Phần I
CAN THIỆP SỚM CHO TRẺ KHUYẾT TẬT,
CÁC NGUYÊN TẮC CỦA CAN THIỆP SỚM
I. Khái niệm chung
Can thiệp sớm là những chỉ dẫn ban đầu và các dịch vụ dành cho trẻ và gia
đình trẻ khuyết tật trước tuổi tiểu học nhằm kích thích và huy động sự phát triển tối
đa ở trẻ, tạo điều kiện và chuẩn bị tốt cho trẻ tham gia vào hệ thống giáo dục bình
thường và cuộc sống sau này.
Can thiệp sớm là việc trợ giúp nhằm vào tất cả các trẻ em có nguy cơ hoặc
đã bị khuyết tật. Việc trợ giúp này bao gồm toàn bộ giai đoạn từ chẩn đoán trước
khi sinh cho đến lúc trẻ đến tuổi đi học; việc phát hiện và chẩn đoán sớm cho đến
lúc hướng dẫn. Can thiệp sớm có liên quan đến cả đứa trẻ lẫn cha mẹ, gia đình và
mạng lưới rộng lớn. Tuy nhiên, cho tới nay, chúng ta vẫn chưa coi trọng việc chẩn
đoán trước khi sinh là một bộ phận không thể tách rời của can thiệp sớm.
II. Các nguyên tắc cơ bản
1. Mọi trẻ đều có khả năng học tập
Trẻ khiếm thính hay khiếm thị vẫn có trí tuệ bình thường. Mục tiêu giáo dục
đặt ra cho trẻ khuyết tật cũng giống như cho trẻ bình thường. Công việc của trẻ
khuyết tật cũng giống như công việc của trẻ bình thường, trừ những công việc đòi
hỏi trẻ phải có khả năng nghe bình thường hoặc khả năng nhìn tốt. Ví dụ, một
người mù không thể lái xe ô tô được; trẻ chậm phát triển trí tuệ phát triển chậm hơn
(và có những hạn chế do khuyết tật gây ra), nhưng vẫn có thể học được. Ngày nay,
học tập đã trở thành quyền lợi của trẻ em bình thường cũng như trẻ khuyết tật.
2. Trẻ khuyết tật cũng phải học các kỹ năng mà trẻ bình thường học và sử dụng
Trẻ khuyết tật trước hết là một đứa trẻ, sự phát triển của trẻ khuyết tật
cũng tuân theo tiến trình, quy luật như trẻ bình thường, tuy nhiên có chậm hơn
ở những khía cạnh nhất định. Trẻ khuyết tật càng học được nhiều kỹ năng như
ở trẻ bình thường thì chúng càng có khả năng tham gia vào nhiều hoạt động
hơn trong gia đình cũng như xã hội, trẻ khuyết tật càng dễ dàng được chấp
nhận hơn trong cộng đồng nếu như những hành vi của chúng càng giống trẻ
bình thường. Vì vậy, trẻ khuyết tật cần phải học các kỹ năng như trẻ bình thường.
1. Ý nghĩa đối với trẻ
Can thiệp sớm có thể ngăn ngừa những nhân tố nguy hiểm tới đứa trẻ hay
những nguyên nhân dẫn đến sự chậm phát triển hoặc rối loạn chức năng. Điều này
có thể đạt được bằng cách giúp cho trẻ có được sự kích thích và tác động qua lại
một cách đúng đắn với môi trường xung quanh ở ngay giai đoạn đầu của sự phát
triển của trẻ.
Can thiệp sớm để đồng thời thực hiện chức năng chữa bệnh.
Can thiệp sớm sẽ giảm các ảnh hưởng của những bệnh mãn tính và khuyết
tật chức năng lâu dài. Có thể ngăn cản sự chậm phát triển cũng như các khuyết tật
khác gia tăng.
2. Ý nghĩa đối với cha mẹ
2
Can thiệp sớm là những phương pháp hiệu quả để giúp cha mẹ cư xử với đứa
trẻ khuyết tật của họ. Chương trình can thiệp sớm chủ động lôi cuốn cha mẹ vào
quá trình can thiệp cho trẻ nên họ có thể tự phát hiện ra khả năng và năng lực của
chính mình về khả năng để xử lý, hướng dẫn và điều trị chăm sóc trẻ.
Can thiệp sớm giúp cha mẹ không cần phải căng thẳng về vấn đề tình cảm
của mình, do đó góp phần quan trọng vào quá trình chấp nhận. Can thiệp sớm làm
cho giảm bớt hay loại trừ sự bất lực của nhiều cha mẹ trong việc xử lý các vấn đề
của trẻ, cải thiện mối quan hệ cha mẹ và đứa con, mối quan hệ về mặt tình cảm
được cân bằng hơn và tránh được một số công việc chăm sóc trẻ không cần thiết.
