LUẬN VĂN: Kế hoạch huy động vốn đầu tư và giải pháp huy động vốn - Pdf 11

LUẬN VĂN:
Kế hoạch huy động vốn đầu tư và
giải pháp huy động
Mở đầu
Thực tế có nhiều nền kinh tế chuyển biến chậm, có nền kinh tế chuyển biến xấu.
Dĩ nhiên không ai chờ đợi kết quả xấu xảy ra với quốc gia mình, ngay kể cả những
người đề xướng thị trường phải tự do điều tiết hoàn toàn. Do vậy, người ta phải nghiên
cứu những tác động nhất định vào quá trình phát triển nền kinh tế. Nhà nước là người
đại diện cho ý chí của xã hội đã không ngừng can thiệp vào quá trình này.
Hiển nhiên là những nền kinh tế càng gần với tính chất tự nhiên thì càng ít đổi

trong hệ thống kế hoạch hoá phát Triển.
I. Khái niệm và nhiệm vụ kế hoạch huy động vốn đầu tư.
1, Khái niệm kế hoạch vốn đầu tư.
Là bộ phận kế hoạch có liên quan trực tiếp để thực hiện kế hoạch tái sản xuất
giản đơn và mở rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế xã hội.
2, Khái niệm vốn đầu tư.
Là hoạt động bỏ vốn và làm tăng quy mô của tài sản quốc gia(TSQG). Đó là một
bộ phận trong hệ thống kế hoạch hóa phát triển nó xác định tổng nhu cầu vốn đầu tư xã
hội cần có trong kỳ kế hoạch và cân đối nhu cầu đó với các nguồn bảo đảm đồng thời
đưa ra các chính sách, các giải pháp và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư. Đảm bảo
thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
3, Nhiệm vụ của kế hoạch huy động vốn đầu tư.
3.1. Xác định yêu cầu về nhu cầu khối lượng vốn đầu tư XH cần có kỳ kế hoạch.
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế g=7,5% vào những năm tới thì nhu cầu
về vốn đầu tư( tính theo mô hình Harrod-Domad) trong những năm tới là 200 ngàn tỷ
đồng, tương đương với 30 tỷ $, theo cách tính khác để tăng một lần để thu nhập quốc
dân phải tăng 2,5 lần, vốn đầu tư thì phải có trên 50 tỷ $, nhu cầu về vốn lớn.
3.2. Xác định cơ cấu nhu cầu vốn đầu tư theo ngành theo vùng cơ cấu. Xu hướng
chuyển dịch cơ cấu trong thời gian tới.
- Cơ cấu tăng trưởng nhanh trên cơ sở hướng ngoại trước đây của một số nước
Đông á và Đông Nam á còn hạn chế.
- Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập như hiện nay, mô hình
hướng về xuất khẩu không có ý nghĩa, bởi lẽ nền kinh tế hội nhập không phân biệt thị
trường trong nước và nước ngoài. Nền kinh tế mở cửa mỗi nước cũng phải cạnh tranh
như sản xuất để xuất khẩu, luôn luôn phải cạnh tranh hàng hóa dịch vụ ngay trên mỗi
lãnh thổ quốc gia.
- Trong thực tiễn đổi mới vừa qua ở nước ta và kinh nghiệm quốc tế cho thấy,

