Sè 4 - 2011Sè 4 - 2011
T¹p chÝ cña tËp ®oµn dÇu khÝ quèc gia viÖt nam - petrovietnam
DÇuKhÝ
Petro
ietnam
ISSN-0866-854X
Nâng cao năng lực cạnh tranh,
tăng thu ngoại tệ cho đất nước
Đẩy mạnh phát triển dịch vụ dầu khí:
Một số vấn đề về sử dụng
xi măng bơm trám trong gia cố
và kết thúc các giếng khoan dầu khí
Một số vấn đề về sử dụng
xi măng bơm trám trong gia
và kết thúc các giếng khoan
khí
Một số vấn đề về sử dụng
xi măng bơm trám trong gia cố
và kết thúc các giếng khoan dầu khí
class="bi xa yd w1 h9"
class="bi xa yd w2 h9"
Khởi đầu một giai đoạn phát triển mới
Ngày 21/4/2011, tại Trung tâm văn hóa huyện Tiền
Hải, tỉnh Thái Bình, Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu
khí (PVEP) đã tổ chức kỷ niệm 30 năm khai thác dòng khí
công nghiệp đầu tiên của Ngành Dầu khí Việt Nam
(19/4/1981 - 19/4/2011). Đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu -
nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Lê Quốc
Dung - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội; đồng
chí Nguyễn Hạnh Phúc - Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí
thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Thái Bình; đồng chí Đinh
Cái nôi của Ngành Dầu khí Việt Nam
Ngày 19/4/1981, dòng
khí công nghiệp đầu tiên
được đưa vào khai thác
tại Tiền Hải (Thái Bình)
đã đánh dấu một mốc
son quan trọng trong
lịch sử tìm kiếm thăm dò
khai thác dầu khí, mở ra
những triển vọng to lớn
đối với Ngành Dầu khí
Việt Nam trên hành
trình tìm kiếm nguồn tài
nguyên làm giàu cho Tổ
quốc.
Thăm cán bộ, kỹ sư tại giếng khoan Tiền Hải C, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng nhấn mạnh: "Trong
niềm vui vinh dự, càng lớn lao trọng trách của nghề đi tìm mỏ, làm giàu cho Tổ quốc". Ảnh: Tư liệu
DẦU KHÍ - SỐ 4/2011
4
vọng to lớn trên hành trình tìm kiếm, thăm dò, khai thác
nguồn tài nguyên làm giàu cho đất nước, tạo tiền đề
vững chắc cho sự phát triển của ngành công nghiệp dầu
khí trong tương lai
Sau giếng khoan 61, một loạt giếng khoan được thực
hiện trong những năm tiếp theo và những năm gần đây
nhằm tiếp tục tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí
trong trầm tích Miocen. Kết quả đã phát hiện tổng cộng
13 vỉa khí với tổng trữ lượng tại chỗ khoảng 1,3 tỷ m
3
khí.
sức to lớn, đánh dấu thành quả đầu tiên của Ngành
trong công tác khai thác dầu khí trên đất liền. Tiếp nối
những thành quả này, các thế hệ lãnh đạo, cán bộ kỹ
thuật, công nhân lao động Ngành Dầu khí đã không
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trao tặng Biểu trưng kỷ niệm “30 năm khai thác dòng khí đầu tiên tại mỏ khí Tiền Hải C” cho các CBCNV
đã có những đóng góp to lớn trong ngày đầu vận hành mỏ khí Tiền Hải C - Thái Bình. Ảnh: Lê Khoa
ngừng rèn luyện, phấn đấu để triển khai thành công các
dự án tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí, gia tăng trữ
lượng, nâng cao hệ số thu hồi sản phẩm, góp phần đảm
bảo an ninh năng lượng Quốc gia và sự phát triển bền
vững của toàn Ngành Dầu khí Việt Nam” - TS. Đỗ Văn
Khạnh nhấn mạnh.
Trọng trách của người đi tìm lửa
Phát biểu tại buổi lễ, TSKH. Phùng Đình Thực - Tổng
giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nhấn mạnh: Sau 50
năm xây dựng và phát triển, đến nay, Tập đoàn Dầu khí
Việt Nam đã trở thành tập đoàn kinh tế mạnh, đóng góp
tích cực, hiệu quả vào sự phát triển của đất nước. Từ một
nước không có dầu khí, Việt Nam đã khai thác được dầu
khí với mốc son khai thác dòng khí công nghiệp đầu tiên
(năm 1981), khai thác dòng dầu đầu tiên (năm 1986). Với
việc đưa NMLD Dung Quất vào hoạt động, Việt Nam đã
xây dựng được một nền công nghiệp dầu khí hoàn
chỉnh, từ tìm kiếm thăm dò, đến khai thác, chế biến dầu
khí, biến nguồn tài nguyên thành sản phẩm phục vụ cho
nền kinh tế quốc dân. Hiện nay, Tập đoàn đã xây dựng
đội ngũ cán bộ mạnh với trên 40.000 CBCNV đủ sức tiến
hành các hoạt động dầu khí cả ở trong và ngoài nước.
