Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược marketing tại Công ty ECOVICO - Pdf 11

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
LỜI MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thành phố Đà Nẵng là một trung tâm kinh tế chính trị lớn nhất miền Trung –
Tây Nguyên, với hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối đầy đủ, lại nằm trong tam giác nổi
tiếng về du lịch với 3 đỉnh của tam giác ấy là di sản văn hóa thế giới Hội An, Mỹ
Sơn, Huế, sự nổi tiếng của 3 di sản này đã thu hút được một lượng lớn khách du lịch
đến với Đà Nẵng. Điều này không những mang lại cho người dân Đà Nẵng một
nguồn thu lớn mà còn tạo nên thói quen tiêu dùng du lịch cho các tầng lớp nhân dân,
làm cho du lịch trở thành một hiện quần chúng hóa, tạo điều kiện cho các công ty lữ
hành phát triển, trong đó có công ty TNHH Du Lịch Vận Tải và Thương Mại
ECOVICO.
ECOVICO là một doanh nghiệp kinh doanh lữ hành còn non trẻ, lực lượng lao
động còn ít, cở sở vật chất còn thiếu thốn nhưng công ty đã tạo cho mình một chỗ
đứng vững chắc tại thị trường kinh doanh lữ hành. Nhưng chịu sự ảnh hưởng nặng
nề của khủng hoảng kinh tế thế giới thì lượng khách đến với công ty có xu hướng
giảm trong thời gian qua, do đó để tồn tại và phát triển được trên thị trường kinh
doanh lữ hành như hiện nay thì phải xây dựng một chiến lược marketing hoàn thiện
cho công ty. Đây cũng là một bài toán khó của ban lãng đạo công ty hiện nay.
Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại
WTO cũng mang lại cho công ty nhiều cơ hội cũng như thử thách mới. Việc cam kết
cạnh tranh tự do theo lộ trình của WTO thì đối thủ cạnh tranh của công ty trên thị
trường kinh doanh lữ hành không chỉ là các công ty trong nước nữa mà còn có các
công ty, tập đoàn nước ngoài. Mặt khác, số lượng các công ty lữ hành tại Đà Nẵng
quá nhiều, đã gây nên sự cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty với nhau. Do đó để tồn
tại và phát triển lâu dài thì công ty phải có những chiến lược marketing phù hợp với
tình hình thị trường hiện nay.
Xuất phát từ những thực tế đó, trong thời gian thực tập nghiên cứu và tìm hiểu
tình hình hoạt động của công ty ở phòng kinh doanh lữ hành, tôi đã quyết định chọn
đề tài: “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược marketing tại công ty du lịch
vận tải và thương mại ECOVICO”

HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH
1. Một số khái niệm cỏ bản trong hoạt động du lịch, vận tải và thương mại
1.1.Khái niệm về du lịch
Du lịch là hiện tượng tham quan tạm thời rời khỏi nơi cư trú của mình để đi đến
một nơi khác với mục đích nghỉ ngơi giải trí tham quan trong thời gian rảnh mà
không vì mục đích kiếm tiền.
1.2. Loại hình du lịch
Loại hình du lịch có thể phân chia thành các nhóm khác nhau tùy thuộc vào tiêu
chí đưa ra. Hiện nay đa số các chuyên gia du lịch Việt Nam phân chia loại hình du
lịch theo các tiêu chí cơ bản sau đây sau đây:
1.2.1. Phân loại theo môi trường tài nguyên
Theo Pirojinick, du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt. Tùy vào
môi trường tài nguyên mà hoạt động du lịch được chia thành hai nhóm là du lịch văn
hóa và du lịch thiên nhiên.
- Du lịch văn hoá là hoạt động diễn ra chủ yếu trong môi trường văn hóa
- Du lịch thiên nhiên là hoạt động du lịch diễn ra nhăm thỏa mãn nhu cầu về với
thiên nhiên của con người. Trong một số loại hình du lịch thiên nhiên có thể thấy
những loại hình du lịch như du lịch biển, du lịch núi, du lịch nông thôn.
Theo cách tiếp cận này du lịch thiên nhiên được coi là hoạt động du lịch đưa
khách về những nơi có điều kiện tự nhiên trong lành, cảnh quan tự nhiên hấp dẫn
nhằm thỏa mãn nhu cầu đặc trưng của họ. Nhiều chuyên gia du lịch cũng như các nhà
địa lý, kinh tế du lịch dùng các thuật ngữ du lịch sinh thái, du lịch xanh theo cách
hiểu trên.
Như chúng ta biết với sự phát triển mạnh mẽ của và nhanh chóng của khoa
học kỹ thuật công nghệ nên các sản phẩm công nông nghiệp ngày càng cao hơn
trước. Khả năng mua được những sản phẩm có giá trị cao dễ dàng hơn trước đây.
Đây là một biểu hiện mang tính chất quy luật, nó không chỉ xảy ra ở các nước công
nghiệp mà còn xảy ra ở các nước đang phất triển như Việt Nam. Con người luôn cố
gắng làm cho cuộc sống trở nên tốt hơn bằng cách tạo ra những môi trường nhỏ xung
quanh mình như việc sử dụng ngày càng nhiều xe máy, ô tô, máy bay, máy điều hòa,

