BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp. HCM
PHẠM THỊ LÝ CƠ SỞ KINH TẾ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT
ĐÌNH CƠNG TẠI TP. HCM
Chun ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60.31.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN MINH TUẤN
1.2.
Quan hệ lao động và đình công .................................................................... 12
1.2.1.
Quan hệ lao động: .................................................................................... 12
1.2.2.
Tranh chấp lao động và đình công ........................................................... 15
1.3.
Cơ sở kinh tế của vấn đề đình công trong nền KTTT. ................................. 17
1.3.1.
Bản chất của đình công trong nền KTTT TBCN .................................... 17
1.3.2.
Vấn đề đình công trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam: ..... 20
1.3.3.
Quan hệ giữa tiền lương – giá cả hàng hóa SLĐ và đình công ............... 24
1.3.3.1.
Đ
Đ
Ì
Ì
N
N
H
HC
C
Ô
Ô
N
N
G
GT
T
Ạ
Ạ
I
IT
ÍM
M
I
I
N
N
H
HT
T
H
H
Ờ
Ờ
I
IG
G
I
I
A
A
N
2.2.1.3.
QHLĐ trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN .............................. 33
– 2 –
2.2.2.
Thực trạng đình công tại TP.HCM từ 1990 đến nay: .............................. 34
2.3
Nguyên nhân và bản chất kinh tế của đình công ở TP.HCM: ..................... 39
2.3.1
Chậm điều chỉnh chính sách tiền lương tối thiểu .................................... 39
2.3.2
NSDLĐ vi phạm lợi ích kinh tế hợp pháp của NLĐ ............................... 44
2.3.3
Cung – cầu lao động ................................................................................ 51
2.3.4
Tác động của đình công và kết quả giải quyết đình công tại TP.HCM
thời gian qua. ........................................................................................................ 56
Các giải pháp đảm bảo lợi ích kinh tế hợp pháp của NLĐ. ..................... 70
3.2.2.1.
Về phía doanh nghiệp: ................................................................... 70
3.2.2.2.
Về phía công đoàn: ........................................................................ 74
3.2.3
Củng cố và thực hiện hiệu quả cơ chế ba bên: ........................................ 76
3.2.4
Điều tiết cung - cầu lao động ................................................................... 78
3.3
Một số kiến nghị .......................................................................................... 81
3.3.1
Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về lao động: .................. 81
3.3.2
Tăng cường công tác quản lý và thanh tra Nhà nước về lao động .......... 84
không phải là tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ). Đình công ở TP.HCM là một hiện
tượng xã hội diễn biến phức tạp, đã và đang gây hậu quả xấu cho cả phía NSDLĐ
và NLĐ, đồng thời đe dọa đến sự ổn định kinh tế – chính trị – xã hội, ảnh hưởng
xấu
đến môi trường đầu tư. Vì vậy, đình công đang trở thành vấn đề thời sự nóng
bỏng cần quan tâm giải quyết, chính quyền TP.HCM cũng đã xác định đình công là
vấn đề cần quan tâm nghiên cứu trong chương trình khoa học xã hội nhân văn
(chương trình số 11) năm 2005.
Với mong muốn góp phần giải quyết vấn đề này tôi quyết định chọn đề tài
“Cơ sở kinh tế và những giải pháp gi
ải quyết đình công tại TP.HCM” làm luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế Chính trị của mình. Tôi cho rằng việc nghiên cứu vấn
đề này là một việc làm ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. – 4 –
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn cần đạt được là:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến đình công, QHLĐ, tranh
chấp lao động trong nền KTTT.
Nghiên cứu bản chất và cơ sở kinh tế của đình công trong nền KTTT
Nghiên cứu và phân tích thực trạng đình công ở TP.HCM từ năm 1990 đến
nay. Lý giải các nguyên nhân cơ bản và những
ảnh hưởng của đình công tại TP.
HCM. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp giải quyết đình công.
