LUẬN VĂN:
Đánh giá quá trình CNH, HĐH
ở nước ta
Lời mở đầu
Từ Đại hội Đảng lần thứ III đến nay, Đảng ta luôn luôn xác định CNH là nhiệm
vụ trung tâm của thời kỳ quá độ. Thực hiện nhiệm vụ đó, những năm qua, nhất là
những năm đổi mới, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, tạo ra thế và lực
mới cho phép chuyển sang một thời kỳ phát triển cao hơn, đẩy tới một bước CNH,
HĐH nước nhà. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện CNH những năm trước đây, do
nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân chủ quan nóng vội, chúng ta đã mắc phải
ý
ýl
l
u
u
ậ
ậ
n
nc
c
h
h
u
u
n
n
g
gI-/ Sự cần thiết của CNH - HĐH ở Việt Nam:
Muốn cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, đất nước từng bước
tiến lên CNXH, đi đối với việc củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiên tiến, chúng ta
nhất thiết phải phát triển lực lượng sản xuất với năng suất lao động ngày càng cao. Mà
những nét riêng đối với từng nước, nhưng đó chỉ là sự vận dụng một quá trình có tính
chất phổ biến cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước mà thôi. CNH là quá
trình rộng lớn và phức tạp, bản chất của quá trình này bao hàm trên các mặt sau đây:
Công nghiệp hóa là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện
đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị
trí trọng yếu. Thực hiện CNH-HĐH trong điều kiện cách mạng khoa học -
kỹ thuật ngày nay, quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ cho các
ngành phải gắn liền với quá trình HĐH ở cả phần cững và phần mềm của
công nghệ. Quá trình này cũng đồng thời là quá trình xây dựng xã hội văn
minh công nghiệp và cải biến các ngành kinh tế, các hoạt động theo phong
cách của nền công nghiệp lớn hiện đại. Quá trình ấy phải tác động làm cho
nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội nhanh và ổn định, cải thiện đời sống xã
hội và tinh thần của các tầng lớp dân cư, thu hẹp dần chênh lệch trình độ
kinh tế - xã hội của đất nước với các nước phát triển.
CNH-HĐH xét trên góc độ kinh tế -kỹ thuật: Là cái đích cần vươn tới
trong quá trình CNH-HĐH. Nhưng sự vươn lên về trình độ công nghiệp này
lại bị ràng buộc bởi yêu cầu đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội. Xét toàn
cục, CNH-HĐH chỉ là phương tiện, điều kiện để đạt tới mục tiêu của quá
trình CNH-HĐH mà thôi. Giải quyết quan hệ này có liên quan trực tiếp đến
bước đi của quá trình HĐH theo những điều kiện cụ thể của đất nước. ý
tưởng muốn đi vào công nghệ hiện đại ở tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt
động nhằm nhanh chóng xóa bỏ tình trạng nghèo nàn lạc hậu là ý tưởng
phiêu lưu độ quản lý có hạn và thiếu thôn trầm trọng thêm những vấn đề
kinh tế - xã hội của đất nước. Trong điều kiện nhân lực dồi dào, trình độ quản lý có hạn và sự thiếu thốn trầm
trọng về vốn đầu tư, cần phải dành ưu tiên HĐH các ngành, các lĩnh vực "đầu tàu" mà
sự phát triển các ngành khác góp phần cải thiện vị trí đất nước trong quan hệ kinh tế
quốc tế. Việc kết hợp công nghệ với nhiều trình độ khác nhau trở thành một tất yếu
nhỏ bé sản xuất hàng tiêu dùng đơn giản và khai thác các sản phẩm thô từ tài nguyên
thiên nhiên. Trong quá trình CNH-HĐH công nghiệp luôn được giành ưu tiên phát
triển. Tuy CNH-HĐH không đồng nhất với phát triển công nghiệp, nhưng không thể
CNH-HĐH nếu không phát triển mạnh công nghiệp. Bởi vậy, với vị trí khiêm tốn ban
đầu, công nghiệp dần dần chiếm lĩnh vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế quốc dân của
đất nước.