quả sử dụng vốn của khu vực Nhà nước. Vốn Ngân sách dù không trong thời gian tới,
nhưng riêng việc nâng cao sử dụng vốn hiện có của các đơn vị kinh tế thì ý nghĩa của
nguồn vốn này trở nên đáng kể và đóng vai trò quyết định trong tổng vốn đầu tư, những
khả năng thực tế có thể khai thác.
+ Nâng cao công suất sử dụng máy móc thiết bị có từ mức 30% hiện nay lên 45-
50%(tăng 1,5 lần).
+ Động viên các xí nghiệp quốc doanh tự đầu tư để mở rộng sản xuất kinh
doanh.
+ Kinh doanh bất động sản bao gồm bán nhà ở, cho thuê đất đai
+ Bán các cơ sở kinh tế quốc doanh xét ra không nên duy trì hoặc bị thua lỗ
không thể cứu vãn được.
- Để có lượng hóa được nguồn vốn trong nước, cần điều tra thống kê, sau đó xây
dựng các chính sách và phương thức huy động và sử dụng vốn đó.
+ Tiết kiệm của nhân dân : 2000tỷ đồng
+ Vốn đầu tư của nhân dân : 2000tỷ đồng
+ Vốn của 6 vạn lao động ở Đức về : 3500tỷ đồng
+ Vốn của 1,6 vạn lao động ở Irak về : 220tỷ đồng
+ Vốn của Việt Kiều đã đầu tư về nước: 70 tỷ đồng
7.790tỷ đồng
Theo cách tính này, chưa kể vốn của hàng vạn lao động ở các nước khác về và
các tài sản cất giữ trong dân thì nguồn vốn trong dân thì nguồn vốn tư nhânđã lên tới
8000 tỷ đồng. Nếu động viên được ⅓ số vốn trong dân vào mục đích đầu tư thì đã có
thêm một lượng vốn đầu tư của Ngân sách Nhà nước. Hiệu quả một đồng vốn của khu
vực tư nhân sinh lợi gấp 2-3 lần khu vực kinh tế Nhà nước nên ý nghĩa vốn tư nhân đối
với tăng trưởng kinh tế càng lớn.
b. Đối với nước ngoài.
-Vốn ODA: Vốn ODA trong những năm tới phụ thuộc lớn vào quan hệ giữa

Ngoài ra

Trong đó
Y: Sản lượng hay đầu ra của nền kinh tế.
K: Đầu vào vốn.
L: Đầu vào lao động
LY
LK
ICOR
K
L
LY
K
Y
K
/
/
./
1


Y
K
Y
K
K 





+
1
k
(I
k
- .k
k
)

 I
k
= k(Y
kh
– Y
k
) + .K
k
g
kh
=
k
s
k
- . k
k

 s
k
= k(g
kh

mục tiêu 100% số huyện và 80% số xã, phường toàn quốc có điện. Tỷ lệ số dân được
cung cấp nước sạch đạt 60%so với mục tiêu 80%, trên 95% số xã đã có đã có vườn ô tô
vào đến trung tâm.
Định hướng trong 5 năm tới dành khoảng 15 % vốn ODA vào các ngành nông
nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, thủy sản kết hợp mục tiêu phát triển nông nghiệp nông
thôn, xóa đói giảm nghèo, khoảng 25% cho ngành năng lượng và công nghiệp và
khoảng 28% cho ngành giao thông, bưu điện cấp thoát nước đô thị. Coi trọng sử dụng
vốn ODA trong các lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, xã hội, giáo dục đào tạo, khoa
học công nghệ môi trường.
Đối với ngành công nghiệp, các doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng cao và có xu
hướng tăng lên đáng kể trong giá trị sản xuất của toàn ngành.
Đối với ngành nông nghiệp tỉnh đến nay có 291dự án FDI đang hoạt động với
tổng đăng ký gần 2 tỷ USD, góp phần đáng kể nâng cao năng lực sản xuất, chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp, chuyển giao nhiều giống cây, con với sản phẩm chất lượng cao,
năng suất cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới .
2.Cân đối nhu cầu với các nguồn bảo đảm vốn đầu tư xã hội.
a. Cân đối vốn đầu tư trong nước và nước ngoài.
Mục tiêu của Việt Nam giai đoạn 2001-2005 là đảm bảo tăng trưởng kinh tế từ
6,6-7,2%, lạm phát duy trì ở mức 4-5%, Bộ tài chính ước tính nhu cầu đầu tư của toàn
xã hội trong giai đoạn này khoảng 55-57 tỷ USD. Trong đó nguồn vốn trong nước
chiếm khoảng 64-70% tổng vốn đầu tư trong và toàn xã hội. Vốn nước ngoài bao gồm
nguồn ODA, FDI và vốn vay thương mại sẽ chiếm phần còn lại khoảng 30-36%. Như
vậy, ước tính tỷ lệ đầu tư trong GDP của nền kinh tế trong giai đoạn 2001-2005 sẽ đạt
mức trung bình khoảng 28-29% so với GDP và hệ số ICOR của nền kinh tế phải được
duy trì vào khoảng 4,2. Điều này đặt ra cho nền kinh tế những mục tiêu trong nâng cao
hiệu quả đầu tư định hướng cơ cấu đầu tư phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế,
chiến lược CNH-HĐH nền kinh tế, nhằm đảm bảo cho khả năng tăng trưởng và chuyển