Để đạt được mục tiêu nên trên, các câu hỏi nghiên cứu cần trả lời:
Đình công có phải là một hiện tượng khách quan trong nền KTTT? Đặc điểm
của đình công là gì? Đình công có tác động tích cực, tiêu cực như thế nào?
Bản chất của đình công gì? Đình công
ở TP.HCM có những đặc điểm gì nổi
liệu liên quan đến vấn đề này để làm rõ nguyên nhân bản chất của đình công, từ đó
có cơ sở để đề xuất những giải pháp giải quyết đ
ình công tại TP.HCM.
5. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Đình công là hiện tượng xã hội nóng bỏng trong thời gian qua cũng như hiện
nay đang được các cơ quan thống tấn báo chí, các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản
lý Nhà nước về lao động, các tổ chức chính trị xã hội quan tâm. Vì vậy, đã có khá
nhiều bài báo đề cập đến những vụ đình công được đăng tải trên các nhật báo, tuần
báo và các tạp chí chuyên ngành.
Bên cạnh đó, đã có mộ
t số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề đình
công, vấn đề tranh chấp lao động (nhất là tranh chấp lao động trong các doanh
nghiệp có vốn ĐTNN) như:
- “Vấn đề đình công của công nhân ở nước ta hiện nay” Luận án tiến sĩ nghiên
cứu sinh Phạm Thị Xuân Hương – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001.
- “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về
quyền của NLĐ trong
doanh nghiệp có vốn ĐTNN ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sỹ của Lê Thị
Anh Đào, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002.
- “Tình hình đình công tại Tp. HCM – Thực trạng và giải pháp” Luận văn Cử
nhân chính trị của Mai Đức Chính, 2001.
- “Đình công tại Tp. HCM – Thực trạng và giải pháp” Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp thành phố do PGS.TS. Phan An làm chủ nhiệm đề tài
đã nghiệm thu giai
đoạn 1....
– 6 –
Đặc biệt, vấn đề đình công và giải quyết đình công đã được Ủy ban các vấn
đề xã hội của Quốc hội, Bộ LĐ – TB & XH, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam
quan tâm sâu sắc và đã tổ chức một số cuộc hội thảo về đình công và giải quyết vấn
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÌNH CÔNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Đình công:
1.1.1. Khái niệm
Văn phòng khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của ILO đưa ra khái niệm:
Đình công (strike) được hiểu là “Một sự tạm ngừng có dự tính trước hoặc không
chịu làm việc của một nhóm công nhân của một doanh nghiệp hoặc một vài doanh
nghiệp để biểu thị sự quyết tâm hoặc
đưa ra các yêu sách về tiền lương, giờ làm
việc hay điều kiện làm việc” [6, 14].
Theo luật QHLĐ của Thái Lan thì “Đình công là việc những NLĐ ngừng
công việc hàng loạt với tính chất tạm thời do có tranh chấp lao động”(điều 5) [6, 15]
Cuốn Bách khoa toàn thư của Cộng Hòa Pháp định nghĩa “Đình công là
ngừng việc có bàn tính, nhằm nhấn mạnh những yêu sách mà NSDLĐ không muốn
làm thỏa mãn”
Điều 172 Bộ luậ
t lao động Việt Nam cũng đưa ra định nghĩa “Đình công là
sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động để giải quyết
tranh chấp lao động tập thể” [12, tr 77).