Can thiệp sớm sẽ tránh được việc cha mẹ không cung cấp thông tin. Những
thông tin này liên quan đến:
- Việc chẩn đoán, nguyên nhân khuyết tật và dự đoán tiến triển của bệnh.
- Kiến thức về sự phát triển bình thường và cần phải thúc đẩy sự chậm phát
triển hoặc điều chỉnh sự phát triển không bình thường như thế nào.
- Hệ thống hỗ trợ của xã hội mà họ được hưởng.
3. Ý nghĩa đối với gia đình
Can thiệp sớm có thể tránh cho anh chị em trong gia đình rơi vào tình thế
không thuận lợi dẫn đến kết quả là chính sự phát triển của chúng lại bị cản trở
trì hoãn trong sự phát triển chung của trẻ sau này sẽ được tính bằng cấp số nhân.
* Chẩn đoán: bao gồm việc nhận ra một khuyết tật về phát triển cùng
với các nguyên nhân được đặt ra. Việc chẩn đoán được thực hiện theo kết quả
của việc phát hiện các dấu hiệu và tín hiệu cho thấy sự lệch lạc hay có nguy cơ
về mặt phát triển. Phát hiện, chẩn đoán sớm mới có hy vọng điều trị, ngăn chặn
tật và để kịp thời tiến hành phục hồi chức năng.
Trẻ em được phát hiện qua khám sàng lọc được đưa tới các địa chỉ thích
hợp để thực hiện các chẩn đoán toàn diện và sâu hơn. Trước khi tham gia vào
chương trình giáo dục đặc biệt, trẻ em được đánh giá chẩn đoán và đánh giá
toàn diện về các nhu cầu giáo dục của chúng. Mục đích chính của quá trình này
là để xác định trẻ bị khuyết tật như thế nào và nếu có thể cũng xác định phạm
vi, cách thức giáo dục và dịch vụ cần thiết để can thiệp. Quá trình đánh giá đó
phải đa dạng và do nhiều nguồn, phải được kết luận bằng nhóm chuyên gia đa
chức năng. Các thành viên của nhóm này phải đa dạng tuỳ theo đặc điểm riêng
của mỗi trẻ.
2. Giai đoạn 2
Các nhân viên của chương trình dùng các công cụ đánh giá và các quy
trình khác nhau để xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ tham gia chương
trình. Việc xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân là bước nối tiếp của đánh giá
ban đầu trong chuỗi làm việc liên tục của chương trình can thiệp sớm. Quy trình
thực hiện kế hoạch cá nhân cũng tương tự như tất cả các chương trình can thiệp
sớm. Kế hoạch giáo dục cá nhân là sự xác định rõ mục tiêu giáo dục, biện pháp
thực hiện để đạt được những mục tiêu này.
Một vấn đề khác có trong giai đoạn 2 là sự đánh giá. Nội dung được thông
qua của chương trình tập trung vào trẻ thường đưa ra những kết quả đánh giá rộng.
4
Đánh giá này có hai nội dung chủ yếu: đánh giá để thấy rõ quy trình của trẻ với
mục đích định hướng và đánh giá kết quả trên toàn cầu để xác định tác động của
chương trình (chủ yếu những thay đổi trong chỉ số IQ hay mức độ phát triển).
3. Giai đoạn 3
Trẻ khuyết tật là những trẻ bị giảm hoặc mất một phần khả năng về nghe,
nhìn, nói, vận động, phát triển trí tuệ hoặc có những cấu tạo và hành vi bất thường
không giống những trẻ bình thường khác.
2. Các loại tật thường gặp ở trẻ Mầm non
- Trẻ có khó khăn về vận động.
- Trẻ có khó khăn về nghe: khiếm thính, điếc.
- Trẻ có khó khăn về nhìn: khiếm thị.
- Trẻ chậm phát triển về trí tuệ và hành vi không thích ứng.
- Trẻ khó khăn về nói và ngôn ngữ.
- Rối loạn tình cảm, không quản lý được hành vi.
- Trẻ tự kỷ.
- Trẻ có khuyết tật khác về sức khỏe.
- Trẻ khiếm thính kết hợp với khiếm thị.
- Trẻ đa tật.
- Trẻ có khó khăn trong học tập.
3. Khái niệm về các loại tật thường gặp
3.1. Tật vận động
Là tật của cơ quan vận động làm ảnh hưởng đến chức năng vận động đi
đứng, ngồi nằm, sờ mó, cầm nắm của cơ thể.
Trường hợp nặng: biểu hiện liệt toàn thân hoặc liệt tay chân, nằm ngồi, đi lại
khó khăn.
Trường hợp nhẹ: bị giảm chức năng vận động của một trong các bộ phận của
cơ thể, đi lại, vận động, cầm nắm khó khăn.
3.2. Tật về thính giác hay còn gọi là khó khăn về nghe: khiếm thính, điếc
Là tật ảnh hưởng đến bộ phận nhạy cảm, truyền dẫn và phân tích âm thanh
của con người. Có nhiều mức độ:
- Mức độ nặng (điếc): trẻ không nghe được tiếng động to như sấm, tiếng trống
cách tai 30-50cm; không nghe được tiếng thét gần tai và không nói được (câm).