Các hoạt động dịch vụ sản xuất và dịch vụ đời sống là điều kiện để phát
triển các ngành kinh tế và cải thiện đời sống của dân. Không thể có quá trình công
nghiệp hóa nhanh bằng hệ thống dịch vụ, đặc biệt là hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế
tồi được. Ngay giai đoạn đầu của quá trình CNH-HĐH cần chú ý thỏa đáng cho phát
triển hệ thống kết cấu hạ tầng để phát triển sản xuất và thu hút đầu tư nước ngoài.
Như vậy, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nước trong quá trình CNH-HĐH
sẽ trải qua giai đoạn: từ cơ cấu nông - công nghiệp - dịch vụ chuyển sang cơ cấu công
- nông nghiệp - dịch vụ.
Quá trình công nghiệp hóa trong bất kỳ giai đoạn nào cũng đều là quá
trình kinh tế - kỹ thuật vừa là quá trình kinh tế - xã hội. Việc thực hiện có
kết quả quá trình CNH-HĐH sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kỹ thuật, thấp
kém về kinh tế, đưa đất nước thoát khỏi "vòng luẩn quẩn". Đồng thời, quá
trình công nghiệp hóa cũng gắn liền với quá trình thủ tiêu tình trạng lạc hậu
về xã hội văn minh công nghiệp. Quá trình kinh tế - xã hội có quan hệ ràng
buộc nhau. Quá trình kinh tế kỹ thuật tạo điều kiện vật chất kỹ thuật cho
việc thực hiện các nội dung của quá trình kinh tế - xã hội. Ngược lại, quá
trình kinh tế - xã hội góp phần tạo nên động lực cho thực hiện quá trình
kinh tế - kỹ thuật.
Đối với mỗi nước, CNH-HĐH là quá trình lịch sử lâu dài. Theo nhà kinh tế học
W.Rostow, sư phát triển của mỗi đất nước trải qua 5 giai đoạn: Xã hội truyền thống.
Chuẩn bị tiền đề cho cất cánh; cất cánh; tiến tới sự trưởng thành; Tiêu dùng ở trình độ cao.
Có thể thấy quá trình CNH-HĐH được khởi đầu bằng việc "chuẩn bị tiền đề cho cất của các nước phát triển, nhưng những thành công lại quá ít ỏi. Bối cảnh quốc tế và
thực trạng trong nước cụ thể rất khác nhau, sự sao chép máy móc kinh nghiệm các
nước khác nhau chưa bao giờ đem lại tấm gương thành công nào cả. Vả lại, mọi sự
giúp đỡ đề có giá theo tinh thần có đi có lại.
Việc khai thác các nguồn lực tư nhân, phát huy lợi thế tự nhiên để tham gia vào
quan hệ quốc tế kết hợp với việc bảo tồn và tái tạo các nguồn lực ấy. Mọi sự lạm dụng
"sức mạnh của con người trong chinh phục tự nhiên" theo kiểu bóc lột, hủy hoại tài
nguyên sẽ dẫn con người đến chỗ tàn phá ngay môi trường tồn tại của chính mình.
CNH-HĐH không phải là mục đích tự thân vận động mà là một
phương thức có tính chất phổ biến để thực hiện mục tiêu của mỗi nước. Mỗi
nước đề có hệ thống mục tiêu riêng của mình. Tuy vậy, về hình thức vấn có
thể thấy được tương đồng về hệ thống mục tiêu của các nước. Đó là xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng hiện đại, khai thác có hiệu quả các
nguồn lực đất nước, bảo đảm nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh và ổn
định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp dân cư
Mục tiêu của mỗi nước phụ thuộc vào quan điểm của hệ thống chính trị lãnh đạo.
Phương hướng qui mô và nhịp điệu CNH-HĐH phụ thuộc vào đặc điểm chính trị xã
hội của từng nước. Đó chính là một trong những biểu hiện của quan hệ biện chứng
giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng. Và không thể thực hiện thành công CNH-
HĐH nếu không có hệ thống chính trị - xã hội ổn định và không được đổi mới. Ngược
lại, cũng không thể giữ được ổn định về chính trị - xã hội, chủ quyền của đất nước
không thực hiện có hiệu quả quá trình CNH-HĐH.