Với sự đóng góp các sản phẩm thiết yếu, Tập đoàn Dầu
khí Việt Nam đã trở thành một trong những công cụ điều
về công tác đào tạo, sẽ không có công trình đó nếu không
có những cán bộ được đào tạo chuyên ngành. Đây là bài
học mà khi triển khai Chiến lược tăng tốc phát triển, Tập
đoàn Dầu khí Việt Nam đã xác định nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực là một trong ba giải pháp đột phá. Trên
cơ sở đó, khởi động các chương trình đào tạo bài bản,
chuyên sâu ở trong và ngoài nước, kể cả đào tạo chuyên
gia, đào tạo cơ bản ban đầu, đào tạo tại chỗ. Bài học thứ
ba, công trình dù nhỏ nhưng đã đảm bảo tiêu chuẩn của
công nghiệp khí, đảm bảo tính chất khoa học, ra được
những sản phẩm đáp ứng yêu cầu hết sức khắt khe của
công nghiệp khí, thiết kế trên cơ sở an toàn, khoa học,
những tiêu chuẩn về dầu khí được đảm bảo…
Nhân dịp này, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thái Bình Nguyễn
Hạnh Phúc và Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
TSKH. Phùng Đình Thực đã tặng hoa và trao tặng Biểu
trưng kỷ niệm “30 năm khai thác dòng khí đầu tiên tại
mỏ khí Tiền Hải C” cho các cán bộ, công nhân viên đã có
những đóng góp to lớn trong ngày đầu vận hành mỏ khí
Tiền Hải C - Thái Bình. Cũng tại buổi lễ, Tổng công ty
Thăm dò Khai thác Dầu khí đã trao học bổng cho 30 học
sinh giỏi có hoàn cảnh khó khăn tại huyện Tiền Hải, tỉnh
Thái Bình.
Trong những năm gần đây, sản lượng khí đốt khai
thác của các giếng khoan tại khu vực Tiền Hải sụt
giảm mạnh, không đủ đáp ứng nhu cầu khí đốt cho
Khu công nghiệp Tiền Hải. Để đáp ứng nhu cầu khí
đốt nhằm phát triển khu công nghiệp Tiền Hải, Thái
Bình cũng như công nghiệp dầu khí ở khu vực Bắc
bộ, Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí
Công tác khoan thăm dò tại miền võng Hà Nội. Ảnh: CTV
DẦU KHÍ - SỐ 4/2011
7
PETROVIETNAM
Triển khai quyết liệt công tác tìm kiếm, thăm dò, khai
thác dầu khí
Trước xu thế giảm sản lượng ở một số mỏ trong nước,
từ đầu năm 2011, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã triển khai
quyết liệt, đồng bộ công tác tìm kiếm thăm dò, khai thác
dầu khí, do đó đã duy trì và vượt mức kế hoạch khai thác
đã đề ra. Tổng sản lượng khai thác quy dầu đạt 6,02 triệu
tấn, bằng 104,5% kế hoạch Quý I/2011 và 26% kế hoạch
năm 2011, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó:
sản lượng khai thác dầu thô đạt 3,68 triệu tấn, bằng
102,7% kế hoạch Quý I/2011 và 24,6% kế hoạch năm
2011, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2010. Sản lượng khai
thác khí đạt 2,33 tỷ m
3
, bằng 107,5% kế hoạch Quý I/2011
và 28,5% kế hoạch năm 2011, tăng 0,2% so với cùng kỳ
năm 2010. Tập đoàn đã ký 2 hợp đồng dầu khí mới ở
trong nước gồm: hợp đồng PSC lô 05-2/10 với tổ hợp nhà
thầu Talisman/PVEP và hợp đồng PSC lô 148-149 với
PVEP; khoan thăm dò thẩm lượng 7 giếng với tổng số
29.572m khoan. Sản lượng xuất bán dầu thô đạt 3,65 triệu
tấn (trong đó: xuất khẩu là 1,96 triệu tấn, cung cấp cho
Nhà máy Lọc dầu Dung Quất là 1,56 triệu tấn, bán 131
nghìn tấn dầu thô khai thác ở nước ngoài); cung cấp 2,31
tỷ m
3
cùng kỳ năm 2010. Tập đoàn đã hoàn thành đầu tư và đưa
vào vận hành thương mại tổ máy số 1 từ ngày 22/2/2011
(GT11 - vượt tiến độ 8 ngày) và tổ máy số 2 từ ngày
7/3/2011 (GT12 - vượt tiến độ 22 ngày) của Nhà máy Điện
Nhơn Trạch 2, bổ sung cho lưới điện Quốc gia trên 275
triệu kWh trong Quý I/2011. Sản xuất 218,4 nghìn tấn
phân urea, đạt 107,1% kế hoạch Quý I/2011 và 30% kế
hoạch năm 2011; triển khai bán hàng hỗ trợ giá đạm Phú
Mỹ (DPM) tại các tỉnh miền Trung Bộ và Nam Trung Bộ
nhằm hỗ trợ nông dân khắc phục hậu quả sau lũ và sớm
phục hồi sản xuất vụ Đông Xuân… Sản phẩm sản xuất từ
Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đạt 1,37 triệu tấn, sản phẩm
xăng dầu từ Nhà máy Condensate Phú Mỹ đạt 119,2
nghìn tấn; tổng sản phẩm chế biến dầu khí toàn Tập đoàn
Quý I đạt 1,42 triệu tấn, tăng 43,4% so với cùng kỳ năm
2010. Doanh thu dịch vụ dầu khí Quý I đạt 45 nghìn tỷ
đồng, bằng 107% kế hoạch Quý I, 25% kế hoạch cả năm
(183 nghìn tỷ đồng) và tăng 24% so với cùng kỳ năm 2010
(Quý I/2010 đạt 36,2 nghìn tỷ đồng), chiếm 30% tổng
doanh thu toàn Tập đoàn.