giới trẻ. Những con suốt chảy xiết, những ngọn núi cao hiểm trở, những vùng núi lửa
nóng bỏng … là địa chỉ lý thú cho những người ưa mạo hiểm. Để kinh doanh loại
hình du lịch này cần có tranh thiết bị hỗ trợ cần thiết và đặc biệt là chương trình và
đội ngũ ứng cứu hết sức cơ động. Vì vậy để khai thác loại hình du lịch này cần có
nguồn vốn lớn để dầu tư, đào tạo nhân viên. Nếu so sánh với các loại hình du lịch
khác trong thời gan trước mắt du lịch mạo hiểm ít có cơ hội thu lợi nhuận các loại
hình du lịch khác.
- Du lịch nghiên cứu
SVTH: Trần Ngọc Hưởng – Lớp B13QTH 4
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
Loại hình du lịch này đang ngày càng trở nên phổ biến do nhu cầu kết hợp học
tập với tìm hiểu thực tiễn, học đi đôi với hành. Nhiều môn học nhành học cần có hiểu
biết thực tế như địa lý địa chất, lịch sử khảo cổ …. Để đáp ứng nhu cầu này nhiều
nhà cung ứng du lịch xây dựng những phòng học ngoài trời được thiết kế phù hợp
với nội dung học tập. Thông thường hướng dẫn viên du lịch là các thầy giáo phụ
trách chuyên môn ở trường.
1.2.3. Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch.
Điểm du lịch đến có thể nằm ở các vùng địa lý khác nhau. Việc phân loại theo
đặc điểm du lịch cho phép chúng ta định hướng được công việc tổ chức, triển khai
phục vụ nhu cầu của khách. Theo tiêu chí này có thể xác định những loại hình du lịch
sau:
- Du lịch đô thị
Các thành phố, trung tâm hình chính có sức hấp dẫn bởi các công trình kiến
trúc lớn có tầm cỡ quốc gia hoặc quốc tế. Mặt khác đô thị cũng là đầu mối thương
mại lớn của cả nước , vì vậy không chỉ người dân ở vùng nông thôn bị hấp dẫn bởi
các công trình đương dại đồ sộ ở các đô thị mà khách từ các miền khác nhau, từ
thành phố khác nhau cũng có nhu cầu đến để chiêm ngưỡng phố xá và mua sắm.
- Du lịch miền núi
Hai phần ba lãnh thổ nước ta là địa hình đồi núi. Những điểm du lịch nghỉ
núi nổi tiếng ở nước ta như: Tam Đảo, Sapa, Đà Lạt…. là những điểm xuất hiện khá

cung ứng với số lượng lớn và được hưởng triết khấu. Ngoài ra doanh nghiệp lữ hành
còn có trách nghiệm đối với khách du lịch.
1.7. Đại lý du lịch.
Đại lý du lịch là một đơn vị trung gian bao gồm việc thực hiện các dịch vụ
dưa đón, đăng ký nơi lưu trú,vận chuyển, hướng dẫn tham quan bán các Chương
trình du lịch của các doanh nghiệp lữ hành, cung cấp các thông tin du lịch và tư vấn
du lịch nhằm hưởng hoa hồng.
1.8. Vùng du lịch
Vùng du lịch là sự kết hợp lãnh thổ của các á vùng và tiểu vùng trung tâm và
điểm du lịch có đặc trưng riêng về số lượng và chất lượng. Vùng du lịch như một
tổng thể lớn nhất các đối tượng và hiện tượng nhiên ,xã hội, nhân văn…. Bao gồm hệ
thống lãnh thổ du lịch và môi trường kinh tế xã hội xung quanh với chuyên môn hóa
nhất định trong lĩnh vực du lịch đó.
2. Một số khái niệm cơ bản về vận tải.
2.1. Khái niệm
Vận tải là sản xuất vật chất thực hiện vận chuyển hàng hóa và người. Vận tải
được chia làm vận tải đường bộ (thường gọi tắt là vận tải bộ), vận tải đường thủy
(vận tải thủy), vận tải đường không. Vận tải đường bộ bao gồm tàu hỏa, ô tô và hệ
thống đường xá. Vận tải thủy gồm vận tải đường biển và vận tải đường sông. Vận tải
đường không sử dụng máy bay.
SVTH: Trần Ngọc Hưởng – Lớp B13QTH 6
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
Theo nhiệm vụ có vận tải công cộng phục vụ chung cho lĩnh vực lưu thông và
dân cư, vận tải chuyên dùng trong nội bộ ngành sản xuất và vận tải dùng riêng cho cá
nhân. Vận tải liên hợp là chuyên chở hàng hóa bằng ít nhất hai phương tiện.
2.2. Vai trò của vận tải
Từ khi nền kinh tế sản xuất hàng hoá ra đời cho đến nay, vận tải hàng hoá
luôn đóng vai trò là một mắt xích trọng yếu của quá trình sản xuất, đảm trách khâu
phân phối và lưu thông hàng hoá.
Các nhà kinh tế học đã ví rằng: “Nếu nền kinh tế là một cơ thể sống, trong đó