Chính vì vậy, chúng ta có thể khái quát rằng cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền sản
xuất lớn hiện đại có thể là nền đại công nghiệp cơ khí hóa cân đối và hiện đại dựa trên
trình độ khoa học công nghệ ngày càng phát triển cao. Cơ sở vật chất - kỹ thuật đó
phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa sản xuất và lao động cao. Để
có được cốt lõi vật chất - kỹ thuật như vậy, tất cả các nước phải tiến hành xây dựng nó.
Nói cách khác, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại và quy
n
n
g
gI-/ Những khó khăn và thuận lợi khi nước ta tiến hành CNH-HĐH.
Có thể chia quá trình CNH ở nước ta trong hơn 30 năm qua thành 2 giai đoạn
lớn: 1960 - 1986 và 1986 đến nay:
1. Giai đoạn 1960-1986:
Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là thực hiện một chiến lược nhất quán được
xác định từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960) và có điều chỉnh, bổ sung chút
ít trong các Đại hội IV (12/1976); V (1981) và các hội nghị Trung ương. Đại hội Đảng
lần thứ III chỉ rõ: "Muốn cải tiến tình trạng nông nghiệp lạc hậu hiện nay của nước ta,
đưa nước ta chế độ sản xuất nhỏ là chủ yếu lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, chúng
ta không có con đường nào khác ngoài con đường công nghiệp hóa XHCN. Vì vậy
CNH XHCN là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở nước ta"(1) và "chủ trương
của Đảng và công nghiệp hóa XHCN ở miền Bắc là: "Xây dựng một nền kinh tế
XHCN cân đối và hiện đại, kết hợp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền
tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp
năng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện
đại và nông nghiệp hiện đại"
(2).
Trong khoảng thời gian ngắn ngủi (1961-1964) CNH ở miền Bắc đã được tiến
hành với nhịp điệu khẩn trương trong điều kiện hòa bình và thu được kết quả đáng ghi
nhận. Năm 1965 so với 1955 vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong công nghiệp tăng 6
lần: Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng 9,2 lần, trong khi đó đầu tư cơ bản cho
nông nghiệp chỉ tăng 1,96 lần và giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng 1,6 lần.
Trong thời kỳ 1961-1965. Tố độ tăng bình quân giá trị tổng sản lượng công
trung sức người, sức của cho giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, miền Bắc
vẫn tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục công nghiệp hóa và đã đạt được thành
tựu: "Cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội được xây dựng một bước. Đã có
những cơ sở đầu tiên của công nghiệp nặng. Năng lực các ngành công nghiệp, giao
thông, xây dựng đều tăng so với trước chiến tranh".
Nếu trong thời kỳ 1961-1965 tốc độ tăng bình quân hàng năm của tài sản cố định
là 15,5% thì trong suốt thời kỳ chiến tranh phá hoại (1966-1970) tốc độ vẫn là 12,2%.
Tài sản cố địnhh 1975 so với năm 1960: trong công nghiệp tăng 4,5 lần, trong nông
nghiệp tăng 6,0 lần. Đến năm 1975 cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch quan trọng, tỷ trọng công
nghiệp trong thu nhập quốc dân được nâng lên 16% (1957); 18,2% (1960); 22,2%
(1965); 26,6% (1971); 24% (1974); 28,7% (1975).