Hầu như ở quốc gia nào cũng đưa ra khái niệm về đình công và thừa nhận
quyền đình công của NLĐ trong Hiến pháp (như ở Cộng hòa liên bang Đức, Pháp)
hoặ
c trong Bộ luật lao động (Như ở Liên bang Nga, Philippin, Thái Lan…). Tuy có
nhiều khái niệm khác nhau về đình công nhưng nhìn chung có thể nhìn nhận vấn đề
đình công dưới hai góc độ sau:
- Dưới góc độ kinh tế – xã hội, đình công được coi là quyền kinh tế – xã hội
của NLĐ trong nền KTTT, là biện pháp đấu tranh kinh tế được thực hiện bởi những
NLĐ, nhằm gây sức ép để đạt những yêu sách nhất định gắn vớ
i lợi ích kinh tế hoặc
lợi ích nghề nghiệp phát sinh trực tiếp từ QHLĐ như tiền lương, tiền thưởng, thời
NLĐ có quyền tự quyết định tham gia hay không tham gia đình công, tự do ý
trí trong việc đưa ra yêu sách. Nhưng việc thực hiện quyền đình công của NLĐ lại
không thể
thông qua hành vi cá nhân, mà phải thực hiện thông qua hành động đồng
loạt ngừng việc của tập thể lao động. Việc một cá nhân NLĐ ngừng việc nhằm nêu
yêu sách mang tính cá nhân, không được sự ủng hộ của những NLĐ khác không
được coi là biểu hiện của quyền đình công và nằm ngoài phạm vi được phép thực
hiện của quyền đình công. Như vậy, đình công là một loại quyền cho phép NLĐ
– 9 –
được tự do lựa chọn cách xử sự trong khuôn khổ pháp luật, nhưng việc thực hiện
quyền này phải thông qua hành vi mang tính tập thể, là sự tự nguyện ngừng việc của
những NLĐ.
Trên cơ sở những vấn đề nên trên, có thể thấy đặc điểm chung nhất của đình
công đó là biện pháp đấu tranh kinh tế của những NLĐ, được thực hiện bằ
ng cách
ngừng việc tập thể và có tổ chức, nhằm gây sức ép buộc NSDLĐ phải chấp nhận
các yêu sách gắn với quyền và lợi ích của NLĐ.
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của đình công
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về đình công, nhưng nhìn chung tất cả
đều thống nhất ở một số đặc điểm sau của đình công:
¾ Đình công biể
u hiện thông qua sự ngừng việc triệt để của NLĐ và do tập thể
NLĐ tiến hành.
Sự ngừng việc của NLĐ được thể hiện ở nhiều dạng và nhiều mức độ khác
nhau. Nhưng đình công thường được biểu hiện ở sự ngừng việc một cách triệt để
của tập thể NLĐ mà đúng ra họ phải thực hiện công vi
ệc theo HĐLĐ, theo thỏa ước
lao động và theo quy chế của nơi làm việc. Vì vậy, tất cả những sự ngừng việc
không triệt để như nghỉ việc lẻ tẻ, làm việc cầm chừng, lãn công không được xác
xa thải tùy tiện, yêu sách về vệ sinh, an toàn lao động…
Đình công là một quyền cơ bản của giai cấp công nhân và những NLĐ, là
phương ti
ện cuối cùng để họ có thể tự bảo vệ mình khi cần thiết, nhất là trong điều
kiện của nền KTTT. Đối với những nước có nền kinh tế phát triển và ổn định thì
đình công là một vấn đề hết sức quen thuộc và được pháp luật cho phép
1.1.3. Phân loại đình công
¾ Đình công hợp pháp: Cuộc đình công được coi là hợp pháp khi hội đủ
các điều kiệ
n sau đây:
- Thứ nhất: phải phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể và trong phạm vi
QHLĐ, tức là về chủ thể phải là tranh chấp của tập thể lao động trong doanh nghiệp
hoặc trong bộ phận kết cấu của doanh nghiệp. Về nội dung, tranh chấp lao động
phải liên quan đến quyền và lợi ích chung của tập thể lao động trong doanh nghiệp
hoặc trong kết cấu của doanh nghi
ệp và không vượt ra ngoài phạm vi QHLĐ (phạm
vi QHLĐ gồm: tiền lương, thỏa ước lao động tập thể, HĐLĐ, thời giờ làm việc, thời
giờ nghỉ ngơi, BHXH, kỷ luật lao động, những quy định riêng đối với lao động nữ,
trách nhiệm vật chất, vệ sinh lao động, an toàn lao động...)