Việc phát minh ra tiền (và sau này là tín dụng, tiền giấy và tiền ảo (tức không
phải tiền tồn tại dưới hình thức được in hay được đúc ra) như là phương tiện trao đổi
đã đơn giản hóa đáng kể hoạt động thương mại và thúc đẩy hoạt động này, nhưng
bên cạnh đó nó cũng phát sinh ra nhiều vấn đề mà hoạt động thương mại thông qua
hình thức hàng đổi hàng không có. Vấn đề này được xem xét cụ thể hơn trong bài
Tiền. Hoạt động thương mại hiện đại nói chung thông qua cơ chế thỏa thuận trên cơ
sở của phương tiện thanh toán, chẳng hạn như tiền. Kết quả của nó là việc mua và
việc bán tách rời nhau.
Thương mại tồn tại vì nhiều lý do. Nguyên nhân cơ bản của nó là sự chuyên
môn hóa và phân chia lao động, trong đó các nhóm người nhất định nào đó chỉ tập
trung vào việc sản xuất để cung ứng các hàng hóa hay dịch vụ thuộc về một lĩnh vực
nào đó để đổi lại hàng hóa hay dịch vụ của các nhóm người khác. Thương mại cũng
tồn tại giữa các khu vực là do sự khác biệt giữa các khu vực này đem lại lợi thế so
sánh hay lợi thế tuyệt đối trong quá trình sản xuất ra các hàng hóa hay dịch vụ có tính
thương mại hoặc do sự khác biệt trong các kích thước của khu vực (dân số chẳng
hạn) cho phép thu được lợi thế trong sản xuất hàng loạt. Vì thế, thương mại theo các
giá cả thị trường đem lại lợi ích cho cả hai khu vực.
3.2. Vai trò của dịch vụ thương mại
Lĩnh vực thương mại và dịch vụ nói chung bao gồm những lĩnh vực hết sức
nhạy cảm và có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế. Việc đẩy mạnh và mở
cửa về lĩnh vực này cần được xem xét một cách toàn diện để có thể xác định và tiến
hành những bước đi và giải pháp phù hợp. Nhằm một mặt góp phần cùng thành phố
và cả nước thực hiện thành công tiến trình mở cửa, mặt khác cùng góp phần đảm bảo
giữ vững độc lập dân tộc, định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Hoạt động của thương mại và dịch vụ có vị trí, vai trò quan trọng trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta:
- Thương mại và dịch vụ góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông, phân phối
hàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát triển trong phạm vi quốc gia cũng như
quốc tế. Thật vậy, dịch vụ - thương mại chính là cầu nối giữa các yếu tố “đầu vào” và
“đầu ra” trong quá trình sản xuất hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm. Buôn bán quốc tế, đặc

