LUẬN VĂN:
Bộ xây dựng và viện kinh tế xây dựng
Phần mở đầu: Giới thiệu chung
Xây dựng là một ngành kinh tế lớn của nền kinh tế quốc dân, nó đóng vai trò chủ chốt
ở khâu cuối cùng của quá trình sáng tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản cố định
cho mọi lĩnh vực hoạt động của đất nước và xã hội dưới mọi hình thức. Trong công
cuộc đổi mới xây dựng đất nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội càng đòi hỏi phải
có một tổ chức quản lý lĩnh vực xây dựng chặt chẽ hơn. Vì vậy chính phủ đã ra nghị
định 15/CP ngày 4 tháng 3 năm 1994 quy định về chức năng nhiệm vụ quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng cho phù hợp với thời kỳ mới.
+ Quản lý về việc cấp phép hành nghề xây dựng và sản xuất vật liệu xxây dựng theo
quy định của chính phủ.
+ Chỉ đạo, kiểm tra việc sử dụng đất xây dựng trong quy hoạch đã được duyệt theo
đúng luật đất đai quy định.
2/ Cơ cấu tổ chức của Bộ xây dựng :
Về cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng gồm có 2 nhóm thành phần chủ yếu được phân
chia như sau:
1. Các cơ quan giúp việc Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước gồm
có:
- Cục quản lý nhà
- Cục giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng.
- Vụ quản lý kiến trúc, quy hoạch xây dựng đô thị-nông thôn và công trình công
cộng gọi tắt là Vụ quản lý kiến trúc và quy hoạch.
- Vụ quản lý vật liệu xây dựng.
- Vụ chính sách xây dựng.
- Vụ tổ chức lao động
- Thanh tra xây dựng
- Vụ kế hoạch- thống kê
- Vụ tài chính kế toán
- Vụ hợp tác quốc tế
- Vụ khoa học- công nghệ
- Văn phòng Bộ
2. Các tố chức sự nghiệp trực thuộc Bộ gồm :
- Viên quy hoạch đô thị- nông thôn
- Viện khoa học kỹ thuật xây dựng
- Viện tiêu chuẩn hoá xây dựng
- Viện kinh tế xây dựng
- Viện vật liệu xây dựng
đầu tư và xây dựng đến toàn bộ hệ thống định mức hao phí vất chất, định mức tỷ lệ cấu
thành chi phí các dự án đầu tư đều được trình ký để ban hành áp dụng.
Hệ thống trang thiết bị của Viện chủ yếu là những thiết bị văn phòng, trong đó
thiết bị chủ đạo phục vụ công tác chuyên môn là các thiết bị tin học với những phần
mềm ứng dụng được chuyên môn hoá cao. Trong những năm gần đây được sự quan
tâm của Bộ, Viện đã được đầu tư thêm nhiều máy vi tính và Viện đã tự mua sắm bằng
nguồn dịch vụ tư vấn. Hiện nay trong toàn Viện có trên 50 máy vi tính được đầu tư đã
phục vụ cho công tác nghiên cứu và tham gia phục vụ công tác quản lý. Tuy vậy do
hiện nay thực trạng trang thiết bị còn thiếu nên Viện Kinh tế xây dựng vẫn còn gặp rất
nhiều khó khăn trong việc thực hiện chuyên môn hoá sâu của các cán bộ nghiên cứu
viên.
Với biên chế tổ chức và trang thiết bị hiện có, Viện Kinh tế xây dựng là cơ quan
nghiên cứu khoa học và tham gia phục vụ quản lý Nhà nước về kinh tế trong đầu tư và
xây dựng. Viện đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao trên cả 2 lĩnh vực góp phần
vào tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên với trình độ của khoa
học công nghệ ngày một tiên tiến, nhiều chủng loại vật liệu mới ra đời, nhiều biện
pháp tổ chức thi công hiện đại cần được cập nhập thường xuyên để có những đối sách
phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ. Với yêu cầu như vậy, Viện vẫn còn
nhiều điểm bất cập chưa đáp ứng kịp thời với yêu cầu của thực tiễn đang diễn ra nhanh
chóng.