Cơ cấu công nghiệp đã có sự phát triển và chuyển dịch. Những cơ sở đầu tiên của
các ngành công nghiệp nặng quan trọng đã được xây dựng và phát triển như: điện,
than, cơ khí, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng tốc độ phát triển của các ngành
thuộc công nghiệp nhóm A nhanh hơn tốc độ phát triển chung của toàn ngành công
nghiệp. Năm 1975 so với năm 1955 giá trị sản lượng ngành điện lực 22,3 lần, của
ngành cơ khí gấp 59,8 lần và ngành hóa chất gấp 79,1 lần. Trên miền Bắc đã hình
thành nhiều khu công nghiệp tập trung: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Bắc, Việt
Trì, Thái Nguyên, Nam Định, Thanh Hóa, Vinh
Đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật và công nhân kỹ thuật tăng khá nhanh, là vốn
quý, là yếu tố quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa ở thời kỳ này và các thời kỳ
sau. Năm 1975 so với năm 1955, số cán bộ có trình độ đại học và trên đại học tăng hơn
120 lần, cán bộ có trình độ trung học chuyên nghiệp gấp hơn 84 lần: công nhân kỹ
thuật năm 1975 tăng gấp 6 lần năm 1960. Tỷ lệ cán bộ khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ
trong tổng số công nhân viên chức đã tăng từ 2% (1955) đến 3,5% (1960) và 19,5%
(1975). Tỷ lệ công nhân kỹ thuật đã tăng từ 17% năm 1960 lên 53,4% (1975). Riêng
trong công ngheiẹpnăm 1975 đã có trên 8.000 cán bộ đại học. 20.000 cán bộ trung học
động nhất định đến phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa. Bình quân hàng
năm thời kỳ 1981-1985 sản xuất công nghiệp tăng 9,5%; sản xuất nông nghiệp tăng
5,3%; cơ cấu công nghiệp trong thu nhập quốc dân sản xuất vẫn được tăng từ 20,2%
(1980) lên 30% (1985).
2. Giai đoạn từ 1986 đến nay:
Đây là giai đoạn có sự đổi mới toàn diện và đồng bộ cả về nhận thức, quan điểm
và về tổ chức chỉ đạo thực hiện. Đại hội lần thứ VI đã xác định rõ những quan điểm,
chủ trương, phương hướng đổi mới kinh tế - xã hội ở nước ta trong chặng đường đầu
tiên của thời kỳ quá độ lên CNCH. Đại hội chỉ rõ: "Tiếp tục xây dựng những tiền đề
cần thiết cho đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo"(1) và
"trước mắt là trong kế hoạch 5 năm 1986-1990 phải thật sự tập trung sức người, sức
(1) Văn kiện Đại hội V của Đảng
(1)
(2)
Văn kiện Đại hội VI của Đảng của vào thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng
tiêu dùng và hàng xuất khẩu "
(2)
. Thực hiện 3 chương trình mục tiêu thực chất đó
cũng là chuyển hướng chiến lược công nghiệp hóa từ ưu tiên phát triển công nghiệp
năng sang lấy nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu làm trọng
tâm.
Từ những quan điểm và chủ trương đổi mới trên, Đảng và Nhà nước đã cụ thể
hóa bằng cơ chế và thành các chính sách, biện pháp thực hiện, đáng kể nhất đó là:
Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, chính sách kinh tế đối ngoại và thu hút
vốn đầu tư nước ngoài, chính sách tài chính - tiền tệ kiềm chế lạm phát, chuyển cơ chế
giải phóng. Khu vực công nghiệp quốc doanh sau thời gian phải đương đầu với các thử
thách quyết liệt khi chuyển sang cơ chế mới tưởng chứng không vượt qua nổi (năm
1989 giảm 2,5% so với 1988) nhưng đến năm 1990 công nghiệp quốc doanh đã thích
nghi dần với cơ chế mới một số ngành, một số cơ sở chủ yếu là quốc doanh trung ương
đã khôi phục đưọc sản xuất và tiếp tục phát triển. Nếu năm 1976 công nghiệp quốc
doanh chiếm 58,6%; giá trị tổng sản lượng công nghiệp cả nước thì năm 1989 chiếm
57,0%, còn công nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 31,4% (1976); 43% (1989).
Tiếp tục những quan điểm, chủ trương, chính sách đổi mới, đại hội Đảng lần thứ
VII (6/1991) đã xác định rõ mục tiêu, phương hướng nội dung của phát triển kinh tế -
xã hội và của công nghiệp hóa. Đại hội đã chỉ rõ: "Để thực hiện mục tiêu dân giàu
nước mạnh theo con đường XHCN, điều quan trọng nhất là phải cải tiến căn bản tình
trạng kinh tế - xã hội kém phát triển phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa
đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là
nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH.