- Mức độ nhẹ (nghễnh ngãng): trẻ điếc một tai, không nghe được tiếng nói
bình thường nhưng gọi to cách xa 1m có thể nghe được.
không thích ứng với môi trường làm cho trẻ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.
3.7. Trẻ tự kỷ
Là bệnh thuộc hệ thần kinh trung ương có thể do gen hoặc nguyên nhân khác
chưa được biết. Trẻ mắc bệnh này có biểu hiện rất khác nhau như: thờ ơ, lãnh đạm,
không quan tâm với môi trường xung quanh, không có giao tiếp bằng mắt và sống
trong thế giới riêng của mình, hoặc có những hoạt động vận động tăng động. Trẻ ưa
các hoạt động mạnh như: chạy nhảy, gõ tiếng động; hoạt động theo ý thích của riêng
mình. Trẻ tự kỷ chỉ thích âm nhạc, có trẻ chỉ thích màu đỏ…
3.8. Các tật khác về sức khỏe
Tật động kinh do tổn thương hệ thần kinh, gây co giật toàn thân hoặc một
vài bộ phận; co giật có thể thành cơn theo chu kỳ hoặc không theo chu kỳ.
7
Trẻ bị thiếu hụt một bộ phận nào đó của cơ thể gây ảnh hưởng đến chức
năng các cơ quan của cơ thể.
3.9. Trẻ khiếm thính kết hợp với khiếm thị
Đây là một khuyết tật nặng, trẻ đồng thời thiếu hụt chức năng của hai bộ
phận giác quan quan trọng nghe và nhìn nên trẻ sẽ có khó khăn hơn những trẻ chỉ
bị một loại tật.
3.10. Trẻ đa tật
Khi trẻ có từ hai tật trở lên.
3.11. Trẻ có khó khăn về học
Trẻ có chỉ số IQ thấp hơn mức bình thường và cao hơn mức bình thường đều
có thể đưa đến cho trẻ những khó khăn trong học tập và cuộc sống.
II. Nguyên nhân gây ra khuyết tật
1. Nguyên nhân trong thời kỳ mẹ mang thai
- Mẹ bị mắc một sô bệnh trong 3 tháng đầu của thời kỳ mang thai do siêu vi
trùng, cúm, sốt phát ban
- Mẹ dùng thuốc không đúng chỉ định.
- Ngộ độc thai nghén; ngộ độc hóa chất độc hại.
- Mẹ mắc một số bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng trong thời kỳ mang thai:
mang thai; theo dõi kiểm soát quá trình tăng cân trong thời kỳ mang thai; thực
hiện tiêm phòng uốn ván cho mẹ đầy đủ; hướng dẫn vệ sinh thai sản; nghỉ ngơi
lao động hợp lý.
- Bà mẹ mang thai cần chú ý chế độ dinh dưỡng hợp lý, đầy đủ, tăng
cường viên sắt, Vitamin A nhằm tránh suy dinh dưỡng cho trẻ từ trong bụng
mẹ.
- Bà mẹ cần được nghỉ ngơi hợp lý, lao động vừa sức tránh sinh non thiếu
tháng ảnh hưởng đến trẻ; sống khỏe mạnh, vui tươi trong tình cảm yêu thương của
gia đình và người thân.
2. Chăm sóc bà mẹ trong khi sinh
- Bà mẹ cần đến theo dõi và sinh tại các cơ sở y tế để giúp phát hiện sớm
những bất thường của thai nhi và sức khỏe của bà mẹ.
- Đặc biệt các bà mẹ cần sinh tại các trung tâm y tế sẽ giúp tránh được các
tai biến sản khoa có thể để lại những di chứng tật nguyền cho bé như ngạt, chấn
thương sọ não, đẻ khó, gãy tay, gãy chân, uốn ván rốn
3. Chăm sóc trẻ sơ sinh và bà mẹ sau khi sinh
- Trẻ sinh ra cần được kiểm tra, phát hiện sớm các dị tật. Nếu phát hiện trẻ bị
dị tật cần liên hệ với các trung tâm can thiệp sớm hoặc khoa nhi để được hỗ trợ can
thiệp kịp thời càng sớm càng tốt.
- Chăm sóc bà mẹ để đảm bảo nguồn sữa mẹ đủ cung cấp nuôi trẻ giúp
phòng tránh suy dinh dưỡng. Tăng cường đủ các vi chất dinh dưỡng vào khẩu phần
ăn của mẹ và trẻ.
- Tiêm phòng các loại vacxin trong chương trình tiêm chủng mở rộng.
- Yêu thương chăm sóc nuôi dưỡng và đáp ứng các nhu cầu của trẻ trong đó
có nhu cầu giao tiếp, tình cảm.
