BÀI THẢO LUẬN
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài: Ảnh hưởng của lãi suất
đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam hiện nay
Danh sách thành viên nhóm:
1. Nguyễn Thị Duyên ( Nhóm trưởng)
2. Nguyễn Tuấn Anh
3. Phạm Thị Thanh Huyền
4. Nguyễn Hữu Hoàng
5. Nguyễn Thị Thanh Thanh
Nhóm 4 - Lớp lý thuyết tài chính tiền tệ 4
Mục lục
1
II. Lãi suất trong nền kinh tế 10
1.2 Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng 11
2.2 Đối với quá trình đầu tư 18
2.3. Vai trò của lãi suất đối với tiêu dùng và tiết kiệm: 22
2.4 Vai trò của lãi suất tới tỷ giá hối đoái và quá trình xuất nhập khẩu 24
2.5 Vai trò của lãi suất với lạm phát 28
2.7 Vai trò của lãi suất đối với các ngân hàng thương mại 30
2. Những hạn chế của chính sách lãi suất ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 45
I. Những lý luận chung về lãi suất
1. Khái niệm
1.1. Khái niệm về lãi suất:
Nhóm 4 - Lớp lý thuyết tài chính tiền tệ 4
* Theo quan điểm của K.Marx: “Lãi suất là phần giá trị thặng dư được tạo ra do
kết quả bóc lột lao động làm thuê bị tư bản - chủ ngân hàng chiếm đoạt”.
Như vậy theo K.Marx lãi suất có nguồn gốc từ lợi nhuận, là một bộ phận của lợi
nhuận. Từ quan điểm của K.Marx cho thấy nhìn chung lãi suất ≤ tỷ suất lợi nhuận
bình quân. Tuy nhiên, ta thấy phạm vi đề cập của K.Marx chỉ ở phạm vi của quan hệ cho
vay và đi vay do sự phát triển hạn chế của các quan hệ tài chính, tiền tệ ở thời kỳ đó.
bán trái phiếu này và thu được 1.200.000 VND, thì lúc này khoản thu nhập của ông A là
200.000 VND và tỷ suất lợi tức là 20%.
Như vậy, lãi suất không nhất thiết phải bằng với tỷ suất lợi tức. Trong hoạt động
cho vay của các tổ chức tín dụng, ngoài một tỷ lệ lãi nhất định các tổ chức này còn đòi
hỏi người vay tiền phải trả thêm các khoản phí, và do đó, tổng thu nhập từ những khoản
cho vay không chỉ là phần tiền lãi có được do lãi suất cho vay mang lại mà còn cộng
thêm các khoản chi phí trên. Tỷ lệ % của tổng thu nhập (còn gọi là chi phí tài chính đối
với người đi vay) trên số vốn cho vay chính là tỷ suất lợi tức hay lãi suất hiệu quả của tổ
chức tín dụng.
1.2.3. Lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa:
Tỷ lệ lạm phát hay tỷ lệ trượt giá của đồng tiền trong một thời gian nhất định luôn
làm cho giá trị thực trở nên nhỏ hơn giá trị danh nghĩa. Vì vậy, lãi suất thực luôn nhỏ
hơn lãi suất danh nghĩa bởi tỷ lệ lạm phát nói trên.
- Trường hợp tỷ lệ lạm phát (i
i
) không lớn hơn 10% thì lãi suất thực và lãi suất
danh nghĩa có liên hệ với nhau qua công thức:
i
r
= i
n
+ i
i
- Trường hợp tỷ lệ lạm phát ii cao hơn 10% thì lãi suất thực phải
tính theo công thức sau:
i
r
= (i
n
- i
tháng 1; 9,2% trong tháng 2 đã giảm xuống 4,5% trong tháng 3; 3,5% trong tháng 4 và
tiếp tục giảm trong tháng sau. Điều này khẳng định sức mạnh của công cụ lãi suất trong
điều tiết nền kinh tế vĩ mô dù có gây nên hiệu ứng tiêu cực đến hoạt động kinh tế. Từ
năm 1989 đến nay, chính sách lãi suất luôn được sử dụng để điều chỉnh nền kinh tế ở
VN. Sau khi đã kiềm chế và giữ được lạm phát ở mức độ ổn định, NHNN đang thực hiện
hạ thấp dần lạm phát để khuyến khích hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất, khôi phục kinh
tế.
Có thể nói chính sách lãi suất là 1 bộ phận của chính sách tiền tệ của nhà nước
nhằm điều hòa lưu thông tiền tệ, kích thích, điều tiết và hướng dẫn sản xuất kinh doanh
của các đơn vị kinh tế. Lãi suất cho vay được sử dụng để mở rộng cung ứng tiền tệ, thu
hẹp đầu tư và kiềm chế lạm phát.