– 11 –
- Thứ hai: cuộc đình công được tập thể những NLĐ làm việc tại doanh nghiệp
tiến hành trong phạm vi doanh nghiệp (có thể là trong toàn bộ doanh nghiệp hoặc
một bộ phận của doanh nghiệp)
- Thứ ba: tập thể lao động không đồng ý với quyết định của hội đồng trọng tài
lao động cấp tỉnh mà không khởi kiện tòa án giải quyết.
- Thứ
tư: lấy ý kiến NLĐ về đình công theo quy định tại điều 172a, điều 174a
và khoản 1, khoản 3, điều 174b của Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ
ngày 01/07/2007 về kết quả lấy ý kiến của NLĐ và gửi bản yêu cầu đình công. Cụ
hoặc ngừng cuộc đình công trong trường hợp xét thấy đình công có nguy cơ nghiêm
trọng cho nền kinh tế quốc dân, an ninh quốc phòng hoặc an toàn công cộng. Sau đó
giao cho cơ quan Nhà nước có th
ẩm quyền phối hợp với công đoàn cùng giải quyết,
nếu tập thể lao động không nhất trí với việc giải quyết đó thì có quyền yêu cầu tòa
án giải quyết.
¾ Đình công bất hợp pháp: bất kỳ một cuộc đình công nào, nếu thiếu một trong
bảy điều kiện nói trên đều không được pháp luật thừa nhận và là cuộc đình công bất
hợp pháp.
1.2.
Quan hệ lao động và đình công
1.2.1. Quan hệ lao động:
QHLĐ là quan hệ xã hội phát sinh từ quá trình lao động, là tất cả những mối
quan hệ giữa NLĐ với các chủ thể khác dẫn đến việc sử dụng SLĐ. QHLĐ là một
nội dung của quan hệ sản xuất, và tính chất của mỗi loại QHLĐ sẽ tùy thuộc vào
hình thức sở hữu gắn với nó. Loài người đ
ã trải qua hai hình thức sở hữu chính về
tư liệu sản xuất là tư hữu và công hữu. Tư hữu gồm tư hữu nô lệ, tư hữu phong kiến
và tư hữu TBCN; còn công hữu thì có công hữu XHCN. QHLĐ được xác định
tương ứng với các chế độ sở hữu trên là: quan hệ giữa chủ nô – nô lệ, chủ đất –
người nông dân, giữa chủ tư bản – lao động làm thuê, chủ qu
ản lý điều hành – NLĐ
và mỗi mối quan hệ có vai trò quan trọng nhất định trong tiến trình phát triển của xã
hội.
QHLĐ vừa phổ biến, vừa đặc thù, chịu ảnh hưởng bởi yếu tố khách quan và
chủ quan. Yếu tố khách quan là tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Lực lượng lao động có chất lượng sẽ là điều kiện cần thiết
để thiết lập và củng
cố QHLĐ. Yếu tố chủ quan là sự nhận thức và hành vi của các chủ thể tham gia
QHLĐ.
¾ Thương lượng và thỏa ước lao
động tập thể
Thương lượng tập thể được tiến hành để cải thiện những tiêu chuẩn làm việc
tối thiểu khi cần thiết. Thương lượng tập thể cũng là cơ hội để NSDLĐ và NLĐ
hiểu nhau hơn và quan hệ giữa họ, ở một số khía cạnh nhất định, được điều chỉnh
theo chiều hướng tốt đẹp hơ
n.
– 14 –
Đích cuối cùng của thương lượng tập thể là một văn bản gọi là thỏa ước lao
động tập thể. Cũng như HĐLĐ cá nhân, thỏa ước lao động tập thể là một văn kiện
sống chi phối các mối QHLĐ hàng ngày. Thỏa ước lao động tập thể là sự thỏa thuận
giữa tập thể NLĐ với NSDLĐ theo nguyên tắc tự nguyệ
n, bình đẳng và công khai.