9
4. Phòng tránh tai nạn thương tích và bệnh tật cho trẻ
- Ngoài việc chăm sóc nuôi dưỡng đáp ứng các nhu cầu của trẻ, mọi gia đình
và trường lớp Mầm non cần đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ.
- Giường tủ trong gia đình, trường, lớp Mầm non phải được kê vững chắc,
- Trẻ đẻ ra bị vàng da dẫn đến bại não: trương lực cơ giảm, phản xạ gân
xương yếu, trẻ không cử động nâng được tay, chân, đầu, cổ. Trẻ không thể lẫy,
10
trườn, bò được như các trẻ cùng độ tuổi. Hoặc trẻ bị co cứng cơ toàn thân bất
thường do bại não thể co cứng. Tay chân, một phần cơ thể bị co cứng, rung giật
từng cơn hoặc liên tục, có thể gặp trong bại não thể múa vờn. Trẻ đi lại khó khăn
nhón ngón chân do loạn dưỡng cơ, bại não thể co cứng.
- Trẻ 10 tháng tuổi không tự ngồi được một mình khi không có sự giúp đỡ.
Trẻ 2 tuổi không có khả năng tự đi một mình nếu không có sự giúp đỡ. Trẻ 3-4 tuổi
đi lại di chuyển khó khăn do teo cơ, cứng khớp.
- Trẻ đi lại bàn chân đơ do bại não liệt cứng nửa người.
- Trẻ bị dị tật tay, chân: khoèo tay, khoèo chân; dính ngón, dính khoeo chân;
chân tay cụt, teo nhỏ cơ do bẩm sinh hoặc do tai nạn tổn thương mắc phải trong
quá trình nuôi dưỡng.
- Trẻ bị dị tật vùng đầu cổ, tăng trương lực cơ, cơ co cứng trong một số di chứng
của bệnh có tổn thương não, trẻ không cử động được tay chân và thân mình.
- Trẻ đẻ ra có hai bàn chân hoặc một bàn chân bị xoay vào trong hoặc xoay
ra sau hoặc hai bàn tay bị cứng khớp xoay chệch vị trí bình thường.
- Trẻ có bàn chân khoèo và đốt sống có túi thần kinh hoặc không, có những trẻ
không cử động hoặc mất cảm giác bàn chân, bàn chân gập mu vào trong.
- Trẻ bị yếu một tay hoặc tư thế bất thường do tổn thương đám rối thần kinh
cánh tay trong khi sinh.
- Trẻ bị trật khớp háng, sơ cứng khớp, chân ở tư thế khác nhau, chi ngắn, chi
dài, bệnh do tổn thương trong thời kỳ bào thai.
- Trẻ bị liệt cơ mềm nhũn, đặt đâu nằm yên một chỗ không cựa quậy tay, chân
hoặc chỉ một nửa người cựa quậy được: có thể bị liệt do tổn thương thần kinh.
- Trẻ bị di chứng của bại liệt: liệt nhóm cơ ở gốc chi sau một cơn sốt, thường
liệt chân, tay không đối xứng.
- Tay chân hoặc một phần cơ thể có cử động bất thường không kiểm soát được,
có khi co giật, tím tái, sùi bọt mép sau vài phút trở lại bình thường gặp trong động kinh
+ Khi trẻ 15 tháng: trẻ không tự mình đi xiêu vẹo và trèo cầu thang.
+ Khi trẻ 18 tháng: trẻ không tự đi một cách vững vàng, ném được bóng, cúi
nhặt bóng mà không ngã.
+ Khi trẻ 21 tháng: trẻ không tự trèo lên ghế, không thể bước lên cầu thang
thẳng lưng, xuống thang phải bò.
+ Khi trẻ 24 tháng: không thể tự lên xuống cầu thang từng bậc bằng hai chân
và chạy vững.
+ Khi trẻ 33 tháng: trẻ không thể nhảy chụm chân, đi nhón chân trên đầu
ngón chân.
+ Khi trẻ 48 tháng: trẻ không thể chạy theo và dùng chân đá bóng, chạy trên
đầu ngón chân và trèo lên xe ba bánh.
+ Khi trẻ 54 tháng: không thể tự lên xuống cầu thang bằng hai chân đổi nhau
ở mỗi bậc.
+ Khi trẻ 60 tháng: trẻ không thể đập nẩy bóng, nhảy lò cò, lên xuống cầu
thang dễ dàng.
Khi thấy trẻ có những dấu hiệu như trên, giáo viên và gia đình cần cho trẻ đi
12
khám và can thiệp sớm cho trẻ.
2.2. Trẻ khó khăn về nghe (khiếm thính, điếc)
Đó là những trẻ không đáp ứng với tiếng động, đến 3 tuổi chưa biết nói, có
thể trẻ bị điếc, chậm phát triển hoặc bại não nặng.