Bên cạnh đó, hoạt động khoa học công nghệ và đào
tạo được triển khai tích cực, công tác an ninh, an toàn
dầu khí, an toàn môi trường, an toàn lao động, phòng
chống cháy nổ trên các công trình dầu khí được giám sát
chặt chẽ và thực hiện nghiêm túc. Tập đoàn giao cho
Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) 40 đề tài/nhiệm vụ khoa học
công nghệ; tổ chức nghiệm thu xong và có biên bản
nghiệm thu 3 đề tài/nhiệm vụ thuộc lĩnh vực An toàn
sức khoẻ môi trường, 1 đề tài/nhiệm vụ thuộc lĩnh vực
tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí. Công tác an sinh xã
máy Lọc dầu Dung Quất 1,56 triệu tấn, cung cấp 2,02 tỷ
m
3
khí khô cho các hộ tiêu thụ trong nước. Trên cơ sở dự
kiến giá dầu trung bình đạt 100USD/thùng, Tập đoàn
phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch
doanh thu 152,12 nghìn tỷ đồng (trong đó, doanh thu
ngoại tệ đạt 2,62 triệu USD), nộp ngân sách Nhà nước
DẦU KHÍ - SỐ 4/2011
9
PETROVIETNAM
phấn đấu đạt 37,12 nghìn tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế
đạt 23,5 nghìn tỷ đồng.
Trên cơ sở đó, Tập đoàn triển khai quyết liệt các giải
pháp trọng tâm, tập trung chỉ đạo thực hiện thắng lợi
Chương trình hành động của Tập đoàn số 196/CTr-DKVN
ngày 10/1/2011 thực hiện Nghị quyết số 02/NQ - CP và số
1893/CTr-DKVN ngày 8/3/2011 thực hiện Nghị quyết số
11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ; triển khai thực
hiện Chương trình hành động của Đảng ủy Tập đoàn thực
hiện quyết liệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XI và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tập đoàn Dầu khí Quốc
gia Việt Nam lần thứ I. Đồng thời, Tập đoàn tập trung chỉ
đạo triển khai thực hiện kết luận của BCH Đảng bộ Tập
đoàn về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 233/NQ-ĐU của
Đảng ủy Tập đoàn nhằm nâng cao hơn nữa năng lực cạnh
tranh của các đơn vị cung cấp dịch vụ trong Ngành để
tiếp tục phát huy nội lực, tăng cường và ưu tiên sử dụng
dịch vụ/hàng hoá trong Ngành, trong nước phục vụ các
hoạt động dầu khí; đẩy mạnh thực hiện các Nghị quyết
sẽ đẩy mạnh hơn nữa các phong trào thi đua, phát huy
sáng kiến, cải tiến kỹ thuật đi đôi với thực hành tiết kiệm,
chống tham nhũng lãng phí; đảm bảo thu nhập cho
CBCNV trong tất cả các đơn vị thành viên, tổ chức thực
hiện tốt công tác an sinh xã hội.
Các đơn vị đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2010
- 3 đơn vị đạt mức doanh thu vượt trên 120% kế hoạch:
Vietsovpetro, PVEP, PV GAS;
- 15 đơn vị có tốc độ tăng trưởng doanh thu trên 20% so với
cùng kỳ năm 2010: Vietsovpetro, PVEP, PV GAS, PV Power, PETEC,
PV Drilling, PTSC, DMC, PVI, PV EIC, PVFCCo, PVE, VPI, PVMTC, PV
Security;
- 4 đơn vị đạt mức lợi nhuận trước thuế vượt trên 120% kế
hoạch: Vietsovpetro, PVEP, PV Power, DMC;
- 6 đơn vị có mức nộp ngân sách Nhà nước trên 120% kế
hoạch: Vietsovpetro, PVEP, PVC, PETROSETCO, PVE, PVMTC.
Ngọc Linh
DẦU KHÍ - SỐ 4/2011
10
Các dự án hợp tác giữa Petrovietnam và PDVSA trong
chuỗi các giá trị dầu khí, từ tìm kiếm thăm dò đến chế
biến, thương mại, đóng tàu và vận chuyển dầu khí là các
dự án lớn, quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt trong chiến
lược mở rộng hợp tác đầu tư với các đối tác nước ngoài.