Nó không được trái với luật lao động, nhưng cần tránh hình thức, tránh trường hợp
trích sao y luật lao động. Nhà nước khuyến khích việc ký kết thỏa ước lao động tập
thể với những quy định có lợi cho NLĐ so với quy định của pháp luật lao động.
Quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia QHLĐ:
¾ NSDLĐ có quyền đưa ra các điều kiện tuyển chọ
n đội ngũ lao động với số
lượng và năng lực cần thiết phù hợp với yêu cầu của mình hay theo nhu cầu của
công việc; có quyền bố trí, điều hành, kiểm tra lao động theo yêu cầu sản xuất kinh
doanh; có quyền khen thưởng, kỷ luật và chấm dứt HĐLĐ theo đúng quy định của
luật pháp; có quyền thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể; có quyền yêu
cầu cơ quan nhà nước chức năng giải quyết tranh chấp lao động
NSDLĐ có nghĩa vụ thực hiện đúng HĐLĐ, thỏa ước lao động tập thể; tôn
trọng danh dự, nhân phẩm của NLĐ, cải thiện điều kiện môi trường lao động, cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần cho NLĐ, cộng tác với công đoàn để giải quyết
các v
ấn đề về QHLĐ.
như của doanh nghiệp. Khi lợi ích của NLĐ không được đảm bảo, đời sống của họ
không được cải thiện thì họ sẽ thực thi quyền sở hữu SLĐ của họ bằng cách tìm
kiếm mối QHLĐ khác.
1.2.2. Tranh chấp lao động và đình công
Tranh chấp lao động: là những biểu hiện vi phạm thỏa thuận về quyền và lợi
ích của các bên liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao
động khác trong quá trình thực hiện HĐLĐ, thỏa ước lao độ
ng tập thể. Như vậy,
tranh chấp lao động không phải là một nội dung của QHLĐ mà là một vấn đề nảy
sinh do vi phạm các nội dung QHLĐ, trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi
ích của bên này hoặc bên kia dẫn đến bất đồng, mâu thuẫn, xung đột xảy ra.
Trong nền KTTT, QHLĐ ngày càng phức tạp, sống động và đa dạng. Bên
nào tham gia QHLĐ cũng muốn thu được lợi ích tố
i đa, nên những bất đồng giữa họ
là không thể tránh khỏi: lợi ích của bên này lại thường là thiệt hại của bên kia,
quyền của bên này lại là nghĩa vụ của bên kia. Trong những bất đồng phát sinh từ
trong QHLĐ, có những bất đồng người ta có thể thương lượng với nhau, nhưng
cũng có những bất đồng không thể dung hòa, không thể thỏa thuận bằng thương
– 16 –
lượng. Trong những trường hợp như thế, tranh chấp lao động nảy sinh, các bên
tham gia QHLĐ có thể mời bên thứ ba làm trung gian giải quyết và cũng có thể
thông qua cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Nếu căn cứ vào quy mô và mức độ tham gia của các chủ thể QHLĐ, tranh
chấp lao động chia làm hai loại: tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động
tập thể tập thể
Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp xả
y ra giữa cá nhân NLĐ và
NSDLĐ.
tập thể đó không được giả
i quyết có kết quả thì đình công là một trong những giải
pháp đấu tranh bằng cách gây sức ép về kinh tế nhằm thúc đẩy quá trình giải quyết
tranh chấp lao động nhanh hơn, theo hướng có lợi cho tập thể lao động.