Trẻ không đáp ứng với âm thanh, tiếng động có thể do tai có vấn đề; có thể
viêm tai giữa chảy mủ; có thể tổn thương vành tai, ống tai, bộ phận dẫn truyền âm
thanh; tổn thương bộ phận tiếp nhận phân tích âm thanh trong não.
- Tai bị tật: Nhìn bên ngoài tai của trẻ có thể bị sẹo vành tai, mất vành tai,
chỉ có lỗ tai, sẹo tắc ống tai Những trường hợp này đều làm cho trẻ hạn chế tiếp
nhận âm thanh.
Có trường hợp do viêm nhiễm chảy mủ ống tai lâu ngày gây sẹo tắc, xơ
cứng các xương tai trong của bộ phận truyền âm cũng là nguyên nhân làm cho trẻ
hạn chế hoặc không tiếp nhận được âm thanh. Trong những trường hợp này ta thấy
2.3. Trẻ bị tật thị giác (khiếm thị)
- Khi trẻ không đáp ứng với ánh sáng, không nhìn theo ánh sáng, không
nhìn theo dải tua màu sắc: mắt có thể bị màng giáp mạc che hoặc tổn thương bên
trong đáy mắt gây giảm thị lực hoặc mù.
- Trẻ không quay đầu nhìn theo đồ vật, không với tay theo đồ vật, mắt
không bình thường có thể mù.
+ Sẹo giác mạc (thường gọi là mộng mắt): Mắt có hình dạng bên ngoài
bình thường, bên trong tròng mắt có sẹo, vệt sẹo trắng, hồng che phủ một phần
hoặc toàn bộ tròng đen làm cho trẻ nhìn hạn chế. Sẹo này thường do suy dinh
dưỡng, thiếu vitaminA gây khô loét giác mạc để lại sẹo. Có thể sẹo do tai nạn
cây, que chọc vào mắt hoặc bị bỏng. Biểu hiện chòng đen mắt bị vệt mờ che
khuất một phần hoặc toàn bộ làm cho trẻ nhìn khó khăn, đầu phải nghiêng, nghé
khi nhìn. Trẻ đi lại phải lần sờ và hay va chạm vào đồ vật xung quanh, tìm kiếm
đồ chơi, đồ vật khó khăn.
+ Mắt lác (còn gọi là mắt lé): Nhìn mắt bên ngoài bình thường tròng đen mắt
bị kéo lệch vào bên trong hay lệch ra bên ngoài. Nếu tròng đen bị kéo lệch vào trong
gọi là lác trong, tròng đen bị kéo lệch ra bên ngoài gọi là lác ngoài. Lác có thể bị một
mắt hoặc cả hai mắt, mắt lác làm giảm thị lực và hạn chế tầm nhìn của mắt. Nguyên
nhân do các cơ bám giữ thăng bằng cho nhãn cầu mắt bị liệt.
+ Mắt cận thị (tật khúc xạ ánh sáng): Trẻ khó khăn khi nhìn xa, thường phải
nhìn sát vào vật cần nhìn. Tật này do màng thuỷ tinh thể bị dày. Cận thị có thể do
bẩm sinh hoặc mắc phải.
+ Sụp mi: Nhiều trường hợp trẻ bị sụp mi một bên hoặc hai bên, cơ nâng mi
mắt trên của trẻ bị liệt, mi sụp che khuất tầm nhìn của con ngươi, khi nhìn phải
nghiêng ngửa đầu, dướn mắt mới nhìn được. Nếu không được điều trị lâu ngày đưa
đến giảm thị lực.
+ Tật bên trong mắt có gây biến dạng mắt: Trẻ bị teo nhãn cầu một bên
hoặc hai bên, có thể do bẩm sinh hoặc do tai nạn làm xẹp nhãn cầu, hoàn toàn
không nhìn được; mi mắt và con ngươi di động nhanh, có biểu hiện rung giật hoặc
có cử động bất thường: có thể mù, bại não, động kinh.
nuốt: có thể do bại não.
+ Đầu to, mắt ngày càng bị lấn ép xuống dưới có biểu hiện mặt trời lặn: não
úng thủy.
- Trẻ có biểu hiện chậm phát triển hơn các trẻ khác về các mặt:
+ Vận động, phản ứng với ngoại cảnh, phản ứng với âm thanh tiếng nói.
+ Phản ứng với ánh sáng, hoặc không thể hiện ý thích mong muốn của
mình, thờ ơ với ngoại cảnh. Thường đây là dấu hiệu của trẻ có biểu hiện tổn
15
thương não, gây chậm phát triển trí tuệ.
- Trẻ có đầu to, da khô, trán rô, lưỡi đùn, tóc mọc thấp xuống trán, mí mắt
sụp: hội chứng đần độn do tổn thương tuyến giáp, thiếu Iot.