Trong số các dự án đó, dự án hợp tác liên doanh khai thác
và nâng cấp dầu nặng tại Lô Junin 2 (Venezuela) là một dự
án có tổng vốn đầu tư và quy mô rất lớn, có ý nghĩa đầu
tàu định hướng phát triển các dự án hợp tác giữa hai nước
trong lĩnh vực dầu khí, kinh tế nói riêng, cũng như trong
quan hệ hợp tác giữa hai nước nói chung. Các dự án hợp
việc với các Bộ, Ngành liên quan của Venezuela, Công ty Dầu khí Quốc gia Venezuela (PDVSA) nhằm thúc đẩy việc
triển khai tổng thể các dự án hợp tác, đặc biệt đảm bảo đúng kế hoạch các bên đặt ra là có dòng dầu khai thác công
nghiệp đầu tiên từ Lô Junin 2 vào Quý IV/2012.
Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Đinh La Thăng làm việc với Phó
Tổng thống Venezuela Rafael Ramírez Carreño. Ảnh: PVN
sản lượng đỉnh 10 triệu tấn vào năm 2016. Để đảm bảo
được mục tiêu đó, hai bên đã thống nhất một loạt các giải
pháp thực hiện, kể cả chương trình công tác và ngân sách
hoạt động cho năm 2011 - 2012, bao gồm các chương
trình thẩm lượng, phát triển, lắp đặt các hệ thống thiết bị
khai thác, xây dựng đường ống vận chuyển dầu, các
phương án cung cấp các loại hình dịch vụ dầu khí mà các
bên có thế mạnh cho Liên doanh.
Tại buổi làm việc, Phó Tổng thống Venezuela Rafael
Ramírez Carreño bày tỏ hài lòng về sự hợp tác chặt chẽ và
hiệu quả của Petrovietnam trong tất cả các dự án dầu khí
mà hai bên đang triển khai. Đồng thời, Phó Tổng thống
Venezuela cũng nhấn mạnh dự án hợp tác Liên doanh
Junin 2 được coi là tốt nhất, là hình mẫu tiêu biểu trong số
các Liên doanh PDVSA đã và đang triển khai với các đối
tác nước ngoài (hiện PDVSA đang triển khai một loạt các
liên doanh tương tự với các nước Nga, Belarus, Trung
Quốc, Ý, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Malaysia ). Dự án Liên
doanh với Việt Nam sẽ là dự án đầu tiên cho sản lượng
khai thác dầu khí công nghiệp trong số các dự án cùng kỳ,
đứng thứ hai là dự án của Ý.
Phó Tổng thống Venezuela khẳng định tiếp tục dành
sự ủng hộ tối đa cho việc triển khai dự án, kể cả giảm
thiểu các thủ tục hành chính, đơn giản hóa các quy trình,
đảm bảo có dòng dầu công nghiệp vào Quý IV/2012,
Hợp đồng thành lập và quản lý Công ty Liên doanh PetroMacareo Lô Junin 2 - Venezuela được ký ngày 29/6/2010. Ảnh: CTV
DẦU KHÍ - SỐ 4/2011
12
T
ại Hội nghị tổng kết 2 năm thực hiện Nghị quyết
233/NQ-ĐU về “phát huy nội lực, tăng cường và
ưu tiên sử dụng các dịch vụ của các đơn vị thành
viên trong Tập đoàn” ngày 2/4/2011 tại Vũng Tàu, Phó
Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Vũ Quang
Nam cho biết, sau 2 năm thực hiện Nghị quyết 233, kết
quả đạt được trong lĩnh vực dịch vụ dầu khí của Tập đoàn
đã có bước đột phá quan trọng, phát triển được nhiều sản
phẩm dịch vụ mới, luôn đạt được mức tăng trưởng cao
qua các năm. Năm 2009, doanh thu dịch vụ đạt 96,37
nghìn tỷ đồng, bằng 128% kế hoạch năm, tăng 58% so với
năm 2008, chiếm 34% tổng doanh thu toàn Tập đoàn.
Năm 2010, doanh thu dịch vụ đạt 152,5 nghìn tỷ đồng,
bằng 135% kế hoạch, tăng 58% so với cùng kỳ năm 2009,
chiếm 32% tổng doanh thu toàn Tập đoàn. Việc mở rộng
dịch vụ dầu khí ra nước ngoài được tích cực triển khai, uy
tín và thương hiệu của các đơn vị làm dịch vụ ngày càng
được khẳng định.