Trong bối cảnh chung của đất nước còn đang trong quá trình phát triển, Viện đang
cố gắng phấn đấu từng bước để đến năm 2005 đạt trình độ ngang tầm về kinh tế xây
dựng của các nước tiên tiến trong khu vực.
1/ Chức năng, nhiệm vụ của Viện Kinh tế xây dựng:
Theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về “Quyđịnh chức năng, nhiệm vụ và
cơ cấu tổ chức của Viện Kinh tế xây dựng” (QĐ số 99/QĐ-BXD ngày 23/01/1999):
Viện Kinh tế xây dựng là đơn vị sự nghiệp khoa học có thu trực thuộc Bộ Xây dựng,
giá thanh toán, thẩm tra phần xây lắp trong quyết toán đầu tư, quản lý dự án, lập hoặc
đánh giá hồ sơ thầu, đánh giá tài sản của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, theo công văn 897/BXD-TCLĐ, Viện đề ra những nhiệm vụ chủ yếu
thực hiện trong năm 2001 như sau:
+ Theo dõi, nắm tình hình, tổng kết rút kinh nghiệm từ thực tế vận dụng các chế độ,
chính sách bằng các văn bản pháp luật ở các ngành, địa phương, các tổ chức kinh tế,
các cấp quản lý về quản lý đầu tư và xây dựng nhằm phát hiện những vấn đề cần sửa
đổi, bổ sung và nghiên cứu đề xuất những giải pháp xử lý để trình cấp có thẩm quyền
quyết định.
+ Dựa trên thành tựu khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước đã được áp dụng công
nghệ mới trong xây dựng để nghiên cứu xây dựng hệ thống định mức, chỉ tiêu kinh tế
kỹ thuật (bao gồm cả định mức chi phí) mang tính đa ngành, chuyên ngành có liên
quan đến đầu tư XDCB áp dụng trên phạm vi cả nước.
+ Nghiên cứu ứng dụng rộng rãi công nghệ tin học vào việc tính toán: các loại chí
phí, giá cả,yếu tố đầu vào, nhiên liệu, máy mó thiết bị, nhân công phục vụ việc lập và
quản lý chi phí trong các khâu thuộc quá trình đầu tư và xây dựng; Các loại đơn giá;
Dự toán tổng hợp, dự toán chi tiết, giá cả máy, vật liệu và nhân công, tiền lương
+ Tiếp tục tổ chức nghiên cứu khoa học các đề tài, các chuyên đề cần thiết phục vụ
quản lý đầu tư và xây dựng; Đồng thời nghiên cứu áp dụng những kết quả đó vào việc
soạn thảo những văn bản quản lý, đảm bảo nội dung cũng như hình thức văn bản
QPPL phù hợp đối với từng ngành, từng lĩnh vực, và có tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả
nhằm thúc đẩy, phát triển mọi hoạt động kinh tế đầu tư xây dựng.
+ Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan (Vụ TC-LĐTL, Vụ KH-TK và Ban
đổi mới DNNN Trung ương ) triển khai thực hiện đổi mới và phát triển doanh nghiệp
của Bộ: Nghiên cứu thí điểm mô hình tổ chức ‘’Công ty mẹ- công ty con’’ để Bộ trình
chính phủ cho phép áp dụng trong giai đoạn 2001-2005; Thí điểm khoán kinh doanh ở
Công ty gốm xây dựngĐông Triều; Xây dựng đề án tổng thể sắp xếp doanh nghiệp
thuộc bộ đến năm 2005
- Phòng Cơ chế, chính sách.
- Phân viện Kinh tế xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Trung tâm tư vấn Kinh tế xây dựng.
b) Các đơn vị phục vụ quản lý:
- Phòng Tổng hợp và thông tin.
- Phòng Hành chính- kế toán- nhân sự.