- Nhìn hình dáng bên ngoài trẻ có thể bình thường như những trẻ cùng tuổi
song có những biểu hiện như: trẻ 1 tuổi không biết được tên mình; trẻ 3 tuổi không
nhận biết được các bộ phận của cơ thể; trẻ 4 tuổi không hiểu được câu hỏi đơn
giản; trẻ có hiểu biết khó khăn hơn trẻ bình thường khác. Nói cách khác trẻ có biểu
hiện tuổi trí tuệ kém hơn tuổi thực. Trẻ học thiếp thu chậm, hay quên. Mọi hoạt
động của trẻ không hòa nhập thích ứng kịp với môi trường xung quanh. Thường
gặp trong bại não, động kinh.
- Trẻ chậm phát triển do bại não; do tật nặng về thính giác, về thị giác hoặc
về vận động:
+ Trẻ chậm lẫy, chậm ngồi, chậm biết đi so với trẻ khác.
+ Trẻ có trí nhớ kém, khó tập trung vào một công việc hay một hoạt động,
hoặc đi vơ vẩn một mình, hoặc chạy nhảy leo trèo hiếu động.
+ Trẻ không biết chơi với đồ chơi, hay đập phá; không biết chơi với bạn.
+ Trẻ cư xử, nói năng chậm chạp, kém so với tuổi.
+ Sinh hoạt hàng ngày không giống trẻ khác.
+ Trẻ biết nói muộn, nói câu ngắn đơn giản, từ ngữ nghèo nàn.
+ Trẻ đi học: học chậm, nhớ kém.
+ Trẻ không thích ứng với môi trường, khó hòa nhập với bạn bè.
Khi thấy trẻ có những biểu hiện trên cần đưa trẻ đi khám để được tư vấn và
- Sứt môi, hở hàm ếch.
- Biến dạng và có dị tật bẩm sinh một hay nhiều bộ phận cơ thể.
- Đáp ứng với tiếng động chậm, hoặc nhìn chậm có thể do điếc, mù, bại não
- Trẻ tím tái biểu hiện của thiếu oxy do dị tật bẩm sinh, trẻ dễ bị ngất, tổn
thương não
- Trẻ luôn có cử động bất thường; chân tay co cứng, đầu cổ co, có thể cả
điếc, mù, suy dinh dưỡng
- Trẻ bị xuất huyết màng não.
- Trẻ bị ỉa chảy, mất nước, viêm não cấp, viêm phế quản phổi, ho gà, uốn
ván, bại liệt, co giật để lại di chứng
- Có vấn đề trong ứng xử: tự cắn xé, giật tóc, đập dầu tổn thương não.
- Trẻ bị viêm tai giữa cấp và mãn tính chảy mủ kéo dài gây điếc làm cho trẻ
không nói được, nói ngọng, nói không rõ.
- Trẻ có khó khăn trong phát âm và giao tiếp do các tổn thương của cơ
quan thính giác và bộ phận phát âm gây ảnh hưởng đến ngôn ngữ lời nói.
2.9. Trẻ bị khiếm thính kết hợp với khiếm thị
Trẻ không nghe và tìm tiếng động, không có phản xạ với tiếng động, mặt
khác mắt có biểu hiện mù, không nhìn theo ánh sáng, đồ chơi màu sắc. Mắt có thể
bị teo nhãn cầu, xẹp cầu mắt, mắt bị kéo màng trắng
2.10. Trẻ đa tật
Cùng trên một trẻ xuất hiện đồng thời nhiều tật: tật vận động, tật về mắt, tật
17
về tai thường gặp trong trẻ bại não.
2.11. Trẻ có khó khăn trong học tập
Biểu hiện nhận biết mọi vật chậm, không có phản ứng với những tác động
của bên ngoài. Thường gặp ở trẻ động kinh, bại não.
Câu hỏi ôn tập
1. Hãy cho biết khái niệm về trẻ khuyết tật và các dạng khuyết tật thường
gặp ở trẻ.
2. Hãy cho biết các nguyên nhân gây khuyết tật ở trẻ. Cách phòng tránh.
dục đặc biệt ta cũng có thể sử dụng thuật ngữ này. Thay cho thuật ngữ điếc ta
còn gặp những thuật ngữ như: khiếm thính hay khuyết tật thính giác.
Trung bình trong 1.000 trẻ sinh ra thì có 2 em bị điếc bẩm sinh từ mức nặng
đến mức sâu, trong số 1.000 trẻ đó có thêm 2 em bị điếc mắc phải (điếc sau khi
sinh). Đây là tỉ lệ trung bình, ở mỗi xã hội trẻ bị điếc có thể cao hoặc thấp hơn.
Đối với một số trẻ bị giảm sức nghe, âm thanh mà trẻ nghe được chỉ nhỏ hơn so
với bình thường. Đối với một số trẻ bị giảm sức nghe khác, âm thanh mà trẻ nghe
được có thể và bị nhỏ hơn hoặc vừa bị méo mó. Chỉ có rất ít trẻ bị điếc sâu mà không
còn nghe được chút nào cả (con số này nhỏ hơn 5% trẻ bị khiếm thính).