giao thông vận tải và bưu chính viễn thông khoảng 15,7%; lĩnh vực khoa học công nghệ
giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa khoảng 6,7%, các ngành khác(công cộng, cấp thoát
nước, quản lý Nhà nước, thương mại, du lịch, xây dựng )khoảng 22,5%.
Điều chỉnh chính sách và cơ cấu đầu tư, nên quy mô đầu tư ở các vùng ngày
càng tăng. So với 5 năm trước, vốn đầu tư cho vùng miền núi phía Bắc gấp trên 1,8 lần
và vùng Đồng Bằng Sông Hồng gấp 1,3 lần, vùng Bắc trung bộ gấp 1,5 lần,vùng Duyên
hải Miền trung gấp 1,7 lần, Vung Tây Nguyên gấp 1,9 lần, vùng Đông Nam Bộ gấp 1,7
lần và vung Đồng Bằng Cửu Long gấp gần 2 lần.
Riêng nguồn vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước, thực hiện trong 5 năm (1996-
2000)khoảng 100 nghìn tỷ đồng, đã tập trung hơn so với lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế –xã hội. Trong đó đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp khoảng 22,5%; cho
công nghiệp 9,5%; cho giao thông vận tải và bưu chính viễn thông 29,8%; cho khoa
học công nghệ; giáo dục, y tế 18,7%, các ngành khác 19,5%.
c.Cân đối vốn đầu tư nước ngoài.
Trong 5 năm qua 1996-2000, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài dựa vào thực
hiện đạt khoảng 10 tỷ USD gấp 1,5 lần so với 5 năm trước. Tổng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài cấp mới bổ sung đạt 24,6 tỷ USD, tăng so với thời kỳ trước 34%. Cơ cấu
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của nước ta, tỷ lệ vốn FDI thu hút vào lĩnh vực sản xuất vật chất, kết cấu hạ
tầng kinh tế tăng từ 62% lên 85%.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nước thuộc liên minh Châu Âu, ASEAN có
chiều hướng tăng hơn so với 5 năm trước (tỷ lệ vốn đăng ký của các dự án từ EU bình
quân chiếm 23,2% tăng lên 25,8%, tỉ lệ vốn đăng ký từ các nước ASEAN đã tăng tương
ứng từ 17,3% lên 29,8%). Riêng các nước thuộc EU, Mỹ, Nhật Bản chiếm 44% tổng
vốn đăng ký tại Việt nam.
Ngoài ra, các DNNN có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra 34% giá trị sản xuất
toàn ngành công nghiệp, khoảng 23% kim ngạch xuất khẩu và đóng góp trên 12% GDP
Nếu gọi s là tỷ lệ tích luỹ trong GDP và mức tích luỹ S
s =
t
t
s
y

Vì tiết kiệm là nguồn gốc của đầu tư cho nên về lý thuyết đầu tư luôn bằng tiết kiệm
(S
t
=I
t
).
s =
t
t
I
Y

Đầu tư chính là cơ sở tạo ra vốn sản xuất do đó I
t
=K
t+n

Nếu gọi k là tỷ số gia tăng giữa vốn- đầu ra ta sẽ có:



Y
Y t
I t Y
I t
Y t
I t
Y t
I t
Y
 
.
.
:
Mô hình Harrod-Domar chỉ ra sự tăng trưởng là do tiết kiệm với đầu tư và đầu tư là
động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế. Theo Harrod-Domar chính đầu tư phát sinh
lợi nhuận và gia tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế.
3. Vốn đầu tư với chuyển dịch cơ cấu.
Dựa vào lý thuyết về các giai đoạn phát triển kinh tế của W.ROSTOW.
a. Xã hội truyền thống.
Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là : sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ yếu
trong hoạt động kinh tế, năng xuất lao động thấp do sản xuất chủ yếu bằng công cụ thủ
công, khoa học kỹ thuật chưa phát triển mạnh. Hoạt động chung của xã hội kém linh
hoạt, sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự cung cấp, sản xuất hàng hoá chưa phát
triển. Nhìn chung nền kinh tế không có những biến đổi mạnh.
b. Giai đoạn chuẩn bị cất cánh.