nay, sự phát triển thương mại và dịch vụ phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia. Người ta thấy rằng, trình độ phát triển kinh tế của một nước càng cao thì tỷ
trọng của dịch vụ - thương mại trong cơ cấu ngành kinh tế nước đó càng lớn. Dịch vụ
phát triển sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa, tạo điều kiện
cho lĩnh vực sản xuất khác phát triển.
- Thông qua mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, khả năng tiêu dùng,
nâng cao mức tiêu thụ và hưởng thụ của cá nhân và doanh nghiệp cũng tăng lên góp
SVTH: Trần Ngọc Hưởng – Lớp B13QTH 9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường lao động và phân công lao động trong xã
hội.
- Trong xu thế hội nhập quốc tế, thị trường trong nước sẽ liên hệ chặt chẽ với
thị trường nước ngoài thong qua hoạt động ngoại thương, điều này nếu dịch vụ và
thương mại phát triển mạnh mẽ, phong phú, đa dạng chắc chắn sẽ mở rộng được thị
trường thu hút các yếu tố đầu vào, đầu ra của thị trường. Chính vì điều này, dịch vụ -
thương mại thực sự là cầu nối gắn kết giữa thị trường trong nước với thị trường ngoài
nước, phù họp với xu thế hội nhập và mở cửa ở nước ta hiện nay.
- Dịch vụ thương mại luôn thể hiện sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh
trên thị trường mua bán hàng hóa dịch vụ. Quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh là
quan hệ bình đẳng về mặt lý thuyết, đó là thuận mua vừa bán. Cho nên trong hoạt
động dịch vụ - thương mại đòi hỏi các chủ thể kinh doanh luôn phải năng động, sáng
tạo, kể cả nghệ thuật để không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh hàgn hóa dịch vụ
trên thị trường, góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng và điều
này sẽ làm nền tảng vững chắc giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự
cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.
- Dịch vụ thương mại luôn thể hiện sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh
trên thị trường mua bán hàng hóa dịch vụ. Quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh là
quan hệ bình đẳng về mặt lý thuyết, đó là thuận mua vừa bán. Cho nên trong hoạt
động dịch vụ - thương mại đòi hỏi các chủ thể kinh doanh luôn phải năng động, sáng
tạo, kể cả nghệ thuật để không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hóa dịch vụ

“Marketing is the activity, conducted by organizations and individuals, that
operates through a set of institutions and processes for creating, communicating,
delivering, and exchanging market offerings that have value for customers, clients,
marketers, and society at large.”
Có nhiều định nghĩa khác nhau về marketing và quan niệm về marketing cũng
có nhiều thay đổi theo thời gian. Hiện nay marketing được coi là một công cụ hữu ích
đối với những nhà sản xuất, kinh doanh. Trước đây marketing được hiểu một cách
đơn giản là giai đoạn sau khi sản xuất ra sản phẩm cho tới khi sản phẩm tới tay người
tiêu dùng. Thông qua các hoạt động quảng cáo, tiếp thị, marketing thúc đẩy quá trình
tiêu thụ sản phẩm. Cho đến nay quan điểm này đã có nhiều thay đổi bằng việc bổ
xung thêm những chức năng nhiệm vụ của hoạt động marketing. Marketing bắt đầu
từ quá trình tìm hiểu thị trường, khái quát những nhu cầu của thị trường dưới dạng thị
hiếu của khách hàng và tìm cách đưa ra những sản phầm nhằm đạt tới mục tiêu thỏa
mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Sau khi phân đoạn thị trường và xác định thị
trường mục tiêu hoạt động marketing xúc tiến hoàn thiện những sản phẩm sẵn có cho
phù hợp với thị trường, một mặt nghiên cứu đưa ra những sản phẩm mới dựa trên
những nhu cầu đã được nghiên cứu. Sau khi sản phẩm ra đời hoạt động marketing
bước vào giai đoạn đưa sản phẩm ra thị trường. Trong xu thế hiện nay khi sự cạnh
tranh các mặt hàng cùng chủng loại và các mặt hàng thay thế trở nên khốc liệt thì
marketing chính là công cụ hữu ích để sản phẩm thu hút được sự chú ý và mong
SVTH: Trần Ngọc Hưởng – Lớp B13QTH 11
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
muốn tiêu dùng của khách hàng. Trong các giai đoạn này hoạt động marketing được
thực hiện dưới hình thức quảng cáo, chào hàng, bán hàng trực tiếp, quan hệ công
chúng, khuyến mãi…vv. Thông qua các đại lý bán buôn và bán lẻ, qua kênh phân
phối dựa trên các đại lý cung cấp nguồn khách hàng thường xuyên cho doanh nghiệp.
Đây được coi là hoạt động quan trọng và nổi bất nhất của marketing. Tuy nhiên
marketing là một quá trình khép kín. Sau khi sản phẩm tới tay người tiêu dùng ngoài
chính sách hậu mãi và bảo hành nhằm duy trì quan hệ tốt với doanh nghiệp hoạt động
markeing còn có nhiệm vụ tiếp nhận những phản hồi từ khách hàng. Từ đây vòng