- Các phòng có trưỏng phòng và phó trưởng phòng; Phân viện có Phân viện trưởng và
Phân viện phó; Trung tâm có Giám đốc trung tâm và Phó giám đốc trung tâm.
Với cơ cấu tổ chức như vậy, Viện hoạt động với vị trí vừa là một trung tâm đầu
ngành vừa như một cơ sở của hệ thống các cơ quan nghiên cứu quản lý kinh tế quốc
gia. Mọi hoạt động khoa học của Viện đều cần được kết hợp các mặt; chỉ đạo và hợp
tác giữa các cơ quan chức năng, giữa các cấp, ngành, địa phương và các bộ môn kinh
tế, kỹ thuật có liên quan.
Phương thức hoạt động và nguồn tài chính của Viện:
- Viện hoạt động theo phương thức: sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khoa học, có con
dấu và tài khoản riêng để giao dịch độc lập trong cả nước.
- Quỹ tài chính của Viện được hình thành từ các nguồn: Kinh phí sự nghiệp do Bộ
phân phối từ nguồn ngân sách Nhà nước cấp, kinh phí nghiên cứu khoa học do Bộ
phân phối hoặc điều chuyển trực tiếp cho các đề tài nghiên cưú của Viện, Kinh phí
hoạt động dịch vụ thu từ các đơn vị đặt hàng.
Viện còn hoạt động dựa trên một số mặt công tác rất rộng như:
-Trong công tác quản lý kinh tế:
Đối với những vấn đề kinh tế thuộc chức năng thống nhất quản lý Nhà nước của
Bộ, Viện chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng và các bộ môn nghiệp vụ có
liên quan trong và ngoài Bộ để giúp Bộ trưởng quyết định.
Đối với những vấn đề kinh tế về quy hoạch, khảo sát, thiết kế, xây lắp, cung
ứng vật tư cho xây dựng, quản lý nhà và công trình đô thị cần phải giải quyết nhằm
(là đơn vị đã có quá trình tích luỹ trong lĩnh vực này) có phần hạn chế mà lẽ ra còn
được đóng góp nhiều hơn, chất lượng hơn đối với việc nghiên cứu soạn thảo cơ chế,
chính sách của Bộ.
Tuy gặp phải một số khó khăn như đã nêu ở trên, được sư quan tâm chỉ đạo của
lãnh đạo Bộ cùnh với sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể các cán bộ công chức trong cơ
quan, Viện kinh tế xây dựng đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ chủ yếu của năm.
1. Viện đã thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học:
Là một cơ quan nghiên cứu ứng dụng khoa học kinh tế để phục vụ và tham gia
công tác quản lí kinh tế trong đầu tư và xây dựng, trong năm 1999, ngoài việc triển
khai thực hiện các chức năm nghiên cứu thường xuyên nhằm đáp ứng kịp thời các yêu
cầu của công tác quản lí do Bộ giao, Viện đã tiến hành nghiên cứu một số vấn đề quan
trọng theo các khoa học công nghiệp cấp Bộ. Các đề tài này đã bám sát yêu cầu của
thực tế, những đòi hỏi bức xúc trong việc xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn phục vụ
công tác quản lí ngành, đặc biệt là một số vấn đề được quan tâm như: Phương thức
quản lí chi phí trong đầu tư và xây dựng theo hướng hội nhập với các nước ASEAN và
khu vực châu á - Thái Bình Dương; Cơ chế, chính sách kinh tế đối với công tác vệ
sinh, môi trường đô thị.
Năm 1999 là năm có nhiều chuyển đổi quan trọng trong cơ chế quản lí kinh tế,
một số chính sách về quản lí giá cả trong xây dựng cũng cần được bổ sung, sửa đổi cho
phù hợp thực tiễn đang diễn ra. Từ thực tế đó, Viện đã triệt để ứng dụng ngay kết quả
nghiên cứu đã được thực hiện trong thời gian qua trong việc soạn thảo các văn bản quy
phạm pháp luật phục vụ cho công tác quản lí của Bộ Xây Dựng.