Ðến nay, hầu hết các đơn vị dịch vụ của Tập đoàn đều
có đủ năng lực và khả năng cạnh tranh để thực hiện được
100% yêu cầu dịch vụ theo mục tiêu trọng tâm của từng
đơn vị. Điển hình là: Vietsovpetro (dịch vụ vận hành các
giàn khai thác dầu khí, khoan tìm kiếm thăm dò và khai
thác dầu khí, xây lắp các công trình biển, dịch vụ khoa học
công nghệ ), PTSC (dịch vụ xây lắp các công trình biển,
tàu thuyền, kho/bãi); PV Drilling (khoan và dịch vụ
Nâng cao năng lực cạnh tranh,
Thi công xây lắp Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học phía Bắc. Ảnh: CTV
Thi công xây lắp Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học phía Bắc. Ảnh: CTV
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Điển hình
là các dịch vụ: thực hiện tổng thầu (EPC) các công trình
dầu khí, đóng mới giàn khoan, đóng mới và sửa chữa
phương tiện nổi, dịch vụ khảo sát địa chấn 2D, dịch vụ
bảo dưỡng và vận hành các công trình dầu khí, dịch vụ
giám định, kiểm định năng lượng, dịch vụ bọc ống, chế
tạo và cung cấp cọc bê tông đúc sẵn, dịch vụ vận tải sản
phẩm dầu, dịch vụ cung cấp CNG, cung cấp xăng E5
Bên cạnh đó, do hoạt động dịch vụ phát triển mạnh
và đồng bộ, Tập đoàn đã tập trung đầu tư các cơ sở vật
chất kỹ thuật, thiết bị hiện đại, chủ động hơn trong việc
thực hiện tiến độ các dự án đầu tư. Đặc biệt, việc đầu tư
và đưa tàu địa chấn 2D vào hoạt động và tự tổ chức
khảo sát trên thềm lục địa Việt Nam (trước đây công
việc này phải thuê các tàu dịch vụ nước ngoài) đã tạo
chủ động cho Tập đoàn trong việc thực hiện các nhiệm
vụ và góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Sự
phối hợp, hỗ trợ cùng phát triển giữa các đơn vị trong
Tập đoàn thông qua việc tăng cường sử dụng dịch vụ
và thực hiện dịch vụ giữa các đơn vị đã có chuyển biến
tích cực, tính chuyên nghiệp trong công tác dịch vụ dầu
khí được nâng cao. Tuy nhiên, những năm qua Tập đoàn
chỉ chiếm 47% thị trường dịch vụ khoan, 37% thị trường
vận chuyển dầu thô xuất khẩu, trong khi đây là thị
trường dịch vụ kỹ thuật quan trọng của Ngành Dầu khí.
Góp phần cân đối ngoại tệ xuất - nhập khẩu
Cũng thông qua việc triển khai Nghị quyết 233, năng
DẦU KHÍ - SỐ 4/2011
14
thực hiện là 55,79 nghìn tỷ đồng (tương đương 2,86 tỷ
USD) giảm 4,47 tỷ USD so với năm 2009, chiếm tỷ trọng
32,8% tổng nhu cầu thuê dịch vụ toàn ngành (giảm 35,2%
so với năm 2009).
Bên cạnh đó, một số đơn vị trong Ngành đã tích cực
triển khai công tác xuất khẩu dịch vụ dầu khí ra nước
ngoài như: Tổng công ty CP Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam
(PVI) ký Hợp đồng tư vấn bảo hiểm cho Rusvietpetro tại
Liên bang Nga, ký thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực bảo
hiểm với Công ty Bảo hiểm Sogaz (do Gazprom sở hữu cổ
phần chi phối); Tổng công ty CP Xây lắp Dầu khí Việt Nam
(PVC) ký Thỏa thuận hợp tác với Công ty Xây lắp
Zarubezhneft Stroimantaz và Tổng công ty CP Dịch vụ Kỹ
thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) ký hợp đồng cung cấp loại
hình tàu PSV DP2 cho Talisman Malaysia Limited với tổng
giá trị hợp đồng hơn 35 triệu USD, Petrosetco đạt doanh
thu dịch vụ ra nước ngoài năm 2009 và 2010 là 55 triệu
USD. Nhờ đẩy mạnh dịch vụ trong Ngành, Tập đoàn đã
tiết kiệm 2,67 tỷ USD ngoại tệ trong năm 2009 và tiết
kiệm 6,2 tỷ USD ngoại tệ trong năm 2010.
Phát triển dịch vụ dầu khí ra nước ngoài
Trong giai đoạn tới, yêu cầu về mức độ phức tạp và tính
chuyên nghiệp trong dịch vụ kỹ thuật dầu khí ngày càng
cao; điều kiện tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ngày
càng khó khăn, phức tạp đặt ra những thách thức mới cho
dịch vụ kỹ thuật dầu khí, đòi hỏi phải áp dụng công nghệ
cao, hiện đại, chất lượng dịch vụ phải đạt chuẩn quốc tế.
Đây sẽ là một thách thức không nhỏ trong việc cạnh tranh
đoàn đầu tư ở nước ngoài. Để đạt được mục tiêu này,
Petrovietnam đã đưa ra nhiều giải pháp, như yêu cầu các
doanh nghiệp dịch vụ tái cơ cấu lại các nguồn lực theo
hướng tập trung chuyên sâu vào các ngành nghề chính,
bảo đảm không có sự chồng chéo, quy hoạch lại để khai
thác hiệu quả tối đa cơ sở vật chất của từng đơn vị; các
đơn vị dịch vụ phải phối hợp với nhau để tăng cường
năng lực, thực hiện trọn gói những yêu cầu dịch vụ; từng
đơn vị dịch vụ phải đầu tư cấu trúc lại sản phẩm, dịch vụ,
thiết bị và công nghệ dịch vụ, cải tiến phương pháp quản
lý, để nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời chủ động
tìm kiếm, thực hiện các dịch vụ phù hợp với năng lực của
đơn vị.