Trong giai đoạn này có 2 xu hướng cơ bản:
Về kinh tế: Thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh và cơ cấu lao động theo
chiều hướng tăng tỷ lệ dân cư đô thị và tăng tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn và
tay nghề cao.
Về mặt xã hội: Các chính sách kinh tế hướng vào phúc lợi xã hội.
4. Vốn đầu tư với kế hoạch hoá phát triển xã hội.
Nguồn lực đầu tư phát triển trong toàn bộ nền kinh tế sẽ định hướng đầu tư vào các
ngành và các lĩnh vực kinh tế xã hội.
-Phát triển nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn.
-Phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến và sản xuất hàng xuất khẩu.
-Xây dựng hạ tầng giao thông, điện, thông tin liên lạc, hạ tầng xã hội, giáo dục, y tế,
văn hoá môi trường, khoa học công nghệ.
Đối với đầu tư của tư nhân trong và ngoài nước, Nhà nước sẽ thông báo về quy hoạch
, kế hoạch hướng dẫn các chính sách đòn bẩy để định hướng ưu tiên vào các ngành và
lĩnh vực đầu tư như một số cơ sở hạ tầng giao thông… Đặc biệt khuyến khích mạnh việc
đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu. Trên cơ sở thực hiện Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi, dự
kiến thu hút khoảng 80% nguồn vốn FDI tập trung cho các ngành sản xuất, nhất là sản
xuất công nghiệp.
Trong quy chế quản lý và sử dụng vốn ODA được Thủ tướng Chính phủ ban hành
kèm theo Nghị định 87/CP quy định nguồn vốn ODA không hoàn lại sẽ được ưu tiên
đầu tư cho các vấn đề xã hội:
+Y tế, dân số, kế hoạch hoá gia đình.
+ Giáo dục, đào tạo.
+ Xoá đói, giảm nghèo, cấp nước sinh hoạt, phát triển nông thôn miền núi.
+ Phát triển khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường.
+ Hỗ trợ Ngân sách, nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước.
Vốn ODA vay ưu đãi sẽ được ưu tiên dành cho các dự án, chương trình thuộc các lĩnh

xuất khẩu cả nước.
Cơ cấu các ngành công nghiệp đã có chuyển dịch đáng kể, hình thành một số sản
phẩm mũi nhọn, một số khu công nghiệp, khu chế xuất với nhiều cơ sở sản xuất có công
nghệ cao hiện đại. Đến năm 2000, công nghiệp khai thác chiếm khoảng 15% tổng giá trị
sản xuất toàn ngành, công nghiệp chế tái chiếm khoảng79%, công nghiệp điện, gas,
nước, chiếm khoảng 6%.
b, Ngành nông nghiệp .
Gía trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 5% so với mục tiêu đề ra 4,5- 5%.
Cơ cấu mùa vụ đã chuyển dịch theo hướng tăng diện tích lúa đông xuân và lúa hè thu có
năng suất cao, ổn định. Các loại giống lúa mới đã được sử dụng trên 87% diện tích gieo
trồng. Sản lượng lương thực tăng bình quân mỗi năm trên 1,3 triệu tấn, lương thực bình
quân đầu người đã tăng từ 370 kg năm 1995 lên 435 kg năm 2000. Nhiều vùng sản xuất
nông sản hàng hoá tập trung gắn với công nghiệp chế biến bước đầu đước hình thành,
sản phẩm nông nghiệp đa dạng hơn. So với năm 1995, diện tích một số cây công nghiệp
tăng khá: cà phê gấp hơn 2 lần, cao su tăng 43%, mía tăng 33%, bông tăng 30%. Gía trị
sản xuất nông nghiệp trên một đơn vị đất nông nghiệp tăng từ 13,5 triệu đồng/ha
năm1995 lên 17,5 triệu đồng/ha năm 2000.
Chăn nuôi tiếp tục phát triển, sản lượng thịt hơi các loại năm 2000 ước tính lên 1,7 triệu
tấn, bằng 1,3 lần so với năm1995.
Nghề nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản phát triển khá. Sản lượng thuỷ sản năm 2000
đạt 1,9 triệu tấn so với mục tiêu kế hoạch 1,6-1,7 triệu tấn.Công tác trồng rừng, chăm sóc
và bảo vệ rừng có tiến bộ, trong 5 năm đã trồng 1,12 triệu ha rừng tập trung, bảo vệ 9,3
triệu ha rừng hiện có, khoanh tái sinh 700 nghìn ha, độ che phủ tăng từ 28,2%
năm 1995 lên 33% năm 2000.
Điểm nổi bật trong nông nghiệp là tạo được 3 mặt hàng xuất khẩu chủ lực là gạo
(đứng thứ 2 thế giơí), cà phê( đứng thứ 3 thế giới) và hàng thuỷ sản chiếm 25% giá trị
kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản năm 2000 đạt 4 tỷ USD gấp 1, 6 lần