Đã nghiên cứu soạn thảo và trình Bộ ban hành Thông tư hướng đẫn việc lập và
quản lí chi phí xây dựng công trình thuộc các dự án đầu tư số: 08/1999/TT - BXD ngày
16/11/1999 (thay thế Thông tư số: 23/BXD - VKT ngày 15/12/1995 của BXD).
Nghiên cứu soạn thảo Định mức chi phí thiết kế các công trình xây dựng (Thay
thế Quyết định số: 179/BXD - VKT ngày 17/7/1996 của Bộ trưởng và các tổ chức tư
vấn, đến nay Bộ trưởng Bộ Xây Dựng đã kí ban hành tại Quyết định số: 01/2000/QĐ -
BXD ngày 03/01/2000.
thảo và rà soát với các chuyên gia của văn phòng Chính phủ và các Bộ, ngành (từ
tháng 10/1997 đến tháng 7/1999), đến nay Quy chế Quản lí đầu tư và xây dựng đã
được Chính phủ ban hành theo nghị định số: 52/1999/NĐ - CP ngày 08/07/1999 (Thay
thế cho Điều lệ Quản lí đầu tư và xây dựng 42/CP và 92/CP).
Tham gia trong tiểu ban soạn thảo sửa đổi Quy chế đấu thầu 43/CP và 93/CP,
Viện Kinh tế xây dựng đã cùng các đơn vị có liên quan tham gia tích cực với Bộ Kế
hoạchvà đầu tư, Bộ Thương mại , Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính để hoàn thành công tác
này. Đến nay, Quy chế Đấu thầu mới đã được chính phủ ban hành theo nghị định số:
88/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999; Hiện nay Viện đang soạn thảo Quyết định trình Thủ
tướng Chính phủ về ưu đãi các nhà thầu trong nước khi tham gia đấu thầu quốc tế các
dư án đầu tư tại Việt Nam đã gửi lấy ý kiến các đơn vị và đang dược hoàn thiện dự
thảo để Bộ trình thủ tướng Chính phủ ban hành.
Nghiên cứu soạn thảo trình bộ ban hành Thông tư hướng dẫn dự toán công trình
xây dựng cơ bản theo luật thuế GTGT và thuế Thu nhập doanh nghiệp số: 01/1999/ TT
- BXD ngày 16/1/1999.
Chỉ đạo và hướng dẫn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong cả nước
xây dựng và ban hành 61 bộ đơn giá xây dựng cơ bản làm căn cứ lập và thẩm định đơn
giá, dự toán các công trình, các dự án đầu tư trên địa bàn. Trình Bộ ra văn bản hoả
thuận để các thành phố: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần
Thơ ban hành Bộ Đơn giá xây dựng cơ bản áp dụng trên phạm vi của 5 thành phố loại
I.
Chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ các Ban quản lí dự án các công trình đặc biệt:
Thuỷ điện Ialy, thuỷ điện sông Hinh lập đơn giá riêng do đặc trưng yêu cầu kỹ thuật
công trình.
Nghiên cứu soạn thảo trình Bộ ban hành "thông tư hướng dẫn quy đổi vốn đầu tư
đã thực hiện của công trình xây dựng thuộc các dự án đầu tư về thời điểm bàn giao
công trình đưa vào khai thác sử dụng" theo phân công hướng dẫn của Nghị định số:
52/1999/NĐ - CP. Đến nay, dự thảo đang được hoàn thành ở cấp Viện, trong thời gian
tới sẽ tổ chức báo cáo Bộ để có thể ban hành áp dụng từ năm 2000.
trạng năng lực của các doanh nghiệp ngành Xây dựng.