Thực hiện vai trò đòn bẩy kinh tế, lãi suất sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với
mục đích kinh tế ở những giai đoạn khác nhau. Những ưu đãi về lãi suất, về điều kiện
Nhóm 4 - Lớp lý thuyết tài chính tiền tệ 4
cung ứng tín dụng và thanh toán là công cụ của nhà nước nhằm khuyến khích các doanh
nghiệp vào các loại sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế. Điều này có
ý nghĩa quan trọng đối với các nước chậm phát triển muốn có những bước nhảy vọt để đi
ngay vào công nghệ hiện đại trong thời đại hiện nay. Như vậy, có thể coi lãi suất là công
cụ trực tiếp của chính sách tiền tệ. Nó ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng
tiền cung ứng trong lưu thông, từ đó đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ. Một sự
điều chỉnh trong cơ chế điều hành lãi suất sẽ tác động đến lượng tiền trong lưu thông, đặc
biệt là lượng tiền cung ứng của các ngân hàng vào lưu thông vì lãi suất ảnh hưởng trực
tiếp đến lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng, Việc mở rộng khung lãi suất, hoặc tăng
trần lãi suất đối với cơ chế điều hành lãi suất cũ hoặc tăng lãi suất cơ bản trong cơ chế
điều hành lãi suất mới đều có tác dụng làm tăng lượng tiền trong lưu thông và ngược lại.
Một tác động khác của lãi suất đó là ảnh hưởng của nó tới đầu tư, tiết kiệm. Có
nhiều ý kiến khác nhau về tác động cuả lãi suất đến sự hình thành tiết kiệm, nhưng hầu
hết các nhà kinh tế đều cho rằng mức lãi suất có tác động đến quy mô tiết kiệm của nhân
dân, Nếu lãi suất thực tế càng cao thì số tiền gửi vào ngân hàng càng lớn. Việc này sẽ tác
động đến quy mô mua sắm tài sản của nhân dân. Khi lãi suất dương, nó sẽ kích thích
thu hút được nhiều khách hàng đến mở tài khoản và vay vốn.
2. Các loại lãi suất cơ bản:
2.1. Lãi suất đơn
Vay đơn là cung cấp cho người vay một khoản tiền vốn, vốn này phải được hoàn
trả người cho vay vào ngày mãn hạn cùng với một khoản tiền phụ được gọi là tiền lãi.
Đối với những khoản tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay đơn, lãi suất
được gọi là lãi suất đơn.
Phương pháp tính lãi suất đơn:
Lãi suất =
Như vậy ta thấy việc tính toán lãi suất đơn rất đơn giản và thông thường được áp
dụng trong các món vay thương mại có thời hạn ngắn hơn một năm hay là thời hạn cho
vay trùng khít với chu kỳ tính lãi.
2.2. Lãi suất tích họp
Từ việc xem xét lãi suất đơn ta thấy nảy sinh vấn đề: nếu chúng ta tham gia vào
một quan hệ tín dụng dài hạn hơn, 2 hoặc nhiều năm, trong đó chu kỳ tính lãi lại thường
là một năm hoặc thậm chí ít hơn, tức là chu kỳ tính lãi nhỏ hơn thời gian tín dụng mà lại
áp dụng cách tính toán trên đây thì, một là mặc nhiên đã có sự thừa nhận một mức lãi suất
giống nhau giữa các thời kỳ khác nhau, và hai là chúng ta đã không tính toán đầy đủ giá
trị của việc sử dụng số tiền vốn dĩ đã lớn hơn số tiền gốc ban đầu do khoản tiền lãi của
Nhóm 4 - Lớp lý thuyết tài chính tiền tệ 4
chu kỳ tính lãi hoặc năm trước đó đem lại. Chính vì lẽ đó lãi suất tích họp được coi là
công bằng và chính xác hơn trong việc đo lường lãi suất đối với các món vay dài hạn.
Lãi suất tích họp là loại lãi suất tính cho các khoản vay mà thời gian tín dụng
chia làm nhiều chu kỳ tính lãi, ở chu kỳ tính lãi đầu tiên lãi suất tích họp được tính toán
dựa trên cơ sở lãi suất đơn, nhưng từ chu kỳ tính lãi thứ hai trong thời hạn tín dụng do số
vốn tín dụng thực tế đã được tích luỹ thêm phần tiền lãi của chu kỳ trước nên lãi suất
đơn tính cho các chu kỳ sau sẽ lớn hơn chu kỳ đầu và “tích họp” lại chúng ta sẽ có một
mức lãi suất cho suốt thời kỳ khác so với mức lãi suất đơn ban đầu. Một cách đơn giản,
chúng ta có thể hiểu lãi suất tích họp là lãi suất có tính đến yếu tố “lãi mẹ đẻ lãi con”.