1.3. Cơ sở kinh tế của vấn đề đình công trong nền KTTT.
1.3.1. Bản chất của đình công trong nền KTTT TBCN
CNTB ngay từ khi mới ra đời đã là một phương thức sản xuấ
t tiên tiến, tiến
bộ hơn nhiều lần so với xã hội phong kiến. Cùng với sự ra đời của CNTB, nền sản
xuất xã hội cũng chuyển từ nền sản xuất hàng hóa giản đơn sang nền KTTT. Trong
phương thức sản xuất đó, NLĐ được tự do hoàn toàn về thân thể, được chọn nghề,
chọn nơi làm việc, chọn nơi cư trú... còn người chủ sản xu
ất kinh doanh cũng được
quyền tự do kinh doanh, tự do lập xưởng, tự do mua bán SLĐ để sản xuất. Nền
KTTT TBCN đã tạo ra những tiền đề thúc đẩy sản xuất phát triển bởi thông qua thị
trường nhà tư bản dễ dàng tìm được yếu tố đầu vào “SLĐ” để kết hợp với các yếu
tố đầu vào khác (tư liệu lao động và đối tượng lao động) nhằm đạ
t được lợi nhuận
tối đa, còn NLĐ cũng dễ dàng tìm được nơi bán SLĐ để có thu nhập đảm bảo đời
sống.
Nhưng chủ nghĩa Mác – Lênin cũng bóc trần mặt đối lập bản chất bóc lột nô
dịch của QHLĐ làm thuê dưới CNTB. Trong CNTB, tư liệu sản xuất nằm trong tay
một thiểu số địa chủ và nhà tư bản, còn đại bộ phận nhân dân lao độ
ng thì không có
gì hoặc hầu như không có gì ngoài SLĐ của bản thân mình. NLĐ trong CNTB, một
mặt được tự do về thân thể, nhưng lại bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất. Do đó, để
nuôi sống bản thân và gia đình mình, NLĐ buộc lòng phải bán SLĐ của mình cho
nhà tư bản.
SLĐ là một hàng hóa đặc biệt, đặc biệt ở chỗ một khi lao động đạt đế
n trình
sức đòi cho được tiền công hết sức cao để cung cấp cho toàn thể gia đình mình thức
ăn ngon lành và dồi dào, để
được ở trong một gian nhà tử tế.... Vì thế, giữa chủ và
công nhân diễn ra một cuộc đấu tranh không ngừng về vấn đề tiền công. Chủ có
quyền tự do muốn thuê ai tùy thích, và vì thế họ tìm người công nhân nào thuê được
rẻ nhất. Người công nhân có quyền tự do làm thuê cho người chủ do mình lựa chọn,
– 19 –
và anh ta tìm người chủ nào trả công cao nhất, người chủ nào trả nhiều hơn” [39,
366].
Chính sự khác biệt về lợi ích của NLĐ và NSDLĐ làm cho QHLĐ trở nên
nhạy cảm dễ dẫn đến xung đột khi lợi ích của mỗi bên bị vi phạm. Những va chạm
này nếu không được giải quyết thỏa đáng dẫn đến bất đồng, mâu thuẫn, tranh chấp,
xung đột lao động mà đỉnh cao là đ
ình công.
Trong giai đoạn đầu của phương thức sản xuất TBCN, quan hệ chủ thợ đầy
máu và nước mắt, giai cấp công nhân – những NLĐ làm thuê – luôn ở thế yếu, thế
thua thiệt nên họ tìm cách phá hoại ngầm bằng cách phá máy móc, đốt nhà xưởng
(thời kỳ này đình công bị cấm). Nhưng về sau, giai cấp công nhân đã biết liên kết
lại với nhau hình thành nghiệp đoàn. Nghiệp đoàn được thành lập tr
ở thành lực
lượng đại diện và đấu tranh cho công nhân lao động. Một khi những yêu sách của
công nhân không được giải quyết thì nghiệp đoàn có thể lãnh đạo công nhân đình
công. Đình công lúc này trở thành vũ khí lợi hại của giai cấp công nhân “thấy rằng
nếu hoạt động riêng rẽ thì mỗi người trong bọn họ sẽ hoàn toàn bất lực và có cơ bị
tiêu vong dưới ách của tư bản, cho nên công nhân đi đến chỗ nhất trí cùng nhau
đứng lên chống lại bọn chủ. Những cuộc bãi công của công nhân nổ ra” [39, 367].
