ỨNG DỤNG CNTT
TRONG QUẢN LÝ - DẠY HỌC
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
I . Lí do chọn đề tài :
1.Cơ sở lí luận :
Công nghệ thông tin (viết tắt là CNTT), là ngành ứng dụng công nghệ quản
lý và xử lý thông tin. CNTT là sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để sử
dụng, chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin. Ở Việt
Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ
49/CP kí ngày 04/08/1993 : Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp
khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy
tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài
nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của
con người và xã hội.
Trong hệ thống giáo dục phương Tây, CNTT đã được chính thức tích hợp
vào chương trình học phổ thông. Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung
về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác.
Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng thông rộng tới tất cả các
trường học, việc áp dụng CNTT trong công tác quản lý và dạy học đã trở thành
hiện thực.
Thật khó có thể hình dung được thế giới của chúng ta sẽ như thế nào nếu
như không có các ứng dụng của CNTT bởi CNTT đã thâm nhập vào tất cả các
lĩnh vực, tất cả các đối tượng với những hiệu quả mà CNTT đã mang lại, đặc biệt
là trong giáo dục. Cụ thể là tất cả các đối tượng có thể giao tiếp trao đổi với nhau
ở bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Việc thường xuyên sử dụng Công nghệ thông tin
1
sẽ trang bị cho người sử dụng kỹ năng tiếp cận, xử lý thông tin, giải quyết vấn đề
một cách sáng tạo.
Việc truy cập Internet cũng tạo cho CBQL, GV niềm say mê, hứng thú trong
công việc, học tập và giảng dạy, thực hành khả năng làm việc và nghiên cứu độc
ở Tiên Du nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, của ngành
giáo dục, sự ủng hộ của giáo viên, học sinh và nhân dân đã có sự phát triển mạnh
mẽ, rộng lớn và đạt được những kết quả ban đầu đáng khích lệ.
Từ chỗ chỉ một vài trường có máy tính đến nay, 100% các trường đã có
phòng máy tính để dạy tin học cho học sinh. Hơn 80% các trường có máy chiếu
projecter. Trong các kì thi GVDG cấp Huyện có hơn 50% các tiết dậy bằng giáo
án điện tử có chất lượng tốt. Đội ngũ giáo viên ngày càng tỏ ra thành thạo hơn
trong việc thiết kế, chỉnh sửa và trình chiếu. Chất lượng giáo án điện tử ngày
càng được nâng cao.
Mới qua mấy năm, đến nay, tất cả các trường đã có hòm thư liên kết với Bộ
giáo dục, Sở giáo dục theo địa chỉ: https://mail.google.com/a/moet.edu.vn/ để
trao đổi thông tin. Các trường cũng đã có địa chỉ Gmail để chuyển nhận thông tin
báo cáo với Phòng giáo dục đảm bảo nhanh chóng, thuận tiện, kịp thời. Các thầy
cô giáo đều có email để trao đổi thông tin…Tất cả đem đến một sự thay đổi căn
bản, làm cơ sở cho việc ứng dụng CNTT vào công việc quản lý và dạy học.
Thời gian gần đây, phong trào thi đua soạn bài giảng điện tử để đổi mới
cách dạy và học đã được nhiều CBGV hưởng ứng tích cực. Đây được coi là một
trong những biện pháp góp phần chất lượng quản lý và dạy học trong các nhà
trường. Tuy nhiên, để CBGV làm chủ được CNTT trong quản lý và dạy học còn
cần có sự tổng kết, rút kinh nghiệm một cách nghiêm túc…Trong các năm học tới
phong trào ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chắc chắn sẽ phát triển
3
mạnh mẽ hơn nữa và đó cũng là yêu cầu cấp thiết của đổi mới trong ngành giáo
dục, trong công tác quản lý và dạy học ở trường phổ thông.
Là một giáo viên được bổ nhiệm làm công tác quản lý, bản thân luôn say mê
CNTT, tôi muốn qua đề tài này nêu lên một vài kinh nghiệm và những suy nghĩ
của bản thân về vấn đề này. Mong được sự ủng hộ của các cấp quản lý và các
đồng nghiệp.
II. Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
1. Mục đích nghiên cứu:
+ Giáo án đánh máy có hình thức đẹp, trình bày khoa học, dễ sử dụng khi
giảng dạy.
+ Rút ngắn thời gian soạn giáo án do có sử dụng những ưu điểm của phần
mềm soạn giáo án ( Microsoft Word hay Open office), các phần mềm này sẽ tự
động hóa một số thủ tục của giáo án theo một mẫu nhất định do người soạn đạt
ra : ví dụ như tuần, ngày soạn, ngày dạy, kẻ khung, các mục của giáo án…,
+ Soạn giáo án bằng máy vi tính làm cho chúng ta có thể chỉnh sửa rất dễ
dàng. Ngoài ra, phầm mềm còn cho phép chúng ta sưu tầm, lựa chọn sao chép
những ý tưởng, nội dung hay trong các giáo án cũ của mình, của đồng nghiệp.
+ Có thể lưu trữ đến các năm học sau để bản thân, đồng nghiệp sử dụng tham
khảo.
+ Có thể sử dụng để đưa các nội dung cần thiết vào bài giảng điện tử một
cách nhanh chóng mà không cần gõ lại.
5
+Qua việc soạn giáo án, giáo viên được tìm hiểu, học hỏi thêm về công nghệ
thông tin từ đó nâng cao trình độ tin học của giáo viên góp phần nâng cao phong
trào ứng dụng CNTT trong dạy học.
+Giáo viên có thể dễ dàng đưa vào giáo án những sơ đồ, biểu đồ, tranh, ảnh
minh họa…. điều mà giáo án viết tay khó có thể làm được.
Thực trạng:
Qua việc chỉ đạo công tác chuyên môn cùng với một số năm được đi thanh tra
chuyên môn các trường và chấm thi GVDG Huyện Tiên Du, bản thân thấy có
một số bất cập của giáo án in như sau:
- Nhiều giáo viên chưa có đủ điều kiện có được bộ máy tính, máy in để
soạn giáo án.
- Nhiều giáo viên còn lúng túng khi sử dụng máy vi tính và các phần mềm
văn phòng để soạn giáo án, chưa biết khai thác mạng internet để sưu tầm giáo án,
tư liệu phục vụ cho giáo án.
- Một số giáo viên lợi dụng mạng internet để khai thác một cách tiêu cực
giáo án của đồng nghiệp như: sao chép y nguyên, không có sự nghiên cứu, không
học tập của học sinh. Đây là một trong những hướng đổi mới PPDH đạt hiệu quả.
Do đó, Công nghệ thông tin (CNTT) có vai trò rất quan trọng trong dạy học,
nó mang lại hiệu quả cao, tiết học sinh động, học sinh hứng thú học tập và tích
cực tham gia xây dựng bài. Tuy nhiên, khi ứng dụng CNTT vào thiết kế bài
giảng, giáo viên cần đảm bảo các nguyên tắc chung, các quy trình thiết kế bài
giảng có ứng dụng CNTT sao cho có hiệu quả.
7
Dạy học với CNTT đòi hỏi người giáo viên phải biết định hướng, điều khiển
quá trình học tập, giúp học sinh tự mình lĩnh hội tối đa kiến thức. Vì vậy giáo
viên cần phải tích cực bồi dưỡng kiến thức tin học, sẵn sàng đổi mới phương
pháp giảng dạy và ứng dụng CNTT vào dạy học phù hợp với đặc trưng bộ môn.
* Các nguyên tắc chung của một bài giảng có ứng dụng CNTT.
- Đảm bảo tính khoa học sư phạm và khoa học tin học.
- Đảm bảo tính hiệu quả, tính thực tế, tính giáo dục.
- Đảm bảo tính mở và tính phổ dụng.
- Đảm bảo tính cập nhật nội dung kiến thức bài giảng.
- Cần căn cứ vào mục tiêu, nội dung kiến thức cơ bản của bài học, xác định trọng
tâm bài và căn cứ trình độ nhận thức của học sinh cùng các điều kiện hiện có để
thiết kế bài giảng
- Đa dạng hóa kiến thức.
- Ứng dụng CNTT theo quan điểm dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm
* Những chú ý khi thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT .
Ba khâu quan trọng nhất: soạn giáo án, trình chiếu giáo án và hướng
dẫn học sinh ghi chép.
Mỗi lớp học thường có trung bình từ 35-45 học sinh. Trong khi đó các tiết
dạy GAĐT thường phải tắt bớt đèn, đóng bớt cửa sổ hay kéo rèm hạn chế ánh
sáng trời để ảnh trên màn rõ hơn. Như vậy, những học sinh ngồi ở các dãy cuối
lớp hay những học sinh mắt kém sẽ khó khăn khi quan sát hình ảnh, chữ viết hay
công thức trên màn chiếu. Do đó để học sinh có thể ghi chép được bài học chính
xác từ màn chiếu, giáo viên khi soạn giáo án trên Power Point cần chú ý một số
thanh, hiệu ứng…) cần phải được lựa chọn cẩn thận, nếu không chúng sẽ gây
phân tán tư tưởng, tư duy lệch lạc trong học sinh. Những tranh, ảnh hay đoạn
phim minh họa dù hay nhưng mờ nhạt, không rõ ràng thì cũng không nên sử
dụng vì không có tác dụng cung cấp thông tin như ta mong muốn.
Trình chiếu giáo án
Khi giáo viên trình chiếu Power Point, để học sinh có thể ghi chép kịp thì
nội dung trong mỗi slide không nên xuất hiện dày đặc cùng lúc. Ta nên phân
dòng hay phân đoạn thích hợp, cho xuất hiện theo hiệu ứng thời gian tương ứng.
Trường hợp có nội dung dài mà nhất thiết phải xuất hiện trọn vẹn cùng lúc, ta
trích xuất từng phần thích hợp để giảng, sau đó đưa về lại trang có nội dung tổng
thể, học sinh sẽ dễ hiểu và dễ chép hơn.
Hướng dẫn học sinh ghi chép:
Cần thể hiện bố cục của bài giảng trong suốt quá trình giảng dạy. (vd: Tên
bài dạy, các đề mục) để học sinh dễ dàng củng cố.
Cần quy định màu chữ cho học sinh ghi vào vở. (vd: màu xanh mực…) và
cần quy định để học sinh có thể tự ghi khi nhìn màn hình.
Trong tiết học, học sinh phải có sẵn trước mặt sách giáo khoa quy định của
Bộ GD&ĐT và dùng vở để ghi chép. Khi trình chiếu Power Point và giảng bài,
giáo viên hướng dẫn học sinh cách ghi bài học vào vở như sau:
Những kiến thức căn bản, thuộc nội dung giáo khoa quy định sẽ nằm trong
các slide có ký hiệu riêng. Ví dụ ký hiệu (@, đặt ở góc trên bên trái, hoặc hình
ảnh ngón tay chỉ, hình ảnh chiếc bút viết). Học sinh phải chép đầy đủ nội dung
trong các slide này. Tập hợp nội dung các slide có ký hiệu riêng tạo nên kiến thức
yêu cầu tối thiểu của tiết học.
Những nội dung có tính thuyết minh, minh họa, mở rộng kiến thức sẽ
nằm trong các slide khác, không có ký hiệu riêng. Với những slide này, học sinh
10
tự chọn học nội dung để chép tùy theo sự hiểu bài của mình.
Với những kiến thức căn bản nhưng khá dài, nếu chép hết sẽ ảnh hưởng
đến tiến độ của tiết học, sau khi giảng xong giáo viên hướng dẫn học sinh đánh
- Giáo viên có thể tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình
độ tin học khi tham gia vào các diễn đàn, các câu lạc bộ, hay tìm hiểu các trang
Web từ mạng internet như:
giaovien.net, vnschool.net, violet.vn, dayhoc.vn, hocmai.vn,
dayhoctructuyen.org, edu.net.vn, diendan3t.net,
toanhoctuoitre.nxbgd.com.vn, toantuoitho.nxbgd.vn, …
- Giáo viên có thể tải các giáo án, bài giảng, tư liệu, đề thi và tài liệu phục vụ
cho công tác nghiên cứu và giảng dạy tại các trang web như: vioet.vn,
giaovien.net, edu.net.vn, vnschool.net, thuvienkhoahoc.com,
ebook.moet.gov.vn.