Trọng tâm sắp tới của Tập đoàn là đẩy mạnh phát
triển dịch vụ kỹ thuật như: cho thuê tàu dịch vụ, phát triển
đội tàu vận tải chuyên ngành dầu khí phát triển dịch vụ
vận hành khai thác các giàn khoan… vừa nâng cao năng
lực cạnh tranh, vừa tăng thu ngoại tệ cho đất nước. “Chỉ
tính riêng 3 tháng đầu năm 2011, doanh thu từ dịch vụ
dầu khí của Tập đoàn đạt 45 nghìn tỷ đồng. Trong năm
2011 này, Tập đoàn quyết tâm khắc phục khó khăn, đẩy
mạnh sản xuất kinh doanh, đảm bảo mục tiêu tăng
trưởng trên 20% so với năm trước, phấn đấu đạt 200
nghìn tỷ đồng doanh thu từ dịch vụ dầu khí” - đồng chí
Đinh La Thăng nhấn mạnh.
DẦU KHÍ - SỐ 4/2011
15
Việt Hà
Doanh thu của các loại hình dịch vụ dầu khí giai đoạn 2009 - 2010
DẦU KHÍ - SỐ 4/2011
Việt Nam và biển Đông có mối quan
hệ nhân quả. Phần lớn các bể trầm
tích chiếm vị trí ven rìa biển Đông.
Có một số bể trầm tích nằm ở xa biển
Đông nhưng lại nằm ở rìa lục địa
Đông Dương như Mã Lai - Thổ Chu,
Phú Quốc…
Các bể trầm tích nằm ở rìa lục địa
Đông Dương và ven rìa biển Đông
của Việt Nam bao gồm các bể: Sông
Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam
Côn Sơn. Một số bể nằm sâu hơn
trong biển Đông nhưng lại ở ven rìa
của trục tách giãn biển Đông là: Tư
Chính Vũng Mây, nhóm bể Trường Sa,
Hoàng Sa (Hình 1).
Đề làm rõ quá trình địa kiến tạo về
sự hình thành và phát triển của các bể
trầm tích cần tìm hiều đặc điểm địa kiến
tạo biển Đông và các bề trầm tích này.
1. Đặc điểm địa kiến tạo biển Đông
Có thể nói biển Đông là một vùng
vỏ lục địa bị hủy hoại và bào mòn.
Nhưng ở trung tâm biển Đông lại tồn
tại lớp vỏ mang đặc điểm của kiểu vỏ
đại dương.
+ Thành phần vật chất chủ yếu là
của magma xâm nhập và của phun
trào dacit, andesit, basalt tholeit và
basalt kiềm, lộ ra lớp basalt khối, có
nhiệt. Từ đó nhiệt còn được giải
thoát tạo nên hoạt động núi lửa ở
các cung đảo Sumatra, Java,
Philippines… Còn sâu trong lục địa
các dị thường nhiệt này hình thành
Hình 1. Sơ đồ phân bố các bể trầm tích Cenozoic thềm lục địa
Việt Nam trong phông kiến tạp khu vực Đông Nam Á
Bể trầm tích
1. Sông Hồng
2. Phú Khánh
3.Cửu Long
4. Nam Côn Sơn
5. Mã Lai - Thổ Chu
6. Phú Quốc
7. Tư Chính - Vũng Mây
8. Nhóm bể Trường Sa
9. Hoàng Sa
dung dịch magma tăng thể tích do khí và chất lỏng để từ
đó gây nên dòng đối lưu của lớp manti thượng đi lên
trong vùng lục địa Đông Dương cũng như nơi vỏ mỏng
nhất và đứt gãy sâu trung tâm biển Đông (Hình 3 và 4).
Như vậy, nguyên nhân của sự xuất hiện và phát triển
trục tách giãn đáy biển Đông là do sự vận động đối lưu của
dung dịch magma ở lớp manti thượng tạo nên chùm nấm
nhiệt manti dâng lên và phun trào ở trung tâm biển Đông.
+ Theo các dị thường địa từ đã được phát hiện bởi
Ben Avraham và Uyeda 1973 thì trục tách giãn trung tâm
biển Đông xuất hiện từ khi có dị thường địa từ số 13 tức
là cách đây 36 tr.n. theo hướng Đông - Tây (Hình 5).
Sau khi các dị thường mới xuất hiện thì các dị thường
phát hiện các đá adakites thuộc nhóm vôi - kiềm và các
mảnh vỡ Ophiolite ở đảo Mindoro, ở miền Trung và Nam
của đảo Palawan từ vỏ kiểu đại dương cổ là các minh chứng
cho sự sinh thành và phát triển của đới hút chìm này).
Điều đặc biệt là ở trung tâm biển Đông trong thời
gian cận đại (Pliocen + Đệ tứ) vẫn còn có các hoạt động
núi lửa dọc trục hay ở ven cận trục do tiếp tục giải phóng
năng lượng (Hình 7).
2. Đặc điểm hình thành và phát triển các bề trầm tích
thềm lục địa Việt Nam
2.1. Đặc điểm trầm tích
Các bể trầm tích phần lớn được lấp đầy bởi các trầm
tích Eocen giữa muộn, Oligocen, Miocen, Pliocen và Đệ tứ.
Trong các thành hệ trầm tích này phát triển mạnh nhất
vào các giai đoạn Oligocen + Miocen sớm và Pliocen - Đệ
tứ (Bảng 1).
DẦU KHÍ - SỐ 4/2011
18
Đặc điểm chung là các trầm tích Eocen giữa -
muộn phần lớn là hạt thô: cuội, sỏi, xen kẽ các
Molass màu nâu đỏ, nâu tối mang đặc điểm lục
địa từ vùng năng lượng cao (gần nơi phá hủy).
Các lớp sét cũng đa màu chứa nhiều mảnh vụn
núi lửa có thành phần basalt từ lục địa đưa tới các
hồ nước ngọt, đồng bằng ngập nước… Tại đây
phát triển các thảm thực vật trong đó có thực vật
bậc cao.
+ Các thành hệ trầm tích Oligocen đặc biệt
Oligocen sớm phần lớn vẫn mang đặc điểm lục địa
hạt thô, song có tăng cường thành phần hạt mịn và
ven rìa lục địa đồng thời cũng là rìa biển Đông phát
triển mạnh các trầm tích biển nông và biển sâu. Vì
vậy trầm tích đa phần có màu tro sáng, các lớp sét
Montmo xen các lớp cacbonat và các rạn san hô…,
các phân vị địa tầng của các bể trầm tích được thể
hiện ở Bảng 2.
DẦU KHÍ - SỐ 4/2011
19
PETROVIETNAM
Bảng 1. Tốc độ tích lũy trầm tích (m/tr. n) - tốc độ lớn nhất của các trũng sâu
DẦU KHÍ - SỐ 4/2011
20
2.2. Hệ thống đứt gãy
Các hệ thống đứt gãy phần lớn
phát triển dọc theo rìa lục địa - ven
biển Đông. Từ đó, hình thành các
địa hào, bán địa hào được lấp đầy
các trầm tích lục địa - chuyển tiếp -
biển nông và biển sâu cụ thể là:
+ Bể sông Hồng: phát triển
mạnh hệ đứt gãy sông Hồng (Tây
Bắc - Đông Nam). Có lẽ do sự thúc
trồi xuống Đông Nam của khối
Đông Dương và xoay phải nên ở
phía Tây bể xuất hiện nhiều đứt
gãy chếch về hướng Tây Tây Bắc -
Đông Đông Nam.
+ Bể Ma Lai Thổ Chu: ở bể
này cũng quan sát thấy hệ thống
đứt gãy chính là ba chùa (three Pagodas) cũng có hướng
đẩy mang tính dây truyền từ khối Đông Dương xuống
qua bể Cửu Long và đới nâng Côn Sơn dọc theo đới đứt
gãy 109 (Hình 9). Cũng có thể trong giai đoạn Oligocen
muộn - Miocen sớm (26 - 16 tr. n.) phía Nam bể Nam Côn
Sơn còn bị lôi cuốn về phía Đông và Đông Nam của đới
hút chìm Borneo - Palawan làm tăng cường hệ thống đứt
gãy Đông Bắc - Tây Nam.
+ Bể Tư Chính - Vũng Mây và nhóm bể Trường Sa: trong
các bể này chủ yếu phát hiện hệ thóng đứt gãy Đông Bắc -
Tây Nam do chịu trực tiếp của quá trình tách giãn ở phần
đuôi Tây Nam của trục tách giãn biển Đông và sự lôi cuốn
của đới hút chìm
Borneo - Palawan.
+ Ngoài các hệ
thống đứt gãy chính ở
mỗi bể, còn phát hiện
một số đứt gãy có
hướng khác, có khi
vuông góc hay xiên
chéo có lẽ là các đứt
gãy sinh kèm. Chúng
được phát sinh khi xảy
ra sự dịch trượt các
khối khác nhau dọc hệ
thống đứt gãy chính
xé rách các khối ở hai
bên đứt gãy này.
Các đứt gãy xiên
chéo sinh kèm xuất
hiện khi có sự dịch
Hướng chuyển động của mảng
Đứt gãy
Trench, trough
Trục tách giãn biển Đông
Kaledo nite (Kal)
Meizozoide (Mz) (hercinit)
Kainozoide (Kz)
Hình 3. Kiến tạo và địa động lực của Đông Dương và Đông Nam Á
(Hoàng Đình Tiến, 1999)
Chú dẫn
hoạt động của đứt gãy khác nhau, sự
khác nhau về thành phần thạch
học… Từ các nguyên nhân trên có
thể phân ra các phụ tầng cấu trúc
khác nhau tùy vào cường độ hoạt
động kiến tạo của mỗi bể:
- Bể Cửu Long: ở bể này chỉ phát
hiện 2 phụ tầng cấu trúc dưới và trên:
+ Phụ tầng cấu trúc dưới bao
gồm các thành hệ trầm tích lục địa,
đầm hồ, cửa sông và vũng vịnh có
tuổi Eocen (tập F), trầm tích Oligocen
dưới (tập E) từ tầng SH - 10 trở xuống.
Trong phụ tầng cấu trúc dưới các lớp
phân bố xiên chéo, có khi phủ chồng
gối lên nhau, nhiều nơi hỗn độn, thay
đổi bề dày nhanh.
+ Phần lớn các đứt gãy chỉ hoạt
động trong giai đoạn này, tức là
ngưng nghỉ vào cuối Oligocen sớm
Miocen sớm, cuối Miocen giữa và đặc biệt cuối Miocen
muộn. Vì vậy có thể chia ra 5 phụ tầng cấu trúc ở các bể
Sông Hồng (E
3
2
, E
3
, N
1
1
, N
1
2+3
và N
2
+ Q) và 4 phụ tầng cấu
trúc ở các bể còn lại (E
2
+ E
3
, N
1
1
, N
1
2+3
và N
2
+ Q).