một năm. Mặt khác, công nghệ cũng đã đặt ra một thách thức cho các doanh nghiệp:
tuổi thọ của sản phẩm trên thị trường bị rút ngắn. Nếu trước đây người ta sử dụng
một chiếc điện thoại di động trong thời gian 2-3 năm là chuyện bình thường, thì đối
với giới trẻ ngày nay, nếu sau một năm mà bạn không thay đổi điện thoại di động thì
đó là chuyện lạ.Do thị trường Châu Âu, Mỹ đã phát triển đến giai đoạn bão hòa và ổn
định, các tập đoàn lớn cần phải tìm kiếm thị trường mới để duy trì tốc độ phát triển
của mình. Việt Nam nằm trong số bốn nước được các tập đòan lớn quan tâm:Trung
Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam.
Từ chỗ sân ai nấy đá thành sân chung mà mọi người ai muốn đá cũng vào đá
được, toàn cầu hóa đã thay đổi bản chất của họat động kinh doanh, từ chỗ tập trung
sản xuất ra sản phẩm tốt nhất, rẻ nhất có thể được, doanh nghiệp đã phải dịch chuyển
sự chú tâm của mình ra thị trường. Đơn giản là vì họ muốn khách hàng tin dùng và
mua sản phẩm của họ hơn là của đối thủ cạnh tranh. Và để làm được việc đó doanh
nghiệp cần phải hiểu nhu cầu của khách hàng tốt hơn, họ cần truyền thông tốt hơn về
sản phẩm của họ, và họ cần xây dựng quan hệ gắn bó lâu dài giữa thương hiệu với
nhóm đối tượng khách hàng mục tiêu. Chính vì những lý do trên, marketing ngày
càng trở nên một chức năng quan trọng trong các doanh nghiệp. Nhưng marketing
không chỉ là một chức năng trong hoạt động kinh doanh, nó là một triết lý dẫn dắt
toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp trong việc phát hiện ra, đáp ứng và làm thoả mãn
cho nhu cầu của khách hàng.
Doanh nghiệp cần phải biết làm thế nào để xác định và phân khúc thị trường, xây
dựng giải pháp hấp dẫn để chào cho khách hàng, và xây dựng thương hiệu với định vị
mạnh. Họ phải biết làm thế nào để làm giá cho giải pháp của mình một cách hấp dẫn
và hợp lý, và làm thế nào để chọn và quản trị kênh phân phối để đưa sản phẩm của
mình đến người tiêu dùng một cách có hiệu quả. Họ cần phải biết làm thế nào để
quảng cáo và giới thiệu sản phẩm của mình, để khách hàng biết và mua. Không chỉ
thế, họ cần phải biết áp dụng chiến lược thị trường và phương pháp quản trị phù hợp
với thực tế thị trường đầy kỹ thuật mới trong xu hướng toàn cầu hoá.
5. Chiến lược Marketing
Mô hình Marketing mix

giá đối với các sản phẩm thông thường khác. Đưa ra giá dựa trên giá thành luôn là
phương án đúng đắn. Việc đưa ra mức giá cao hay thấp, biến động theo mùa vụ là
một trong những ý đồ của nhà kinh doanh. Dù theo phương pháp nào giá cả vẫn phải
đảm bảo lợi nhuận được bảo đảm. Tuy nhiên giá cả không chỉ thể hiện giá trị của sản
phẩm mà còn thể hiện đẳng cấp của người tiêu dùng. Đối với những khách sạn lớn,
ngoài tiện nghi và các dịch vụ được cam kết là tối ưu trong giá cả còn bao gồm cả giá
SVTH: Trần Ngọc Hưởng – Lớp B13QTH 14
MÔ HÌNH MARKETING MIX
Promotion
PriceProduct
Place
MARKETING-
MIX
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
cho thương hiệu hay chính là đẳng cấp của người sử dụng các dịch vụ tại cơ sở lưu
trú này.
- Place: Sau khi sản phẩm đáp ứng được những yêu cầu trên, marketing có
nhiệm vụ đưa sản phẩm ra ngoài thị trường thông qua kênh phân phối của mình. Đối
với các sản phẩm hàng hóa thông thường khác kênh phân phối chủ yếu dựa trên hệ
thống đại lý bán buôn và bán lẻ. Riêng với hoạt động lưu trú ngoài mạng lưới bán
buôn và bán lẻ doanh nghiệp còn xây dựng cho mình một hệ thống bán hàng dựa trên
các doanh nghiệp có nguồn khách hàng kiểu mắt xích. Các hãng hàng không, giao
thông vận tải là nơi cung cấp khách hàng thường xuyên cho ngành lưu trú. Mặt khác
quan hệ này cũng theo chiều ngược lại. Khách sạn là nơi có thể chi phối những ngành
khác dựa trên việc đáp ứng những nhu cầu khác nhau của khách hàng. Cơ sở lưu trú
vừa có thể là đối tác của hoạt động lữ hành vừa có thể là khách hàng của họ. Viêc
phân phối các sản phẩm tạo thành một mạng lưới có sự tác động đa chiều.
- Promotion: Chiêu thị hay còn gọi là các chiêu thức bán hàng. Thực chất
khái niệm này dùng để chỉ các phương pháp nhằm tiêu thụ sản phẩm. Đối với các sản
phẩm hàng tiêu dùng thì quảng cáo là phương pháp thu được hiệu quả nhiều nhất.