Phương thức đo lường lãi suất tích họp:
/ (1+i)
n
Nhóm 4 - Lớp lý thuyết tài chính tiền tệ 4
Trong đó: - PV: giá trị hiện tại
- FV
n
: giá trị tương lai sẽ được thanh toán của số tiền sau thời gian
tín dụng.
- Trường hợp những khoản tín dụng trả từng phần cố định vào thời điểm cuối mỗi
năm trong suốt thời kỳ tín dụng thì ta có:
PV=FP/(1+i)
1
+FP/(1+i)
2
+…+FP/(1+i)
n
Trong đó: FP: khoản thanh toán hàng năm đã biết.
Để tính lãi suất hoàn vốn (i) ta phải giải các phương trình trên.
- Đối với trái phiếu Coupon, người sở hữu trái phiếu Coupon sẽ được thanh toán
số lợi nhuận ở dạng tiền Coupon cố định hàng năm và đến năm cuối cùng của kỳ hạn sẽ
nhận nốt số Coupon cuối cùng và toàn bộ tiền vốn. Do đó ta có:
PV = C/(1+i)
1
+ C/(1+i)
2
+ … + C/(1+i)
n
+ F/(1+i)
n
Trong đó: - C là số tiền coupon cố định nhận được hàng năm.
= {(F – P
tg
)/F}(360/N)
Trong đó: - i
tg
là lãi suất hoàn vốn trên cơ sở tính giảm.
- F là mệnh giá của trái phiếu tính giảm.
- P
tg
là giá bán trái phiếu.
- N số ngày tới khi đến hạn thanh toán của trái phiếu.
II. Lãi suất trong nền kinh tế
1. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
1.1 Ảnh hưởng của cung cầu quỹ cho vay
Lãi suất là giá cả của cho vay, vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cung và cầu hoặc
cả cung và cầu quỹ cho vay không cùng 1 tỷ lệ đều sẽ làm thay đổi mức lãi suất trên thị
trường. Mặc dù sự biến động của lãi suất cũng ít nhiều phụ thuộc vào quy định của chính
phủ và NHTW, xong đa số các nước có nền kinh tế thị trường đều dựa vào nguyên lý này
để xác định lãi suất
Chúng ta có thể tác dụng vào cung cầu trên thị trường vốn để thay đổi lãi suất
trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu chiến lược trong từng thời kỳ. Đồng
thời muốn duy trì sự ổn định của lãi suất thì phải đảm bảo ổn định thị trường vốn
• Xây dựng vốn vay:
- Cung vốn vay:
Hình thành chủ yếu từ tiết kiệm của hộ gia đình
Cung vốn vay tỷ lệ thuận với lãi suất
- Cầu vốn vay:
Chủ yếu từ nhu cầu vốn của Chính phủ và doanh nghiệp
Cầu vốn vay tỷ lệ nghịch với lãi suất
Nhóm 4 - Lớp lý thuyết tài chính tiền tệ 4
Nhóm 4 - Lớp lý thuyết tài chính tiền tệ 4
Nguồn: báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh
Tác động của việc bội chi ngân sách tăng liên tục tăng trong giai đoạn này
được thể hiện qua bảng sau:
Giá trị Văn bản quyết định
Ngày áp
dụng
12%/năm 2559/QĐ-NHNN 3/11/2008 05/11/2008
13.0%/năm 2316/QĐ-NHNN 20/10/2008 21/10/2008
14.00%/năm 2131/QĐ-NHNN 25/09/2008 01/10/2008
14%/năm 1434/QĐ-NHNN 26/6/2008 01/07/2008
8.75%/năm 305/QĐ-NHNN 30/1/2008 01/02/2008
8.25%/năm 3096/QĐ-NHNN 01/01/2008
8.25%/năm 2881/QĐ-NHNN 01/12/2007
8,25%/năm 1546/QĐ-NHNN 29/06/2007 01/07/2007
8,25%/năm 2517/QĐ-NHNN 29/12/2006 01/01/2007
8,25%/năm 2308/QĐ-NHNN 30/11/2006 01/12/2006
Nhóm 4 - Lớp lý thuyết tài chính tiền tệ 4
0,6875%/tháng
(8,25%/năm)
1044/QĐ-NHNN 31/05/2006 01/06/2006
0,6875%/tháng
(8,25%/năm)
1894/QĐ-NHNN 30/12/2005 01/01/2006
8,25%/năm 1746/QĐ-NHNN 01/12/2005 01/12/2005
0,65%/tháng
(7,80%/năm)
1556/QĐ-NHNN 28/10/2005 01/11/2005
0,65%/tháng
(7,80%/năm)
• Sự phát triển của thị trường tài chính với các công cụ tài chính đa dạng phong
phú. Các công cụ này khác nhau không chỉ ở thời gian, phương pháp tính và trả
lãi, khả năng tiêu thụ mà cả về độ co giãn của giá cả theo lượng cầu của chúng.