1997

1998

1999

2000

T
ổng số vốn

79.367

96.870

97.336

103.900124.000

V
ốn Nhà n
ư
ớc

35.8
94

ư tr
ực tiếp

22.700

30.300

24.30018.90020.800Như vậy, tổng số vốn đầu tư đã tăng qua các năm, từ năm 1998 đã chậm lại, năm
2000 bắt đầu tăng khá. Điều đó chứng tỏ ngoài yếu tố chính sách quản lý thì sự tăng lên
của vốn đầu tư là yếu tố quyêts định tốc độ tăng trưởng kinh tế đến lượt nó lại có ý
nghĩa gia tăng vốn đầu tư xét trên cả 2 mặt : tăng trưởng cao- tiền đề để gia tăng đầu tư
và tăng trưởng kinh tế cao hơn sẽ có sức thu hút vốn đầu tư.
b, Cơ cấu theo nguồn lao động.

1996

1997

1998

1999

5461,659,8

V
ốn ngoài quốc doanh26,220,621,520,223,4

V

trực tiếp điều hành theo kế hoạch để thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước tăng 14,2% và chiếm 23,8% tổng nguồn vốn đầu tư
phát triển xã hội cao nhất trong các nguồn vốn. Nguồn vốn tín dụng năm nay có 2 sự
chuyển đổi quan trọng, một mặt về cơ chế đã chuyển đổi từ chỗ chỉ định theo kế hoạch
sang cơ chế tín dụng, mặt khác là triển khai chậm trong những tháng đầu năm nhưng
cuối tháng cũng khá hơn, nên cả năm vẫn tăng trưởng khoảng 11,6% và chiếm 17% tổng
vốn đầu tư phát triển xã hội.
*Về nguồn vốn ở khu vực tư nhân.
Hiện nay Việt nam có khoảng 15 triệu hộ gia đình với thu nhập bình quân 1500-
2000USD/hộ/năm. Nhiều hộ gia đình là những đơn vị kinh tế năng động trong các lĩnh
vực kinh doanh thương mại, dịch vụ.
Chúng ta có trên 3 vạn doanh nghiệp ngoài Nhà nước và khoảng 1,5 triệu hộ kinh doanh
cá thể phi nông nghiệp. Vốn của doanh nghiệp ngoài quốc doanh thường nhỏ, từ
10.000USD đến 100.000USD , số doanh nghiệp có vốn trên 1triệu USD rất ít.Vốn của
hộ kinh doanh cá thể từ vài ngàn USD đến trên dưới 50.000USD.Số doanh nghiệp ngoài
quốc doanh và hộ kinh doanh cá thể có vốn lớn chủ yếu tập trung ở các thành phố. Tuy
nhiên, muốn phát triển mạnh hơn nữa cả về số lượng và nhất là chất lượng thì môi
trường kinh doanh cần được nâng lên một trình độ cao hơn nữam, tạo niềm tin vững chắc
và tinh thần phấn khởi của các nhà doanh nghiệp.
Có gần 3 triệu Việt Kiều tập trung ở Mỹ, Canađa, Pháp, và Đông Âu với mọi lợi thế chủ
yếu là chất xám, song tiềm lực tài chính ở mức trung bình. Gần đây, nhờ nhiều chính
sách mới nên một số Việt Kiều đầu tư về nước đã tăng lên, đóng góp nhiều kinh nghiệm
và tạo lập các mối quan hệ thị trường mới cho sản xuất và kinh doanh trong nước.
Giai đoạn 1996- 2000 , tỷ lệ tiết kiệm của dân cư khoảng 15%GDP, song chỉ có khoảng
ẵ số đó được huy động cho đầu tư.
*Nguồn vốn của DNNN :17,8%,
Nguồn vốn tự có của các doanh nghiệp Nhà nước được hình thành từ vốn khấu hao cơ