Không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân"(1)
"Mục tiêu tổng quát của chiến lược đến năm 2005 là: ra khỏi khủng hoảng, ổn định
tình hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển,
cải thiện đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất
nước phát triển nhanh vào đầu thế kỷ 21"(2)
Đại hội VII cũng xác định mục tiêu kinh tế của kế hoạch 5 năm (1991-1995) là:
(1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên CNXH. "Đẩy lùi và kiểm soát được lạm phát, ổn định, phát triển và nâng cao hiệu quả nền sản
xuất xã hội, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân và bắt đầu có tích lũy từ
nội bộ nền kinh tế"(3)
Quá trình đổi mới đã tạo nên những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, thành
tựu CNH trong các năm 1991,1992,1993 cao hơn, có chất lượng hơn, đi vào thực chất
CNH XHCN ở nước ta hơn 30 năm qua còn nhiều tồn tại, nhược điểm. Những tồn tại
chủ yếu là:
Quá trình CNH diễn ra quá chậm
Phân công lao động xã hội phát triển chậm chạp. Cơ cấu kinh tế thiếu năng
động, hiệu quả thấp, chứa đựng nhiều bất hợp lý, nhiều mặt mất cân đối nghiêm trọng.
Chưa kết hợp tốt cơ cấu ngành với cơ cấu thành phần và cơ cấu thành phần và cơ cấu
lãnh thổ trong một trạng thái đồng bộ năng động có hiệu quả để thực hiện tốt nhất mục
tiêu chung của phát triển kinh tế - xã hội.
Trình độ trang bị kỹ thuật công nghệ thấp kém, mất cân đối, đổi mới chậm.
Sự nghiệp CNH phải đương đầu với nhiều khó khăn do sai lầm trước đây để
lại và do thách thức mới đưa tới. Đó là: tỷ lệ thất nghiệp còn cao, đời sống thấp, tỷ lệ
tích lũy và đầu tư thấp, sản xuất kinh doanh đang gặp khó hăn về vốn và thị trường.
II-/ Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu và giải quyết để thực hiện CNH-
HĐH.
1. Phát triển thị trường của CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân.
Thị trường của CNH-HĐH là điều kiện đầu tiên của CNH-HĐH. Thị trường của
CNH-HĐH trước hế là thị trường đầu ra, thị trường đầu ra giúp chúng ta xác định
được nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế cần sản xuất cái gì, sản xuất bao
nhiêu, chất lượng như thế nào, thời gian cung cấp ra sao. Nhu cầu của thị trường đầu
ra sẽ quyết định qui mô, tốc độ và bước đi của CNH-HĐH. Có thể nói thị trường trong
nước và ngoài nước không chỉ là điều kiện đầu tiên, mà còn là điều kiện quyết định, là
một thách thức đối với quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam .
Đối với Việt Nam, muốn phát triển thị trường rộng lớn ở trong nước, nhất là thị
trường nông thôn, trước hết chúng ta cần phải phát triển thị trường ngoài nước. Để
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII phát triển được thị trường ngoài nước chúng ta cần thực hiện các phương hướng cơ
bản sau:
tế mở, hướng mạnh về xuất khẩu, chúng ta phải phát triển thị trường trong nước, thị
trường của hơn 70 triệu dân, trong đó hơn 80% là dân cư nông nghiệp. Phải đảm bảo
cho hàng hoá, dịch vụ trong nước đạt chất lượng cao, giá thành hạ và mẫu mã phù hợp
để cạnh tranh thắng lợi với hàng ngoại nhập vào Việt Nam. Hàng hoá, dịch vụ trong
nước phải đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống cả ở thành thị và nông thôn. Phải phát
triển sản xuất, bảo đảm công ăn việc làm, tăng sức mua của xã hội, của nhân dân.