5. Tổ chức cho chi đoàn thanh niên CS HCM của Viện thực hiện 3 đề tài khoa
học cấp Viện bằng nguồn kinh phí tự có nhằm đào tạo và bồi dưỡng số cán bộ trẻ mới
về công tác tại Viện có điều kiện làm quen với công tác nghiên cứu khoa học đồng thời
cũng có điều kiện để nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn, ngoại ngữ cho chi doàn
thanh niên Đó là các đề tài:
- Nghiên cứu phương pháp luận và hoàn thiện việc xây dựng định mức dự
toán công tác vệ sinh môi trường đô thị phục vụ quản lí đô thị.
- ứng dụng tin học trong quản lí giá vật liệu xây dựng.
- Nghiên cứu phương pháp luận và quản lí giá công trình xây dựng theo
hệ tư vấn Anh ở các nước.
6. Trên lĩnh vực hợp tác quốc tế, Viện đã có mối quan hệ truyền thống với các
hãng tư vấn lớn như: DA VIS LANGDON &SEAH, RAWLINSONS và một số cơ
quan nghiên cứu kinh tế thuộc ngành Xây dựng của Trung Quốc để tăng cường hợp tác
và sưu tầm tài liệu phục phụ cho tiến trình hội nhập của đất nước nói chung và ngành
Xây dựng nói rieeng phù hợp với quốc tế và khu vực.
7. Thường xuyên tạo điều kiện để các cán bộ, nghiên cứu viên trong Viện được
học tập nâng cao trình độ: ngoại ngữ, tin học Ngoài ra, Viện còn khuyến khích, động
viên và cử các cán bộ đi đào tạo trình độ Thạc sĩ kinh tế và Tiến sĩ kinh tế ở trong và
ngoài nước.
8. Các mặt công tác khác:
Một nhiệm vụ quan trọng của Viện là tham gia phục vụ công tác quản lí Nhà
nước của Bộ và Chính phủ. Bởi vậy, mỗi cán bộ, công chức trong Viện phải tham gia
đầy đủ các đợt sinh hoạt chính trị, học tập các Nghị quyết của ban chấp hành trung
ương Đảng và Nhà nước vận dụng trong công tác chuyên môn của mình.
Các tổ chức đoàn thể trong viện: Công đoàn, Chi đoàn TNCS HCM, Phụ nũ
thường xuyên phối hợp chặt chẽ trong việc hưởng ứng tham gia các hoạt động do Bộ
phát động: Cuộc thi tìm hiểu về Công đoàn Việt Nam, các cuộc thi đấu bóng bàn, bóng
đá ; Tổ chức vận động đoàn thể ván bộ, Công chức trong đơn vị tham gia ủng hộ
2- Nghiên cứu trình Bộ Xây dựng thoả thuận với Bộ Văn hoá- Thông tin về “Quy
chế quản lý xây dựng tượng đài, tranh hoành tráng” (số 05/2000/QĐ-BVH ngày
24/3/2000)
3- Nghiên cứu trình Bộ ban hành Thông tư hướng dẫn lập và quản lý chi phí khảo
sát (số 04/2000/TT-BXD ngày 5/6/2000)
4- Nghiên cứu trình Bộ ban hành Thông tư hướng dẫn, điều chỉnh dự toán công
trình XDCB (số 02/2000/TT-BXD ngày 19/5/2000)
5- Nghiên cứu trình Bộ ban hành Thông tư hướng dẫn, điều chỉnh dự toán công
trình XDCB theo chế độ lương tối thiểu 144000-180000 (số 02/2000/TT-BXD ngày
19/5/2000)
6- Nghiên cứu trình Bộ ban hành Thông tư hướng dẫn việc lập và quản lý chi phí
xây dựng công trình thuộc các dự án đầu tư (số 09/2000/TT-BXD ngày 17/7/2000-sửa
đổi bổ sung TT 08 theo Nghị định 12/CP)
7- Nghiên cứu trình Bộ ban hành Thông tư hướng dẫn việc lập và quản lý chi phí
khảo sát (số 07/2000/TT-BXD ngày 12/7/2000-sửa, bổ sung TT 02)
8- Nghiên cứu trình Bộ ban hành Thông tư hướng dẫn phương pháp quy đổi vốn
đầu tư của công trình xây dựng hoàn thành được đưa vào sử dụng (số 11/2000/TT-
BXD ngày 25/10/2000)
9- Nghiên cứu trình Bộ ban hành Thông tư hướng dẫn quản lý chi phí đầu tư xây
dựng công trình thuộ chương trình 135/CP (số 12/2000/TT-BXD ngày 25/10/2000) Ngoài các văn bản có quyết định ban hành trên, Các văn bản khác được Viện hoàn
chỉnh để trình cấp thẩm quyền quyết định, đó là:
10. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về ưu đãi các nhà thầu trong nước khi
tham gia đấu thầu quốc tế các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt nam.