phục khách hàng. Riêng đối với ngành marketing là nơi thể hiện sự sáng tạo của con
người thì những xu hướng mới là những đòi hỏi bắt buộc.
Philip Kotler được coi là người đặt nền móng cho marketing hiện đại. Với
những thành công đó ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và cho ra đời những quan điểm
mới về hoạt động marketing trong thời đại hiện nay. Ông đã chỉ ra 6 xu hướng mới
của marketing.
1) Từ lối tư duy thiết lập giao dịch chuyển sang lối tư duy thiết lập quan hệ
2) Từ marketing sản phẩm chuyển sang marketing dịch vụ và kinh nghiệm
3) Từ một doanh nghiệp tự mình tìm cách đáp ứng nhu cầu khách hàng thành
một doanh nghiệp cùng với khách hàng tìm ra cách đáp ứng nhu cầu của họ
4) Từ “chuỗi cung ứng” (supply chains) thành “chuỗi nhu cầu” (demand
chains)
5) Từ các phương tiện truyền thông độc lập thành một hệ thống truyền thông
hợp nhất
6) Từ truyền thông theo phương thức truyền thống chuyển sang truyền thông
online.
Và thực chất những nhận định này đang trở thành những xu thế mới của nền
kinh tế và ngành marketing nói riêng.
Philip Kotler còn chỉ ra rằng phương pháp quảng cáo truyền hình đang trở nên
mất hiệu quả và thay vào đó hoạt động PR ngày càng trở nên hữu ích với hoạt động
marketing. Cùng chung nhận định này là nghiên cứu của Al Ries được thể hiện trong
cuốn The fall of advertising and the rise of PR- Quảng cáo thoái vị và PR lên ngôi.
Sự bùng nổ của quá nhiều đài truyền hình và quá nhiều chương trình quảng cáo, và
quỹ thời gian của con người ngày càng giảm đi do công việc và nhịp độ cuộc sống
dẫn đến những quảng cáo đã không còn sức hút đối với khách hang. Trong khi đó PR
là một hoạt động quảng cáo thông qua những hoạt động xã hội có ý nghĩa, sẽ dễ dàng
được khách hàng đón nhận thông qua những kênh thông tin đáng tin cậy hơn.
SVTH: Trần Ngọc Hưởng – Lớp B13QTH 16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
Có nhiều cách để thay thế cho thế hệ quảng cáo truyền hình nở rộ. Có thể nhắc tới

Câu trả lời có thể khẳng định là chưa đủ!
Vậy chúng ta cần phải làm gì, nhất là khi quan niệm “hữu xạ tự nhiên hương”
chỉ có giá trị phần nào, bù vào là hoạt động Marketing. Để quảng cáo, tiếp thị du lịch
SVTH: Trần Ngọc Hưởng – Lớp B13QTH 17
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
trở thành hoạt động chuyên nghiệp, tập trung, đúng tầm và đặc biệt hạn chế được sự
nghèo nàn, bên cạnh việc xây dựng một chiến lược Marketing cụ thể thì ngành du
lịch Việt Nam phải có sự ủng hộ và góp tay của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trên thực tế sự hưởng ứng của các doanh nghiệp không thể chỉ được
thực hiện khi có sự kiện du lịch mà phải do ý thức chủ động của họ ở mọi lúc, mọi
nơi mới có thể giúp ngành du lịch Việt Nam không bỏ lỡ thời cơ, theo kịp tiến trình
hội nhập quốc tế.
Nhằm tìm ra những lợi thế so sánh về du lịch, từ đó tạo nền tảng, yếu tố để các
doanh nghiệp hoạt động định hướng được chiến lược Marketing chung cho toàn
ngành, cũng như tìm một lối “thể hiện chung” cho du lịch Việt Nam, chúng tôi đã tổ
chức buổi toạ đàm “Marketing cho du lịch Việt Nam”. Xin nêu một số ý kiến đóng
góp về vấn đề này.
Xây dựng chiến lược quảng bá điểm đến Việt Nam “Từ chỗ đứng vào nhóm
các nước kém phát triển nhất, Việt Nam đã vươn lên hàng trung bình trong khu vực,
vượt Philippines, chỉ còn sau 4 nước du lịch phát triển hàng đầu là Thái Lan,
Singapore, Malaysia và Indonesia. Du khách đến Việt Nam từ hơn 60 quốc gia và
vùng lãnh thổ.
Nhằm nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến, thu hút nhiều hơn nữa du khách đến
Việt Nam, ngành du lịch đã chú trọng công tác xúc tiến du lịch, mang tính chuyên
nghiệp. Từ năm 2003, du lịch Việt Nam thường xuyên tổ chức sự kiện Năm du lịch
quốc gia, mỗi năm một chủ đề nhằm khơi dậy và phát huy tiềm năng du lịch của từng
vùng miền để thu hút khách.
Bên cạnh những thành tựu và cơ hội phát triển, du lịch Việt Nam còn bộc lộ
những yếu kém và khó khăn cần khắc phục. Trong khi thị phần khách đến Việt Nam
bằng đường không chiếm tới 70% nhưng Việt Nam hiện chỉ là điểm đến cuối, chưa