- Qua mạng internet giáo viên có thể tham gia vào các diễn đàn của học sinh,
các trường bạn, các blog … để tìm hiểu về tâm lý, sở thích của học sinh từ đó có
những phương pháp giáo dục học sinh đạt hiệu quả cao.
- Giáo viên có thể lập blog hay trang web hay các câu lạc bộ để trao đổi cùng
đồng nghiệp, phụ huynh và học sinh để nâng cao trình độ chuyên môn cũng như
nghiệp vụ sư phạm của mình.
b) Hạn chế:
- Nhiều giáo viên còn chưa thấy được các lợi ích từ việc khai thác internet,
có nhiều người nghĩ rằng internet chỉ là để đọc báo, để giải trí, cũng có người sợ
mình không biết cách khai thác mạng.
12
- Nhiều GV chưa có điều kiện để nối mạng internet, cũng có nhiều người
bận dạy thêm hay bận công việc gia đình không có thời gian nghiên cứu khai thác
mạng internet phục vụ công tác dạy học.
- Có những giáo viên còn non nớt về kiến thức, kĩ năng tin học, rất lúng
túng khi truy cập, khai thác mạng internet (tìm trang, download, lưu trữ, đưa vào
bài giảng…)
- Có những giáo viên ngại học, ngại tìm hiểu nghiên cứu để nâng cao trình
độ, bằng lòng với những kiến thức mình đã có.
4. Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học-vai trò của CBQL và
Thấy được tầm quan trọng cũng như những khó khăn của giáo viên khi
ứng dụng CNTT vào giảng dạy, trong những năm qua, Ban giám hiệu Trường
THCS Lạc Vệ đã có kế hoạch tổ chức các hoạt động để hỗ trợ giáo viên trong
việc ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học, từ việc nâng cao nhận
thức của CBGV đến tập huấn sử dụng phần mềm, hội giảng theo chuyên đề, đầu
tư trang thiết bị hiện đại…Chính vì vậy, đến thời điểm này, trên 50% CBGV của
trường đã có thể ứng dụng CNTT như một công cụ hữu hiệu trong quản lý và dạy
học.
Trường THCS Lạc Vệ hiện có 2 phòng máy tính cho học sinh. Nhà trường
luôn bố trí 2 máy tính trong văn phòng có nối mạng để giáo viên khai thác thông
tin, tư liệu và soạn bài. Tổ văn phòng có 3 máy tính, 2 cbql có máy tính riêng.
Trên 50% số máy tính được kết nối mạng internet. Trường dành riêng 1 phòng để
dạy học bằng máy chiếu giúp thuận lợi cho việc lắp đặt và giảng dạy.
Cơ sở dữ liệu ngày càng phong phú, tất cả các văn bản đều được đánh máy
và lưu trữ cẩn thận.
14
Trong các đợt thi GVDG các cấp, trường luôn cử một giáo viên tin học
trực tiếp đi cùng giáo viên dạy để trợ giúp kĩ thuật khi cần thiết, giúp giáo viên
yên tâm dự thi để có kết quả tốt.
Tuy nhiên, không phải trường nào cũng có quan điểm như vậy. Ở nhiều
trường, quan điểm của lãnh đạo nhà trường về vấn đề ứng dụng CNTT còn chưa
đồng bộ và chưa rõ ràng, còn có tâm lý hoài nghi về tính hiệu quả của việc làm
này. Trường không thực sự khuyến khích việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT, thiết
kế bài giảng điện tử trong công tác chuyên môn. Hơn nữa, để soạn ra một giáo án
điện tử, giáo viên phải mất rất nhiều công sức, thời gian cũng như kinh phí,
nhưng ở nhiều nơi, nhà trường không có hình thức động viên xứng đáng…
Khi bắt tay vào thiết kế bài giảng điện tử, nhiều giáo viên tỏ ra mệt mỏi vì
công sức phải bỏ ra để có một tiết dạy không phải tính bằng giờ mà bằng ngày.
Chính vì vậy, những khó khăn và tốn kém về thời gian, vật chất này cần được nhà
trường hiểu rõ để có sự động viên và đãi ngộ hợp lý, có sự hỗ trợ kinh phí …Hơn
thi và đạt danh hiệu GVDG cấp Tỉnh. Năm học 2009 – 2010 có 2 giáo viên đạt
trong đó có đ/c Nguyễn Phương Liên đạt Xuất sắc cấp Tỉnh.
- Việc ứng dụng CNTT đã đem lại những kết quả bước đầu, học sinh hứng
thú học tập và tìm hiểu nâng cao nhận thức, thầy cô ham học hỏi để cập nhật
thông tin, nâng cao nghiệp vụ
PHẦN III. NHỮNG VIỆC CẦN LÀM
I. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN.
16
1. Tham mưu, đề nghị các cấp quản lí giáo dục tạo điều kiện trang bị
những thiết bị cần thiết cho việc thực hiện GAĐT như máy tính, máy chiếu đa
năng, camera…
2. Tổ chức các chuyên đề, tập huấn học tập về cách sử dụng máy chiếu,
thiết lập các hiệu ứng trong PowerPoint, khai thác mạng internet cho giáo viên để
họ có thể tự thiết kế GAĐT cho mình, theo ý mình. Tránh việc phải nhờ soạn hộ
hoặc chỉ biết nhấn chuột cho chạy các trang slide, không thể tự xử lí khi có sự cố.
3. Tìm hiểu và nghiên cứu thêm những kỹ năng cơ bản và nâng cao trong
việc sử dụng GAĐT, khai thac mạng internet để làm phong phú thêm những dạng
bài tập khác nhau.
4. Tham gia các buổi hội giảng, chuyên đề, tập huấn để thu nhận những
góp ý chân thành từ đồng nghiệp, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy theo
phương pháp mới.
5. Thăm dò và đánh giá chất lượng học sinh sau giờ học để nắm bắt được
thực chất chất lượng của các em. Kịp thời điều chỉnh những bất cập trong quá
trình giảng dạy với máy chiếu.
6. Tránh các quan điểm tiêu cực như cự tuyệt giáo án điện tử, chỉ dạy theo
lối cổ điển “đọc chép” hoặc tuyệt đối hóa máy chiếu, học sinh thụ động tiếp thu
“nhìn chép”. Chỉ nên coi máy chiếu là một trong những công cụ, phương tiện dạy
học và cần được phối hợp với các công cụ phương tiện khác để làm cho giờ học
phong phú và đạt hiệu quả cao hơn.
Tôi nghĩ rằng, với khả năng sư phạm vốn có cộng thêm quá trình học tập,
Điều này đòi hỏi người thầy phải biết sử dụng PowerPoint. Đây là một phần mềm
18
nằm trong bộ Office dùng để tạo các trình diễn đa dạng trên máy tính. Nếu chỉ
dừng ở mức độ gõ những nội dung cần thiết cộng thêm một ít định dạng về màu
sắc, font chữ, thiết nghĩ giáo viên nào cũng có thể làm được. Tuy nhiên nếu chỉ
có thế thì chúng ta chưa thực sự khai thác hết sức mạnh của PowerPoint cũng như
chưa phát huy hiệu quả của phương pháp giảng dạy mới này.
Những tư liệu minh họa cho các nội dung bài học tương đối nhiều trên
Internet. Thiết nghĩ, nếu chỉ cần bỏ chút thời gian mà có được những nội dung,
hình ảnh cần minh họa cho bài giảng thì đó là điều rất nên làm bởi lẽ nó vừa cung
cấp cho chúng ta tư liệu bài giảng lại vừa giúp ta nâng cao kỹ năng sử dụng máy
tính. Điều này cũng đồng nghĩa với việc giáo viên cần biết cách thức truy cập
Internet để lấy thông tin. Tuy nhiên, không phải hình ảnh nào chúng ta lấy từ
Internet đều thỏa mãn ý muốn. Điều quan trọng là biết cách chọn lọc tư liệu, tiết
kiệm được thời gian mà vẫn mang lại hiệu quả cao.