11. Thông tư hướng dẫn xác định ranh giới giữa vật tư và thiết bị trong xây dựng.
b) Từng bước thiết lập đồng bộ và toàn diện hệ thống định mức, chỉ tiêu kinh tế kỹ
thuật (gồm cả định mức chi phí):
23/8/2000); Định mức dự toán chế tạo lắp đặt dựng dàn BTCT dự ứng lực kéo trước
Supe T (ngày 6/11/2000); Bổ sung định mức giá ca máy công tác khoan cọc nhồi (số
1898/BXD-VKT ngày 13/10/2000)
Ngoài các chỉ tiêu, định mức KTKT đã ban hành đó, Viện đã hoàn thành dự thảo và
lấy ý kiến tham gia của các ngành, cơ sở để hoàn chỉnh trình Bộ ban hành:
1. Định mức dự toán sửa chữa các công trrình XDCB
2. Định mức dự toán lắp máy 2000 sửa đổi bổ sung
3. Định mức vật tư xây dựng cơ bản sửa đổi bổ sung
4. Định mức chuyên ngành phát thanh và truyền hình
5. Định mức chuyên ngành dự toán hầm lò Bộ công nghiệp
6. Định mức dự toán sửa chữa biệt thự và nhà ở cho người nước ngoài
Đồng thời tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các chỉ tiêu, định mức để có thể ban hành
phục vụ các nhà đầu tư, tư vấn và các nhà thầu:
1. Định mức chuyên ngành công tác vệ sinh môi trường đô thị áp dụng trong cả
nước.
2. Chỉ tiêu xây dựng các công trình các ước ASEAN.
3. Chỉ tiêu xây dựng các công trình có vốn nước ngoài tại Việt nam.
4. Đơn giá thí nghiệm vật liệu và cấu kiện xây dựng.
5. Định mức dự toán công tác nạo vét thoát nước và vệ sinh môi trường TP Hải
Phòng.
6. Định mức dự toán chuyên ngành đường dây 500KV.
7. Định mức dự toán chuyên ngành đô thị TP Vinh .
8. Định mức năng suất máy xây dựng.
9. Hệ thống chỉ tiêu và cơ chế quản lý trong các doanh nghiệp công ích phục vụ
quản lý đô thị.
10. Dự toán chuyên ngành bưu điện.
11. Định mức gia công cấu kiện kim loại giàn cố định trên biển.
c) Thực hiện thẩm tra đơn giá, dự toán, tổng dự toán, các loại chi phí, các dự án đầu tư
- Nghiêncứu hoàn thiện hệ thống giá xây dựng và biên pháp quản lý của nhà nước
đối với giá cả tụi trường xay dựng.
- Nghiên cứu xác lập định mức dự toán lắp đặt máy và thiết bị công nghệ của các
công trình xây dựng.
- Nghiên cứu phương pháp xây dựng định mức năng suất và chi phí máy phù hợp
với cơ chế mới.
2. Triển khai nghiên cứu các đề tài NCKH mới:
- Vai trò quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng.
- Thực trạng sử dụng lao động và các biên pháp giả quyết tình trạng thất nghiệp
trong các doanh nghiệp nhà nước.
- Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đối với các chỉ tiêu kinhtế tài chính
của DAĐT.