Một số trẻ bị giảm sức nghe có thể:
- Mức độ giảm nghe ở hai bên tai là như nhau.
- Mức độ giảm sức nghe ở hai bên tai là khác nhau.
- Một tai bị giảm sức nghe và một tai nghe bình thường.
3. Các loại điếc
Nếu một trẻ bị giảm sức nghe thì điều đó có nghĩa là một bộ phận nào đó của
bộ máy thính giác bị tổn thương. Sự tổn thương đó có thể xẩy ra ở tai ngoài, tai
giữa hoặc tai trong.
3.1. Điếc dẫn truyền
Nếu việc giảm sức nghe là do bị tổn thương ở phần tai ngoài hay tai giữa
người ta gọi là điếc dẫn truyền. Do bị tổ thương mà việc dẫn truyền âm thanh tới tai
trong bị ảnh hưởng.
3.2. Điếc tiếp nhận
Việc giảm sức nghe có thể do bị tổn thương ở phần tai trong, khi đó ta gọi là
điếc tiếp nhận. Nếu một trẻ bị giảm sức nghe nhưng không có vấn đề gì ở tai ngoài
19
hay tai giữa thì thường là do tổn thương ở tai trong nơi mà các xung động điện
được phát ra và sau đó được chuyển lên não.
3.3. Điếc hỗn hợp
Một số trẻ vừa bị điếc tiếp nhận vừa bị điếc dẫn truyền. Trong trường hợp
này người ta gọi là điếc hỗn hợp.
20
- Điếc trung bình (điếc mức II (41-70dB): nếu không có máy trợ thính, trẻ
điếc mức độ II sẽ không nghe thấy một số âm thanh lời nói.
- Điếc nặng (điếc mức III (71-90dB): nếu không đeo máy trợ thính, trẻ điếc
mức III sẽ không nghe được phần lớn âm thanh của ngôn ngữ nói trong giao tiếp
thông thường.
- Điếc sâu (điếc mức IV (> 90dB): nếu không đeo máy trợ thính, một trẻ
điếc mức IV sẽ không nghe thấy chút nào của âm thanh lời nói trong giao tiếp
thông thường, thậm trí ngay cả khi nói to trẻ cũng không nghe thấy.
Thời gian bị điếc (tật điếc xuất hiện trước hay sau thời kỳ phát triển ngôn
ngữ) sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ lời nói:
Ngay từ sau khi sinh trẻ đã phải học để hiểu những âm thanh mà ta nghe
thấy. Lúc mới sinh trẻ chưa hiểu được lời nói nhưng trẻ có thể hiểu được ý nghĩa
khái quát lời nói dựa vào cường độ, nhịp điệu và trọng âm của lời nói. Trẻ có thể
nhận ra giọng nói của người mẹ. Nhưng nếu sinh ra trẻ đã bị điếc sẽ không hiểu
được ý nghĩa của lời nói.
Nếu trẻ nghe được bình thường và trong môi trường học - ngôn ngữ bình
thường, môi trường dường như bất cứ bà mẹ nào cũng có sẵn, trẻ dần dần hình
thành những mối liên hệ giữa âm thanh lời nói mà bé nghe được với thế giới xung
quanh. Tới khoảng 12 tháng tuổi trẻ đã hiểu được lời nói rất nhiều. Chúng ta gọi
đây là ngôn ngữ tiếp nhận. Nhưng ở độ tuổi này trẻ mới chỉ nói rõ được rất ít từ.
Như vậy ngôn ngữ biểu đạt rất giới hạn cho với ngôn ngữ tiếp nhận. Bao giờ cũng
tồn tại sự khác biệt này ở người lớn chúng ta hiểu được ngôn ngữ phức tạp nhiều
hơn là chúng ta có thể nói.
Ngôn ngữ biểu đạt của trẻ nghe được bình thường phụ thuộc vào sự tích
luỹ ngôn ngữ tiếp nhận ban đầu. Trẻ bị điếc bẩm sinh sẽ bị mất đi tiến trình học
ngôn ngữ ngay từ đầu tiên. Nếu không đeo máy trợ thính và không có những chỉ
dẫn cho cha mẹ thì việc hiểu ngôn ngữ của bé sẽ ngày càng bị chậm trễ, việc biết
nói cũng bị chậm lại và rất khó khăn. Tuy nhiên, nếu một trẻ bị điếc do bệnh tật
hay bị tổn thương thính giác khi trẻ đã phát triển ngôn ngữ tiếp nhận và ngôn
hỗ trợ và hướng dẫn càng muộn thì sự phát triển ngôn ngữ nói của trẻ càng bị hạn
chế. Nếu gia đình không nhận được sự hỗ trợ nào thì trẻ điếc khó mà có thể phát
triển ngôn ngữ nói tốt được.