Các địa chỉ web mà giáo viên nên quan tâm:
http://vioet.vn , http://giaovien.net , http://edu.net.vn, http://vnschool.net.
http://thuvienkhoahoc.com , http://ebook.moet.gov.vn,
http://dayhoctructuyen.org. , http://www.hocmai.vn
http://toantuoitho.nxbgd.com.vn , http://toanhoctuoitre.nxbgd.com.vn.
http://vanhoctuoitre.nxbgd.com.vn , http://3c.com.vn , www.dayhocintel.org.
Biện pháp 3: Đưa các tư liệu cần thiết vào bài dạy:
Khi đã sưu tập được những tư liệu cần thiết cần phải có sự chọn lọc cần
thiết để đưa vào bài giảng của mình. Không nên sử dụng quá nhiều hình ảnh tư
liệu mà chỉ sử dụng ở mức độ vừa phải để tránh làm phân tán sự tập trung của
học sinh.
Sau khi đưa hình ảnh minh họa vào bài giảng, thao tác cơ bản nhất đòi hỏi
người thầy phải nắm được là cách thiết lập các hiệu ứng để làm cho bài giảng
sinh động, mang lại không khí học tập, giảng dạy mới mẻ. Các hiệu ứng cần được
19
kiếm hình ảnh để chèn vào. Công đoạn đưa nội dung vào giáo viên cũng nên lưu
ý đến số lượng chữ, mầu sắc, kích thước trên các slide. Nhìn vào slide giáo viên
có nhiệm vụ giải thích kỹ càng và mở rộng nó ra chứ không phải là đọc các dòng
chữ trên slide. Nếu chưa quen với cách giảng dạy này, giáo viên có thể thấy khó
khăn trong việc xác định xem slide tiếp theo sẽ trình bày về vấn đề gì. Không
sao, để dễ dàng làm chủ quá trình điều khiển học sinh, giáo viên có thể in ra một
bản cầm tay (hand out) để vừa giảng vừa nhìn vào đó mà xác định vấn đề sẽ nói
tiếp theo.
Biện pháp 6: Sử dụng GAĐT không có nghĩa giáo án truyền thống bị
lãng quên.
Trong giáo án truyền thống chúng ta trình bày tất cả nội dung bài giảng.
Vậy thì đối với GAĐT chỉ gồm một số slide, các slide chỉ chứa từ khóa, hình
ảnh… thì làm thế nào mà GV có thể quan sát hết các vấn đề cần được giảng? Để
giải quyết việc này, tốt nhất giáo viên phải xây dựng cho mình một đề cương bài
giảng. Đề cương ghi rõ số tiết dạy của môn học, tên bài giảng tương ứng với các
tiết học nội dung cụ thể sẽ được trình bày trong mỗi tiết học là gì? Vấn đề nào
trình bày trước, vấn đề nào trình bày sau? Vấn đề nào cần được trọng tâm và
nhấn mạnh? Dành thời gian cho từng vấn đề là bao nhiêu? … Sở dĩ cần chuẩn bị
kỹ lưỡng như vậy là vì nếu tiết giảng dạy đó GV chưa nói hết nội dung các slide
hay đã trình bày hết nhưng thời gian còn thừa là đồng nghĩa với việc “cháy giáo
án” và không đảm bảo được yêu cầu của bài dạy. Kết hợp đề cương này cùng một
bản in cầm tay một cách hợp lý chắc chắn sẽ không mắc phải sự cố này.
Biện pháp 7: Kết hợp giữa trình chiếu và ghi bảng:
Mặc dù những nội dung cơ bản đã được giáo viên tóm lược và trình chiếu
trên màn chiếu, tuy nhiên nó lại không thể lưu lại được bố cục của bài dạy bởi
21
trong quá trình giảng dạy các slide phải được trình chiếu nối tiếp nhau, do đó sau
khi kết thúc bài học học sinh có thể sẽ chưa hình dung lại được hệ thống kiến
thức của bài học. Do vậy, song song với quá trình trình chiếu, giáo viên nên ghi
lên bảng đen những tiêu đề, đề mục của bài học để cuối tiết học, học sinh dễ hình
trong quá trình công tác sau này.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
23