- Đánh giá tình hình thực hiện tổng mức đầu tư và xcs lập suất đầu tư XDCB.
- Điều tra, đánh giá thực trạng năng lực các doanh nghiệp nhà nước ngành xây
dựng. e) Đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn quản lý đầu tư và xây dựng nghiệp vụ kinh tế xây
dựng cho các ngành, các địa phương, các cơ sở, trường đào tạo:
Viện thường xuyên tham gia tổ chức tập huấn hướng dẫn bằng nhiều hình thức về
các lĩnh vực: cơ chế chính sách, quản lý đầu tư, xây dựng, phưong pháp lập, quản lý
các loại chi phí, tư vấn, quy hoạch, thiết kế, đơn giá, dự toán, tiên lượng, định mức chỉ
tiêu kinh tế kỹ thuật
Những chủ đề chủ yếu của các lớp tập huấn đã đề cập đến những vấn đề cấp bách,
thiết thực như:
1. Những nội dung cơ bản về kinh tế trong Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng.
2. Những nội dung cơ bản về kinh tế -hợp đồng trong Quy chế đấu thầu.
3. Sự hình thành và quản lý chi phí xây dựng công trìnhthuộc các dự án đầu tư
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt nam.
4. Phương pháp xác định và quản lý chi phí máy thi công.
nghiệm trong nước và thực tế kinh nghiệm ngoài nước nên đã tạo được một chu trình
làm việc hợp lý, một hệ thống nghiên cứu bài bản để hoàn thành nhiều hình thức văn
bản quản lý một cách kịp thời, đồng bộ, có tính hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu
quản lý Nhà nước các cấp và thực tế quản lý, kinh doanh, xây dựng.
Do các vấn đề kinh tế trong quá trình chuyển đổi khá phức tạp, phạm vi nghiên cứu lại
rộng, mới mẻ, có nhiều ý kiến ở góc độ khác nhau nên cần có thời gian nghiên cứu cân
nhắc sâu rộng, có nhiều văn bản dự thảo phải bổ sung, sửa đổi, hoàn chỉnh nhiều lần
mới được cấp có thẩm quyền quyết định. Khi văn bản đã ban hành, Viện xúc tiến ngay
việc theo dõi lắng nghe ý kiến để phụ vụ cho việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung báo cáo
cấp có thẩm quyền cho ban hành xử lý kịp thời.
Ngoài ra, Viện còn tham gia hướng dẫn tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình vận
dụngdo đặc điểm mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi khu vực tạo nên. Vì vậy, Viện luôn là một
địa chỉ tư vấn tin cậy của các ngành, địa phương, cơ sở. 5/ Phương hướng, mục tiêu và chương trình công tác năm 2001 của Viện kinh tế
xây dựng:
Năm 2001- năm mở đầu của thiên niên kỷ mới, năm đầu tiên của thế kỷ mới,
đây là thời kỳ mà mọi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt nam đều
có xu hướng hội nhập vàphải nỗ lực vươn lên theo sự phát triển toàn cầu, nếu không sẽ
bị tụt hậu và không thể tồn tại được do sự phát triển như vũ bão của những thành tưụ
khoa học về mọi lĩnh vực trong những thập niên cuối thế kỷ 20 này.
Đối với nước ta,đây cũng là thời kỳ mà chúng ta đã đạt được những thành tựu
đáng kể về kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện, văn hoá xã hội phát triển Trong
nền kinh tế mới, chúng ta đã từng bước tạo dựng một hệ thống quản lý ngày một hoàn
chỉnh và phù hợp với đặc điểm từng thời kỳ, từng ngành, từng địa phương, từng lĩnh
vực và tạo điều kiện hội nhập, phát triển theo xu thế chung các nước trong khu vực.
Từ những đặc điểm ấy, dựa vào chức năng nhiệm vụ Bộ giao và những kết quả
đạt được những năm trước, Viện đã đề ra phương hướng, mục tiêu và chương trình
công tác chủ yếu năm 2001: