LUẬN VĂN:
Phương hướng và những giải pháp chủ
yếu thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở
rộng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Lời mở đầu
Việc đẩy mạnh quá trình tái sản xuất, mở rộng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng
nhanh và có hiệu quả trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay
ở nước ta có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Vì thế việc nhận thức đúng đắn những
cơ sở lý luận và thực tiễn của nó - Những khái niệm cơ bản của tái sản xuất - xã
hội - Vai trò của nền sản xuất xã hội - Nội dung quá trình tái sản xuất tư bản xã
hội và điều kiện thực hiện sản xuất xã hội trong tái sản xuất mở rộng, những
quan điểm cơ bản việc thực hiện cũng như những phương hướng và giải pháp
thực hiện có hiệu quả quá trình tái sản xuất mở rộng là điều hết sức cần thiết đối
Nghiên cứu những quy luật vận động nội tại của các nền kinh tế - vận
dụng nguyên lý kinh tế - chính trị trong điều kiện lịch sử cụ thể Mác đã chỉ rõ các
loại hình của quá trình tái SXTB - XH, bao gồm:
* Tái sản xuất giản đơn: là quá trình tái sản xuất được lặp lại và phục hồi
với quy mô không thay đổi năm sau so với năm trước. Tái sản xuất giản đơn có
thể diễn ra với từng đơn vị sản xuất giản đơn và cũng có thể diễn ra trong toàn bộ
nền kinh tế quốc dân. Loại hình tái sản xuất này là đặc trưng phổ biến của những
xã hội có nền kinh tế lạc hậu, lực lượng sản xuất kém phát triển và năng suất lao
động thấp.
* Tái sản xuất mở rộng: là quá trình tái sản xuất được thường xuyên lặp đi
lặp lại với quy mô năm sau lớn hơn năm trước. Tái sản xuất mở rộng là đặc trưng
phổ biến của xã hội có nền kinh tế phát triển và trình độ khoa học kỹ thuật tiên
tiến. Trong tái sản xuất mở rộng cũng được chia thành 2 loại hình: đó là tái sản
xuất mở rộng theo chiều rộng và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu.
+ Tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng: đặc trưng của loại hình này là sản
xuất được mở rộng do các yếu tố tăng số lượng như thu hút thêm nhân công, mở
rộng đất đai, tăng thêm vốn đầu tư cơ bản
+ Tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu: đặc trưng của loại hình này là sản
xuất được mở rộng chủ yếu dựa vào các yếu tố chất lượng của sản xuất như: trình
độ chuyên môn của người lao động ngày càng được nâng cao, cũng như hoàn
thiện sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu.
Quá trình tái sản xuất của bất cứ xã hội nào cũng bao gồm những nội dung
cơ bản sau:
- Tái sản xuất của cải vật chất cho xã hội
- Tái sản xuất sức lao động
- Tái sản xuất tài nguyên môi trường
- Tái sản xuất quan hệ sản xuất
sản xuất xã hội. Vì để cho quá trình sản xuất được tiếp diễn liên tục thì đòi hỏi
sức lao động cũng phải được tái sản xuất một cách liên tục và ngày càng được
mở rộng. Tái sản xuất sức lao động có đặc điểm là người lao động phải có công
ăn việc làm, sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, trình độ về mọi mặt của người lao động
phải được nâng cao rõ rệt.
Tái SXTB - XH không chỉ tái sản xuất quan hệ giữa người với tự nhiên
mà còn tái sản xuất mối quan hệ giữa người với người - Tái sản xuất quan hệ sản
xuất.
Trong lịch sử, ba mặt của quan hệ sản xuất: Quan hệ sở hữu về tư liệu sản
xuất, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm không ngừng được
tái sản xuất trong sự phát triển, củng cố và hoàn thiện sau mỗi chu kỳ sản xuất,
làm cho quan hệ sản xuất luôn thích ứng với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất
Một nội dung không kém phần quan trọng trong quá trình tái SXTB - XH.
ở đây muốn nói đến vấn đề bảo đẩm nguồn dự trữ của thiên nhiên và môi trường
sống con người không bị thu hẹp, không bị hủy hoại, mà ngày càng được phục
hồi phát triển hơn nữa trong quá trình sản xuất. Trong quá trình tái sản xuất phải
khôi phục độ mầu mỡ của đất đai, các vành đai rừng, biển, làm trong sạch các
nguồn nước, không khí. Với ý nghĩa đó, hiện nay nhiệm vụ bảo vệ và không
ngừng tái sản xuất môi trường không còn bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà đã
mang thực chất toàn cầu.
Trong tái sản xuất Các Mác coi 2 mặt giá trị và hiện vật là 2 tiền đề lý
luận để nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội. Nếu như việc tái sản xuất trong các
xí nghiệp cá biệt, mặt gián tiếp của sản phẩm có vai trò quan trọng thì trong tái
sản xuất, mặt hiện vật của tổng sản phẩm xã hội có ý nghĩa cực kỳ to lớn. Dựa
vào mặt hiện vật có thể khái quát chia tổng sản phẩm xã hội thành TLSX và
TLTD và do đó toàn bộ nền SX - XH cũng được chia ra làm 2 khu vực:
- Không xét đến ngoại thương. Và cuối cùng là một yếu tố quan trọng có
tính chất quyết định.
- Một bộ phận gián tiếp sản phẩm thặng dưđành để tích luỹ tái sản xuất
mở rộng.
Từ các tiền đề và giả định nêu ra, sơ đồ trên được phân tích như sau:
Khu vực I : trước hết dùng 4000c để bù đắp gián tiếp TLSX đã tiêu
dùng và 400c (gián tiếp TLSX phụ thuộc) để mở rộng sản xuất. Bộ phận này
được trao đổi trong nội bộ Khu vực I. Số còn lại là 1000v +100v
1
+ 500 m
2
=
1.600 tồn tại dưới hình thức TLSX nên phải trao đổi với Khu vực II lấy TLTD để
phục vụ nhu cầu tiêu dùng của Khu vực I.
Khu vực II được khu vực I bán cho 1.600 TLSX nên mở rộng được giá trị
TLSX từ 1500 đến 1600 do đó tăng thêm gia strị sức lao động từ 750 lên 800.
Mức độ mở rộng sản xuất của khu vực II phụ thuộc hoàn toàn vào sự mở rộng
sản xuất khu vực I và do khu vực I quyết định. Ngược lại khu vực II cũng có
quan hệ rõ rệt đến sự phát triển của khu vực I. Sự trao đổi giữa 2 khu vực có thể
được diễn đạt bằng sơ đồ sau:
khu vực I : 4000c+400c
1
+1000v+100v
1
+500m
2
= 6000
Khu vực II : 1500c+100c
1
1. Quan điểm của Đảng ta và định hướng XHCN trong việc xây dựng
nền kinh tế phát triển nhiều thành phần
Đề cập đến chính sách kinh tế nhiều thành phần Đại hội VIII ĐCSVN chỉ
rõ, phải nắm vững định hướng XHCN trong việc xây dựng nền kinh tế nhiều
thành phần đó là:
Thực hiện nhất quán lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, lấy việc giải phóng sản xuất, động viên tối đa các nguồn lực
bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hoá và hiện đại hoá nâng cao hiệu quả
kinh tế xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việc
khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh.
Mở rộng các hình thức liên doanh liên kết giữa kinh tế Nhà nước với các
thành phần kinh tế khác cả trong và ngoài nước. áp dụng các hình thức kinh tế tư
bản chủ nghĩa tư bản Nhà nước. Tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các
nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài.
- Xác lập, củng cố và nâng cao đị vị làm chủ của người lao động trong nền
sản xuất xã hội. Thực hiện công bằng xã hội ngày một tốt hơn.
- Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp
các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc
lợi xã hội. Thừa nhận sự tồn tại lâu dài các hình thức thuê mướn lao động nhưng
không thể biến thành quan hệ thống trị, dẫn tới sự phân hoá xã hội thành 2 cực
đối lập.
Phân phối và phân phối lại hợp lý các thu nhập, khuyến khích làm giàu
hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo, không để diễn ra chênh lệch quá đáng
về mức sống và trình độ phát triển giữa các vùng, các tầng lớp dâ cư.
Tăng cường hiệu lực quản lý vĩ mô của Nhà nước. Khai thác triệ để vai trò
tích cực đi đôi với khác phục, ngăn ngừa hạn chế những tác động tiêu cực của cơ
chất và tinh thần của người lao động.
- Hoàn thiện hệ thống tài chính tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, chính sách giá
cả và xây dựng hệ thống kế toán chuẩn mực
3. Giải pháp với từng thành phần kinh tế.
* Đối với kinh tế Nhà nước
Tập trung đầu tư một cách có hiệu quả cho việc xây dựng các doanh
nghiệp Nhà nước ở những ngành, lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế như: kết cấu
hạ tầng kinh tế xã hội, hệ thống tài chính ngân hàng - Bảo hiểm một số cơ sở sản
xuất và dịch vụ trọng yếu. Bảo đảm cho toàn bộ hệ thống nền kinh tế phát triển
với hiệu quả cao.
Củng cố phát triển doanh nghiệp Nhà nước trong các ngành theo hưởng
liên kết hợp tác, cổ phần hoá một số doanh nghiệp với các hình thức và mức độ
phù hợp - Từng bước đổi mới các hình thức tổ chức. Đổi mới cơ bản tổ chức và
cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước cho phù hợp với yêu cầu của cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước.
* Đối với kinh tế hợp tác
Không ngừng đổi mới và phát triển các hình thức hợp tác xã trong nông
lâm ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - HTX mua bán - HTX tín dụng - thương
nghiệp dịch vụ ở các thành thị và nông thôn, kết hợp sức mạnh của tập thể và của
hộ xã viên, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phát huy vai trò tự
chủ của kinh tế hộ xã viên.
- Cần ổn định giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nhân dân để họ
yên tâm đầu tư tái sản xuất và kinh doanh có hiệu quả.
* Đối với kinh tế tư bản Nhà nước
- Khuyến khích sử dụng các hình thức khác nhau của CNTB Nhà nước, áp
dụng nhiều phương thức góp vốn liên doanh giữa Nhà nước và các nhà kinh
doanh tư nhân trong nước nhằm tạo thế lực cho các doanh nghiệp Việt Nam phát