Qua số liệu trên ta thấy sự phục hồi của đầu tư Nhà nước là dấu hiệu đáng khích lệ và là
một phần hệ quả từ các tác động tích cực của các giải pháp thu hút đầu tư mà Chính phủ
đã thực thi trong những năm gần đây
II. Thực trạng
1. thực hiện tổng nhu cầu vốn.
Tổng nhu cầu vốn đầu tư 40 tỷ / 41-42 tỷ đạt 95% kế hoạch khối lượng VĐT.
Tính đến 31-12-2000 đã có 3020 dự án được cấp giấy phép đầu tư với tổng vốn đăng ký
trên 44,3 tỷ USD, có 2620 dự án con hiệu lực với vốn đăng ký trên 36,5 tỷ USD. Vốn
thực hiện 17,6 tỷ USD chiếm gần 45% tổng số vốn đăng ký.
2. Thực trạng huy động vốn đầu tư trong nước.
Đóng góp lớn nhất vào tổng đầu tư toàn xã hội cũng như sự tăng lên của tổng
vốn là nguồn vốn Nhà nước. Đây là nguồn vốn đã chiếm trên 60% trong vài năm nay,
đã đóng góp phần quan trọng vào việc hình thành nên các công trình trọng điểm của đất
nước, có tác dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nguồn vốn NSNN tăng 14,2% và chiếm 23,8% tổng nguồn vốn đẩu tư phát triển
XH cao nhất trong các nguồn vốn. Nguồn vốn tín dụng năm nay có hai sự chuyển đổi
quan trọng, một mặt về cơ chế đã chuyển đổi chỉ định theo kế hoạch sang cơ chế tín
dụng: Mặt khác triển khai chậm trong những tháng đầu năm nhưng cuối năm đã khá
hơn nên cả năm đã tăng khoảng 11,6% và chiếm 17% tổng VĐT phát triển XH. Nằm
trong hai nguồn vốn trên là nguồn vốn ODA được đưa vào nguồn vốn ngân sách và
nguồn vốn tín dụng được cam kết và được giải ngân tăng khá qua các năm. Vậy nguồn
vốn ODA đã giải ngân năm 2000 tăng 25% so với năm 1999.
Nguồn vốn tự có của các DNNN chiếm 17,9% tổng VĐT phát triển
toàn XH và tăng 17,4% so với năm 1999. Đạt được kết quả trên có một phần do khấu
hao được đẩy nhanh hơn và lợi nhuận sau thuế có khá hơn.
Nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn thứ hai, nhưng lại có tốc độ tăng cao nhất
trong các nguồn vốn là nguồn VĐT ngoài quốc doanh nguồn vốn này năm 2000

ĐBSH và ĐBSCL. Diện tích được tưới nước và tạo nguồn nước tăng thêm 82 vạn Ha,
tiêu úng tăng 43,4 vạn ha, góp phần nâng cao năng suất cây trồng tăng diện tích tạo
điều kiện và khả năng hạn chế, phòng tránh thiên tai, ổn đinh sản xuất lâu dài.
Kết cấu hạ tầng ở nhiều thành phố, đô thị nông thôn được đầu tư cải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status