Chấn chỉnh lưu thông, hàng hoá, phát triển các điểm và trung tâm
thương mại.
Một mặt, chúng ta cần có biện pháp chấn chỉnh lưu thông hàng hoá giữa thành tị
và nông thôn, giữa công nghệ phẩm và nông sản phẩm, bảo đảm cho thị trường thống nhất trong cả nước và phát triển thị trường từng vùng, từng địa phương cho phù hợp
với cung cầu về hàng hoá, dịch vụ của từng địa phương, mặt khác phải phát triển các
điểm và trung tâm thương mại phù hợp với yêu cầu phát triển thị trường trong nước ở
các thành phố, khu công nghiệp tập trung và quá trình đô thị hóa ở nông thôn, trung
du, miền núi, vùng biên giới, vùng ven biển. Tổ chức một số siêu thị ở các thành phố
lớn.
Đẩy mạnh xuất nhập khẩu phải đi đôi với bảo hộ hợp lý sản xuất
trong nước, bảo đảm cho sản xuất trong nước phát triển có hiệu
quả.
Nhưng cần nhấn mạnh rằng việc bảo hộ phải có mức độ, có thời hạn đối với
những ngành, lĩnh vực thật cần thiết trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của cả người
sản xuất và người tiêu dùng, tính đến các thông lệ quốc tế, qui định thương mại quốc
tế và khu vực. Thúc đẩy các cơ sở sản xuất vươn lên cạnh tranh thắng lợi trên thị
trường. Nhà nước cần xác định và công bố rõ chính sách bảo hộ đối với từng mặt hàng
cụ thể trong từng thời gian cụ thể tùy theo nhu cầu thúc đẩy sản xuất trong nước phát
triển.
2. Phát triển nguồn nhân lực cho CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân.
Để thực hiện thành công quá trình CNH-HĐH, ngoài việc xác định rõ CNH-
là công nhân lành nghề, công nhân bậc cao theo yêu cầu CNH-HĐH. Đào tạo lại, nâng
cao trình độ văn hóa, kỹ thuật cho đội ngũ công nhân hiện có.
Phát triển việc đào tạo mới, có chất lượng cao đội ngũ có trình độ trung
học, cao đẳng, đại học, trên đại học đáp ứng cho nền kinh tế quốc dân, cho các lĩnh
vực, cho các cấp, nâng cao trình độ cho cán bộ đội ngũ hiện có để CNH-HĐH.
Tổ chức lại hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục đại học và trung
học chuyên nghiệp theo yêu cầu CNH-HĐH.
Tổ chức lại hệ thống giáo dục phổ thông của cả nước và từng địa phương
theo yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, đảm bảo nguồn đầu vào có chất
lượng, đào tạo nguồn nhân lực cho các trình độ khác nhau.
Tổ chức lại mạng lưới đào tạo nghề trong cả nước, từng ngành, từng địa
phương và cơ sở nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo công nhân, nhất là công nhân lành nghề, công nhân bậc cao.
Tổ chức lại hệ thống, mạng lưới các trường đại học và cao đẳng nhằm tập
trung nguồn lực để đào tạo có chất lượng cao ở bậc cao đảng, đại học và sau đại học.
Đầu tư thỏa đáng để phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp
hóa, HĐH.
Nguồn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực cần có là: Nhà nước đầu tư nguồn
nhân lực đúng mức cho việc phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt là xây dựng đội
ngũ giáo viên có chất lượng, cơ sở vật chất cần thiết, các máy móc thiết bị, đồ dùng
học tập, hệ thống giáo khoa, giáo trình, tài liệu giảng dạy học tập, cấp học bổng cho
học sinh thuộc diện chính sách xã hội và học tốt.
Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư của nước ngoài và các tổ
chức quốc tế để xây dựng đội ngũ giáo viên, xây dựng cơ sở vật chất, phát triển giáo
khoa, giáo trình, tài liệu, kinh nghiệm đào tạo và quản lý giáo dục đào tạo.