Nam”.
Sau đây là 4 giải pháp quảng bá du lịch
Để hoạt động marketing mang tính hiệu quả cao, du lịch Việt Nam cần thực
hiện đồng bộ 4 giải pháp cơ bản.
Thứ nhất là quảng bá du lịch Việt Nam ra thế giới bằng các phương thức
quảng bá và cung cấp thông tin thông qua cấp lãnh đạo và các cơ quan chuyên trách,
thuê công ty PR chuyên nghiệp của nước ngoài quảng bá về du lịch Việt Nam.
Trước mắt, việc thuê một công ty quảng cáo du lịch chuyên nghiệp của nước
ngoài “rao hàng” giúp chúng ta sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, bởi mình quảng cáo
sản phẩm cho người nước ngoài thì cũng cần được nhìn qua con mắt của người nước
ngoài, hơn nữa họ cũng chuyên nghiệp và giỏi hơn ta nhiều trong lĩnh vực này. Việt
Nam cần hoàn thiện khâu cung cấp thông tin du lịch.
Theo đó, một chiến lược quảng bá tổng thể, dài hơi tại các thị trường khách
trọng điểm, thông tin phải được đưa đến cho du khách một cách đầy đủ, thường
xuyên và mọi lúc mọi nơi.
Thứ hai là nhóm giải pháp quảng bá qua các công cụ chính. Quảng bá qua
Website, E-mail nhằm giới thiệu chung về hình ảnh đất nước, con người, những cảnh
quan thiên nhiên, phong tục tập quán, lễ hội, sự kiện văn hóa du lịch nổi tiếng, hấp
dẫn của Việt Nam; kết nối các đoạn chương trình giới thiệu của các doanh nghiệp du
SVTH: Trần Ngọc Hưởng – Lớp B13QTH 19
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
lịch, trình bày bằng nhiều ngôn ngữ và hình ảnh để khách hàng dễ dàng truy cập, nắm
bắt thông tin, liên kết với nhau và với các trang Web nổi tiếng như Google, MSN,
infoseek,... để du khách nước ngoài dễ dàng tìm kiếm.
Thứ ba là giải pháp quảng bá qua các lễ hội, sự kiện có chọn lọc trong và ngoài
nước (các sự kiện thể thao lớn của khu vực, thế giới, các hội nghị của lãnh đạo cấp
cao các nước: ASEM, APEC,...).
Thứ tư là việc xây dựng thương hiệu Việt Nam qua đó tạo điều kiện quảng bá
du lịch. Cần phải nhận thức đúng đắn và nắm bắt cơ hội để xây dựng hình ảnh về đất
nước Việt Nam”

đó, hiệu quả của marketing sẽ được phát huy.
SVTH: Trần Ngọc Hưởng – Lớp B13QTH 21
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA
CÔNG TY DU LỊCH VẬN TẢI VÀ THƯƠNG MẠI ECOVICO
I. Giới thiệu tổng quát về công ty du lịch vận tải và thương mại ECOVICO
1. Quá trình hình thành và phát triển
1.1.Sự hình thành của công ty
Tên công ty: CÔNG TY TNHH DU LỊCH VẬN TẢI & THƯƠNG MẠI ECOVICO
ECOVICO TOURISM TRANSPORT & COMMERCE Co.,Ltd
- Tên giao dịch: ECOVICO Tourist
- Số ĐKKD: 3202004502, do sở KHĐT Đà Nẵng cấp.
- Địa chỉ: 571 Trần Cao Vân, Quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng.
- Điện thoại: 0511 3712 771 - 0511 3712 714
- Fax: 0511 3712 770
- Email:
- Website: ecovico.com
- Mã số thuế: 0400585949
- Người đại diện: Nguyễn Văn Sơn
- Chức vụ: Giám đốc
- Điện thoại di động: 0905204445
- Số tài khoản: 401704060021176 tại ngân hàng quốc tế VIBank chi nhánh tại
thành phố Đà Nẵng.
Được thành lập vào tháng 4/ 2006 nằm trên thành phố Đà Nẵng là một doanh
nghiệp thực hiện các chức năng kinh doanh tổ chức thiết kế tour du lịch trong nước
và quốc tế; tổ chức sự kiện; cho thuê xe du lịch và xe tự lái; mua bán xe ô tô; đại lý
vé máy bay, xe chất lượng cao…
Với xu hướng ngoại nhập ngày càng phát triển nhu cầu thư giãn nghỉ ngơi, tìm
hiểu và khám phá nguồn tài nguyên thiên nhiên trong và ngoài nước để cuộc sống