- Ở các bể Mã Lai - Thổ Chu, Tư Chính - Vũng Mây: các
+ E
3
, N
1
1
, N
1
2+3
và
N
2
+ Q).
2.4. Đặc điểm cấu kiến tạo
Trong các bể trầm tích (cấu trúc bậc I) thường phát
hiện các đới nâng, các trũng sâu (cấu trúc bậc II), thậm chí
các cấu tạo (cấu trúc bậc III) phát triển dọc theo các hệ
thống đứt gãy sâu có dạng tuyến tính.
- Bể Sông Hồng là một bể trầm tích tuyến tính phát
triển dọc theo hệ thống đứt gãy Sông Hồng, bị kẹp giữa
dải núi Tây Bắc
Việt Nam và nền bằng
Việt Bắc - Hoa Nam (còn gọi là bể
rìa Đông Bắc khối Đông Dương), có ba đới
nâng chính:
+ Đới địa lũy Đông Bắc bao gồm: Chí Linh - Yên Tử -
Tri Tôn.
+ Đới địa lũy Trung Tâm bao gồm: Đông Sơn - Đà
Nẵng (thềm Đà Nẵng).
+ Đai địa lũy rìa Tây Nam bao gồm: địa lũy Sông Hồng
(thềm Thanh Nghệ) - Hải Yến - Đại Bàng, địa lũy Bạch Trĩ -
Còn các trũng và các đới nâng xen kẽ ở phía Đông luôn có
hướng Đông - Tây, vuông góc với các cấu trúc phía Tây
mang đặc điểm cánh gà. Ở phía Nam bể còn tồn tại vài
trũng sâu, nhỏ và cấu tạo này lại có hướng Tây Bắc - Đông
Nam chịu sự khống chế của đới phân chia Tuy Hòa.
- Các cấu trúc bậc II và III, đặc biệt các cấu tạo dương
được hình thành trước Kainozoi, tái hoạt động vào cuối
Oligocen, một phần cuối Miocen sớm và tái hoàn thiện
vào cuối Miocen muộn.
- Bể Cửu Long là bề trầm tích dạng oval không đối
xứng (còn gọi là bể giữa núi) phát triển dọc theo hệ đứt
gãy Đông Bắc - Tây Nam. Các cấu trúc bậc II và III phần lớn
có hướng Đông Bắc - Tây Nam :
+ Các trũng chính: Đông, Tây và Bắc Bạch Hổ. Ngoài ra
còn có các đơn nghiêng Tây Bắc, Đông Nam cũng có
hướng này.
+ Các đới nâng bao gồm: đới nâng trung tâm, đới
nâng Đồng Nai (hay còn gọi là đới nâng hay đới phân dị
Đông Bắc). Các cấu trúc ở đây đều có hướng phát triển
Đông Bắc - Tây Nam.
+ Đới nâng Tam Đảo (hay còn gọi là đới phân dị Tây
Nam) phát triển dọc theo hệ thống đứt gãy vĩ tuyến
(Maeping - Hậu Giang).
+ Ngoài ra còn các trũng nhỏ địa phương như: Định
An và Vĩnh Châu ở Tây Nam bể cũng được phát triển theo
hướng vĩ tuyến và bị khống chế bởi hệ thống đứt gãy
Maeping - Hậu Giang.
+ Bên cạnh các trũng sâu và sườn nghiêng Tây Bắc
còn phát triển địa lũy Tây Bắc Trà Tân cũng có hướng Đông
Bắc - Tây Nam.
Tổng hợp các ứng lực nêu trên mà phần Nam bể Nam
Côn Sơn luôn được mở rộng và phát triển về phía Đông
Nam và Đông theo kiểu kéo tách mở rộng của các đơn vị
cấu trúc ở đây.
+ Bể Mã Lai Thổ Chu là bể dạng tuyến tính phát triển
theo hệ đứt gãy Ba Chùa (còn gọi là bể giữa núi hay ven
rìa Tây Nam khối Đông Dương). Các cấu trúc chính bao
gồm các đới nâng, trũng sâu, đơn nghiêng đều có hướng
Tây Bắc - Đông Nam tạo nên các cấu trúc bậc II và III phân
bố theo kiểu kéo tách bậc thang (Hình 13).
Các cấu trúc, đặc biệt các cấu tạo nâng được hình
thành trước Kainozoi, một số được hình thành vào cuối
Oligocen muộn, bổ sung vào cuối Miocen sớm và hoàn
thiện vào cuối Miocen muộn.
- Bể Tư Chính Vũng Mây là bể trầm tích căng giãn Nam
biển Đông.
+ Các trũng sâu được phát hiện như: trũng Vũng Mây,
trũng Phúc Nguyên. Thực chất trũng Phúc Nguyên là
nhánh Tây Bắc của trũng Vũng Mây. Trũng Vũng Mây lớn
nhất chiếm phần lớn diện tích bể. Ngoài ra, còn có trũng
Phúc Tần kéo dài về phía Đông Bắc.
DẦU KHó