Động viên mọi tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế, các tổ chức kinh
tế - xã hội, từng gia đình và từng học viên tham gia sự nghiệp giáo dục, đào tạo theo
yêu cầu công nghiệp hóa, HĐH bằng nhiều hình thức thích hợp.
lũy nội bộ nền kinh tế còn nhỏ bé. Do đó nguồn vốn nước ngoài có ý nghĩa rất quan
trọng. Trong đó có những công trình mà vốn nước ngòai có vai trò quyết định, bởi vì
nó thúc đẩy việc khai thác các nguồn lực, nguồn vốn trong nước và tạo thêm được
nhiều công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động.
Nguồn vốn trong nước phải huy động bao gồm các tài nguyên nhân lực, tài
sản và vốn bằng tiền của Nhà nước và của nhân dân.
Nguồn vốn ngoài nước bao gồm các khoản viện trợ chính thức (ODA), vốn
đầu tư trực tiếp (FDI), các loaị vốn vay và viện trợ khác.
Phải tính toán các phương án đầu tư và sử dụng vốn có hiệu quả, bảo tòan
và phát triển được vốn, đặc biệt nguồn vốn đầu tư tập trung và vốn của khu vực doanh
nghiệp Nhà nước, xây dựng chế độ làm chủ trực tiếp, cụ thể đối với mọi tài sản công,
chống thất thoát, tham ô, hối lộ và lãng phí vốn của công.
b) Định hướng đúng đắn việc đầu và xây dựng môi trường, đầu tư thuận lợi theo hướng chủ yếu là:
Quy hoạch các địa bàn phát triển kinh tế trọng điểm, hình thành những
cụm, khu công nghiệp ở từng vùng, từng địa phương một cách hợp lý, xây dựng ở đó
những cơ sở hạ tầng cần thiết và quy chế hành chính kinh tế thích hợp nhằm thu hút
vốn đầu tư trong và ngoài nước cho phát triển sản xuất kinh doanh , theo mục tiêu dân
giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, đảm bảo an ninh quốc gia.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện môi trường vĩ mô ổn định, thuận lợi cho
việc phát triển đầu tư; Xây dựng chính sách, luật lệ, quy chế rõ ràng, nhất quán để mọi
người yên tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh theo quy hoạch của Nhà nước.
Khắc phục nạn quan liêu, đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong việc xin phép đầu
tư, đăng ký kinh doanh, thuê đất, giải phóng mặt bằng, lắp đặt điện nước, máy móc
thiết bị. Thực hiện tốt Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Luật thu hút vốn đầu tư
nước ngoài.
c) Tiếp tục đổi mới hệ thống ngân hàng, tài chính để phát triển và quản lý
nguồn vốn có hiệu quả theo hướng cơ bản sau:
cho nước ngoài, nhưng cần làm có trọng điểm để rút kinh nghiệm.
4. Phát triển các thành phần kinh tế để đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH nền
kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ quan điểm CNH-HĐH là sự nghiệp của quần chúng nhân dân thuộc
tất cả các thành phần kinh tế khác nhau nên phát triển các thành phần kinh tế để huy
động tối đã nguồn lực của toàn dân vào sự nghiệp CNH-HĐH là một điều kiện cần
thiết quan trọng về tổ chức lực lượng cho sự phát triển. Bởi vì mỗi thành phần kinh tế
Nhà nước, tập thể, tư nhân đều có những thế mạnh riêng, có thể bổ sung cho nhau, cần
phải được khai thác triệt để nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong quá trình CNH-
HĐH. Việc phát triển các thành phần kinh tế để đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH có thể
thực hiện theo phương hướng sau:
Không ngừng phát triển kinh tế Nhà nước, nâng cao hiệu quả kinh tế của
các doanh nghiệp Nhà nước nhằm phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, hỗ trợ và
thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế khác. Các doanh nghiệp Nhà nước
phải phát huy vai trò trung tâm công nghiệp, dịch vụ, trung tâm khoa học - kỹ thuật,
trung tâm văn hóa trên cùng địa bàn. Các doanh nghiệp Nhà nước trong nông, lâm,