NV NV NV NV NV NV
2.2. Nhiệm vụ của từng phòng ban
2.2.1. Giám đốc công ty
Là người có thẩm quyền cao nhất trong công ty là người chịu trách nhiệm lãnh
đạo về quản lý mị hoạt động kinh doanh của công ty đảm bảo cho hoạt động của
công ty diễn ra thuận lợi và tăng hiệu quả kinh doanh.
SVTH: Trần Ngọc Hưởng – Lớp B13QTH 23
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phùng Tấn Viết
Giám đốc còn căn cứ vào yêu cầu về chuẩn mực và tiêu chuẩn chất lượng kinh
doanh định ra chế độ quy tắc, điều lệ hoạt động và cơ chế vận hành bộ máy của công
ty nhằm xây dựng cho toàn bộ tập thể các cán bộ nhân viên có ý thức trách nhiệm.
2.2.2. Phòng kinh doanh
Bộ phận này có nhiệm vụ chuyên sâu công tác tìm kiếm mở rộng thị trường
trong nước và quốc tế, xúc tiến và quảng cáo chương trinh du lịch của công ty trên thị
trường trong nước và quốc tế.
2.2.3. Phòng kế toán
Thực hiện theo dõi và hoạch toán, ghi chép sổ sách kế toán, phân tích hiệu
quả kinh doanh của công ty và thực hiện quyết toán tài chính
2.2.4. Phòng điều hành
Chuyên sâu công tác điều hành, thực hiện các dịch vụ đặt phòng đặt vé, hướng
dẫn … đảm bảo chương trình luôn thực hiện tốt, không ngừng nâng cao uy tín và
chất lượng dịch vụ.
3. Các điều kiện tiếp đón khách của công ty
3.1. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Trong nền kinh tế cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay, cơ sở vật chất kỹ thuật
của một công ty sẽ nói lên quy mô hoạt động và khả năng phát triển thị phần của
công ty trên thị trường.
Sau đây là bảng cơ sở vật chất kỹ thuật tại công ty ECOVICO
Loại cơ sở vật chất kỹ thuật Số lượng(ĐVT:cái)
1. xe ô tô 8

nói đây là điểm mạnh của công ty vì lực lượng lao động trẻ và có trình độ sẽ nhanh
chóng tiếp thu những tiến bộ của khoa học công nghệ giúp công ty đạt hiệu quả cao
trong kinh doanh. Đồng thời đội ngũ nhân viên trẻ có trình độ, có đam mê và có hoài
bão sẽ nhanh chóng đưa công ty ngày một phát triển. Tuy nhiên, lực lượng lao động
trẻ này còn thiếu kinh nghiệm vì vậy sẽ gặp nhiều khó khăn khi xử lý các tình huống
phức tạp xảy ra trong quá trình kinh doanh. Vì vậy, ban lãnh đạo công ty cần chú ý
bồi dưỡng để đội ngũ nhân viên ngày càng có nhiều kinh nghiệm.
II. Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty du lịch vận tải và thương mại
ECOVICO
Như một quy luật tất yếu, bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào hoạt
động kinh doanh trên thị trường đều phải xem xét đến doanh thu, chi phí và mức sinh
lời của quá trình kinh doanh đó. Vì có như vậy, doanh nghieeoj mới đánh giá được vị
trí của doanh nghiệp mình trên thị trường để từ đó đưa ra những chiến lược kinh
doanh có hiệu quả hơn.
1. Kết quả hoạt động kinh doanh của của công ty du lịch vận tải và
thương mại ECOVICO
Kết quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ phản ánh toàn bộ quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian nào đó. Thông qua kết quả đó
doanh nghiệp sẽ thấy được tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình
SVTH: Trần Ngọc Hưởng – Lớp B13QTH 25

Trích đoạn Kết quả hoạt động kinhdoanh của của công ty du lịch vận tải và thương mại ECOVICO Môi trường kinh tế. Môi trường chính trị và pháp luật. NẴNG – NHA TRAN G HỒ CHÍ MINH – CẦN THƠ ĐÀ LẠT – BÌNH ĐỊNH – ĐÀ NẴNG. Tour Đà Nẵng – TPHCM – Thái Lan(Bangkok Pattava)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status