Chất lượng của can thiệp sớm sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ và
lời nói của trẻ:
Không chỉ can thiệp sớm là quan trọng mà quan trọng hơn cả là can thiệp có
chất lượng. Một khía cạnh quan trọng nhất của can thiệp sớm là việc hỗ trợ và
hướng dẫn của người thực hiện chương trình để tạo ra cho trẻ một môi trường tốt
nhất. Nếu người thực hiện chương trình cung cấp những thông tin tốt và gia đình
thực hiện theo thì trẻ sẽ phát triển ngôn ngữ một cách tốt nhất. Như vậy làm thế nào
để biết một chương trình can thiệp sớm có chất lượng hay không? Nếu người thực
hiện chương trình nói rằng chương trình can thiệp của họ là có chất lượng thì không
22
thích đáng. Chúng ta sẽ tìm hiểu về những đặc điểm của một chương trình can thiệp
sớm cho trẻ khiếm thính có chất lượng ở phần sau.
Trí tuệ của trẻ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ và lời nói của trẻ:
Trẻ chậm phát triển trí tuệ hay trẻ có những khuyết tật khác thì việc phát
triển ngôn ngữ có thể bị trì trệ. Trí tuệ càng bị ảnh hưởng nặng thì ngôn ngữ càng
có khó khăn. Trẻ khiếm thính kèm theo chậm phát triển trí tuệ thì có thể rất có khó
khăn trong việc phát triển ngôn ngữ.
Thái độ của trẻ có thể ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ và lời nói
của trẻ:
Nếu trẻ khiếm thính có được sự chấp nhận, hỗ trợ của gia đình và gia đình hiểu
được tầm quan trọng vai trò của học trong việc cung cấp môi trường học ngôn ngữ tốt
nhất thì trẻ có cơ hội tốt nhất để phát triển ngôn ngữ.
II. Can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính từ 0-3 tuổi
Can thiệp sớm đơn giản chỉ là làm một cái gì đó để giúp trẻ và gia đình càng
sớm càng tốt. Tại Việt Nam đã có hơn 20 tỉnh triển khai làm can thiệp sớm cho trẻ
khiếm thính với số lượng trên 30 chương trình. Hầu hết các chương trình này hầu
hết được đặt ở trường dạy trẻ điếc với nhiệm vụ giúp đỡ gia đình trẻ điếc. Bí quyết
1.1.2. Phương pháp theo dõi sức nghe và phát hiện điếc ở trẻ em
Có nhiều cách phát hiện điếc ở trẻ em. Chúng ta có thể tham khảo một
cách được giới thiệu trong cuốn “Những vấn đề về điếc và nghễnh ngãng, Nội
trú tai mũi họng - số 2 - Bộ môn tai mũi họng, ĐH Y dược Thành phố Hồ Chí
Minh - 1992”.
Nghe hiểu Tuổi Nói
- Trẻ có chú ý nghe tiếng nói không?
- Trẻ có giật mình hoặc khóc khi
nghe tiếng ồn không ?
- Trẻ có tỉnh giấc lúc có tiếng
động không?
Mới đẻ - Trẻ có biết từ “à”, “ứ” không?
- Trẻ có quay về phía có người
nói không?
- Trẻ có cười với người nói
chuyện không?
- Trẻ có ngừng chơi hoặc có tỏ
ra nhận biết tiếng mẹ đẻ không?
3 tháng - Trẻ có bập bẹ không?
- Trẻ có tiếng khóc khác nhau để
biểu hiện các yêu cầu khác nhau
không?
- Trẻ có lặp lại nhiều lần một số
tiếng nào đó không?
- Trẻ có đáp ứng khi gọi tên không?
- Trẻ có chú ý hoặc tìm nguồn
phát âm không?
- Trẻ có quay đều về phía có
nguồn âm không?
6 tháng - Trẻ có bập bẹ theo tiếng mẹ tuy
lưng lại trong lúc nói không?
- Trẻ có biết quay núm vặn đài
to nhỏ vừa phải không?
- Có phân biệt các từ đối lập
nghĩa không?
- Trẻ có thể chỉ đúng, gọi tên
hình trong tranh không?
- Trẻ có chú ý đến các tiếng
động khác nhau (mèo, chó )
2,5 đến 4 tuổi - Trẻ đã nói được đủ tiếng
không? (có thể thiếu các phụ âm
s, d, l, r )
- Trẻ có nói lặp lại một vài từ
trong câu không?
- Trẻ có vốn từ 200-300 từ không?
- Trẻ có nói được câu 2-3 từ trở
lên không?
- Trẻ đặt câu hỏi tại sao, như thế
nào không?
- Kiểu nói sai từ và nói lắp đã hết chưa?
- Trẻ thích gọi tên các đồ vật không?
- Trẻ nghe và hiểu hầu hết các câu
chuyện trong gia đình không?
- Trẻ nghe và trả lời ngay các
câu hỏi không cần lặp lại không?
- Trẻ nghe được giọng nói bình
thường không?
- Mọi người thân thuộc đều nghĩ
trẻ nghe bình thường không?
5 tuổi - Trẻ phát âm đúng mọi thứ