lại không chịu ký kết, chỉ tỏ thái độ sẽ không dùng đe
doạ hoặc vũ lực để gây trở ngại đến việc thực hiện Hiệp định. Sau khi thay thế Pháp ở
Việt Nam, Mỹ thành lập nước Việt Nam Công hoà do Ngô Đình Diệm làm tổng thống
ở miền Nam Việt Nam vào tháng 10 – 1955. Đến năm 1959, chính quyền Aixenhao bắt

Việt Nam mở rộng và Liên Xô bắt đầu viện trợ với quy mô lớn của Việt Nam. Tóm lại,
chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh nóng giữa Đông – Tây, và phức tạp hơn nhiều
so với chiến tranh Triều Tiên, nhưng đối kháng Đông – Tây lại phản ảnh không đậm nét
như chiến tranh Triều Tiên. Cuộc chiến tranh này đã làm Mỹ tiêu tốn rất nhiều nhân lực
và vật lực, và dẫn đến địa vị thực lực của Mỹ xuống dốc nhanh chóng. Ngược lại, khi
Mỹ sa lầy trong chiến tranh Việt Nam, Liên Xô lại tăng nhanh thực lực của mình, nhất
là trong lĩnh vực quân sự buộc Mỹ phải thay đổi chính sách đối ngoại của mình, hoà
hoãn với Trung Quốc để mượn sức mạnh của Trung Quốc chống lại Liên Xô. Còn Liên
Xô lại lợi dụng lúc Mỹ suy yếu để thẩm thấu ảnh hưởng vào các khu vực Trung Đông,
châu Phi, Nam Á, Trung Mỹ. Và sau chiến tranh, Việt Nam lại là đồng minh thân cận
của Liên Xô.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status