Chính vì vậy những thay đổi trong cơ cấu chứng khoán, sự xuất hiện các chứng
khoán mới, cũng như sự phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu của thị trường
sơ cấp sẽ tác động làm thay đổi lãi suất trên thị trường thứ cấp.
Nhóm 4 - Lớp lý thuyết tài chính tiền tệ 4
• Mức độ phát triển của các thể chế tài chính trung gian gắn liền theo đó là sự cạnh
tranh trong hoạt động cung cấp dịch vụ của các tổ chức này. Hiệu suất sử dụng
vốn hay tỷ suất đầu tư cận biên trong nền kinh tế trong các thời kỳ khác nhau do
những thay đổi trong công nghệ
• Tình hình kinh tế, chính trị cũng như những biến động tài chính quốc tế như các
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới; các luồng vốn đầu tư ra, vào đối
với các nước, đều ít nhiều tác động đến lãi suất của các nước khác.
Đòi hỏi các nhà nghiên cứu, soạn thảo và điều hành chính sách lãi suất phải có
những sự nhìn nhận tổng thế trước khi đưa ra bất kỳ một kết luận hoặc quyết định
nào
Ví dụ :
Từ cuối năm 2000, nền kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng suy thoái. Các nền kinh tế
lớn khác trên thế giới : Tây Âu, Nhật Bản, cũng rơi vào tình trạng trì trệ. Để cứu vãn
xu thế đó, từ ngày 4-1-2001, Cục dự trữ liên bang Mỹ - FED (Ngân hàng trung ương của
nước này) đó 11 lần hạ lãi suất chủ đạo của mình, từ 6,5%/năm (trước tháng 1-2001) lần
lượt xuống còn 1,75%/tháng (từ 12-12-2001), thấp nhất trong vòng hơn 30 năm qua trong
lịch sử nền kinh tế Mỹ. Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BOJ) hạ lãi suất của mình
xuống bằng 0. Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) cũng nhiều lần hạ lãi suất của
mình Tác động dây chuyền của lãi suất trên các thị trường chủ chốt của thế giới: Thị
trường liên ngân hàng Luân Đôn (LIBOR), thị trường liên ngân hàng Singapore
(SIBOR), cũng liên tục giảm. Ở Việt Nam, để hạn chế tác động tiêu cực của xu hướng
suy giảm nền kinh tế toàn cầu từ đầu năm 2001 đến nay, Ngân hàng Nhà nước VN đã cắt
giảm lãi suất cơ bản đối với đồng Việt Nam (VND) tới 4 lần, từ mức 0,75%/tháng,
Tại thời điểm đầu tháng 5/2012, trong số 57,8% doanh nghiệp đang vay vốn cho
sản xuất - kinh doanh, thì có tới 33,5% phải vay với lãi suất bình quân trên 19%/năm và
86,3% số doanh nghiệp cho rằng, mức lãi suất bình quân năm chấp nhận được không quá
15%; 72,7% doanh nghiệp cho rằng, mức lãi suất bình quân năm chấp nhận được không
quá 14%. Nhiều DN đã phải chấp nhận bán cổ phiếu với giá rẻ hơn mớ rau (trường hợp
KSD bán với giá 1.500 đồng/CP), nhưng vẫn chưa có lối thoát và nếu tình trạng này
không sớm được cải thiện trong năm 2013 sẽ gây nên những hệ lụy khó lường.
Từ thực tiễn DN khó tiếp cận tín dụng ngân hàng kéo dài như hiện tại, việc
phát triển hiệu quả hơn TTCK nói chung, thị trường trái phiếu nói riêng để hỗ trợ DN huy
động vốn tốt hơn đang đặt ra bức bách.
2.2 Đối với quá trình đầu tư
Quá trình đầu tư của 1 doanh nghiệp được thực hiện khi mà họ dự tính lợi nhuận
thu về từ các khoản đầu tư nhiều hơn số lãi phải trả cho các khoản đi vay để đầu tư. Do
đó khi lãi suất xuống thấp các hãng kinh doanh có điều kiện mở rộng đầu tư và ngược lại.
Lãi suất
Nhóm 4 - Lớp lý thuyết tài chính tiền tệ 4
Đầu tư
Tình hình lãi suất cơ bản giai đoạn 2008-2011
Nguồn: Tính toán từ tổng cục thống kê
Hình 2: Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP giai đoạn 2006-2011
Đơn vị: %
Nhóm 4 - Lớp lý thuyết tài chính tiền tệ 4
Nguồn: TCTK.
Trong giai đoạn 2006 đến nay, mặc dù nền kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng Việt
Nam tiếp tục huy động được lượng vốn đầu tư lớn, góp phần vào việc duy trì tốc độ tăng
trưởng ở mức khá cao. Theo số liệu của TCTK, vốn đầu tư toàn xã hội có xu hướng tăng
nhanh qua các năm. Năm 2011, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 877,9 nghìn tỷ đồng, tăng
gấp 2,2 lần so với năm 2006 (398,9 nghìn tỷ đồng) . Với tốc độ tăng cao như vậy, tỷ lệ
vốn đầu tư/GDP tiếp tục duy trì ở mức cao (trên 40%) trong cả giai đoạn 2006-2010; tuy
tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội (từ mức trung bình 54,1% trong giai đoạn
2000-2005 xuống 39,1% trong giai đoạn 2006-2010; năm 2011 tỷ trọng này là 38,9%).
Đáng chú ý, tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước cũng có xu hướng giảm qua các
năm (từ mức 38,1% năm 2006 xuống còn 36,1% năm 2010 và 35,2% năm 2011); trong
khi đó, tỷ trọng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lại có xu hướng tăng (từ mức
16,2% năm 2006 lên mức 25,9% năm 2011).
2.3. Vai trò của lãi suất đối với tiêu dùng và tiết kiệm:
Thu nhập của một hộ gia đình được chia thành 2 bộ phận: tiêu dùng và tiết kiệm.
Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thu nhập,vấn đề hàng hóa lâu bền và
tín dụng tiêu dùng, hiệu quả tiết kiệm, trong đó lãi suất có tác dụng tích cực tới các nhân
tố đó.
Khi lãi suất thấp, chi phí tín dụng tiêu dùng thấp, người ta vay nhiều cho việc tiêu
dùng hàng hóa nghĩa là tiêu dung nhiều hơn. Khi lãi suất cao đem lại từ khoản tiền để
dành nhiều hơn sẽ khuyến khích tiết kiệm, do đó tiết kiệm tăng
Biểu đồ tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ giai đoạn 2004-2011
Nguồn: Tổng cục thống kê
Tuy nhiên nhìn vào biểu đồ trên ta lại thấy, năm 2008 lãi suất đạt đỉnh ở mức 13% thì
mức tăng bán lẻ hàng hóa, dịch vụ lại đạt đỉnh. Nguyên nhân ở đây là lạm phát năm 2008
đạt mức cao, gần 22% nên lãi suất danh nghĩa cao nhưng không đủ bù đắp cho lạm phát
Nhóm 4 - Lớp lý thuyết tài chính tiền tệ 4
nên người dân có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn. Vì vậy, khi xét đến ảnh hưởng của lãi
suất đến tiết kiệm và tiêu dùng cần chú ý đến cả tỉ lệ lạm phát! Hay nói cách khác là lãi
suất thực tế chính là yếu tố tác động trực tiếp tới tiết kiệm và tiêu dùng. Ngoài ra thì tiết
kiệm và tiêu dùng còn chịu tác động của nhiều nhân tố khác nên các đánh giá chỉ mang
tính tương đối.
Năm 2010:
Trong tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, kinh doanh
thương nghiệp đạt 1229,3 nghìn tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2009; khách sạn, nhà hàng
đạt 172,4 nghìn tỷ đồng, tăng 21,8%; dịch vụ đạt 144,6 nghìn tỷ đồng, tăng 23,8%; du
lịch đạt 15,3 nghìn tỷ đồng, tăng 28,5%.
tệ ra nền kinh tế đồng thời hút bớt đồng nội tệ về. Điều này làm cho cung cầu ngoại hối
trở nên cân bằng.
Tỷ giá VND/USD theo ngày và biên độ giai đoạn 2008-2011
Nguồn: NHNN và vietcombank