Như vậy, có thể nói đình công là một hiện tượng QHLĐ tự nhiên trong nền
KTTT TBCN, không có một nước tư bản nào lại không có đình công xảy ra. Bởi vì,
quá trình hình thành và phát triển của CNTB luôn gắn liền với chế độ sở hữu tư
Trước đây ở nước ta, cũng như các nước XHCN khác đã có nhận thức không
đúng về nền KTTT và CNXH vì cho rằng chúng đối lậ
p nhau, không thể cùng tồn
tại, cùng phát triển được, KTTT là sản phẩm của CNTB. Với nhận thức nền kinh tế
dựa trên chế độ công hữu XHCN đơn nhất tồn tại hai hình thức sở hữu toàn dân và
tập thể, nền kinh tế tất yếu chỉ có ba loại lợi ích kinh tế: lợi ích kinh tế toàn dân, lợi
ích kinh tế tập thể và lợi ích cá nhân NLĐ đang làm việc trong các xí nghiệp quốc
doanh và tập thể
. QHLĐ trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung được xác lập,
điều chỉnh chủ yếu bằng biện pháp hành chính. NLĐ trong khu vực kinh tế Nhà
nước không phải là người làm thuê mà là người chủ, họ không bán SLĐ mà là lao
động cho mình và cho xã hội. Việc làm đồng nghĩa với biên chế nhà nước, chưa có
biên chế là chưa có việc làm. Đó là xuất phát từ quan điểm cho rằng dưới CNXH
không có bóc lột, lao động của cá nhân là bộ phậ
n của lao động xã hội phải chịu sự
phân bố sử dụng chung. Cho nên về cơ bản trong giai đoạn này không có mâu thuẫn
về mặt lợi ích giữa NSDLĐ và NLĐ. Thu nhập quốc dân được phân phối một phần
– 21 –
cho tiêu dùng cá nhân dưới hình thức tiền lương theo số lượng, chất lượng và hiệu
quả lao động mà họ đóng góp cho xã hội. Khái niệm đình công là một điều gì đó xa
lạ, thậm chí còn là điều cấm kỵ trong giai đoạn này ở nước ta. Tuy nhiên, việc
không thừa nhận sự tồn tại của thị trường SLĐ, duy trì chế độ biên chế làm việc
suốt đời đã bi
ểu hiện những bất hợp lý, làm cho hiệu quả sử dụng SLĐ không cao.
Nhà nước XHCN trước đây không thể là chủ sở hữu toàn dân đối với SLĐ -
bởi vì SLĐ không thể nào bị tách rời khỏi NLĐ và họ có quyền quyết định việc sử
dụng SLĐ của mình – nhưng mặc nhiên trở thành chủ thể độc quyền sử dụng SLĐ
xã hội. Đó là mộ
t loại độc quyền bất đắc dĩ, là gánh nặng chứ không phải là lợi thế.
ủa những
quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ''. Hiện nay, ở nước ta,
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp lại không đồng đều giữa các
ngành, giữa các vùng và ngay cả giữa các đơn vị kinh tế trong cùng một ngành và
trong cùng một vùng. Theo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất, tất yếu còn t
ồn tại nhiều hình thức sở hữu, tồn tại
nền KTTT.
Mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta
được xác định là mô hình KTTT định hướng XHCN. Mục đích của nền KTTT định
hướng XHCN là phát triển lực lượng sản xuất, huy động cao nhất mọi nguồn lực,
mọi tiềm năng vật chất và tinh thần, tạo ra những động lực mới, nhữ
ng đột phá mới
trong phát triển, xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, sớm đưa đất nước thoát khỏi
tình trạng kém phát triển và cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào
năm 2020. Đồng thời, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại phải gắn với xây dựng
quan hệ sản xuất mới tiên tiến.
Đảng và Nhà nước khuyến khích mọi người dân trong xã h
ội làm giàu một
cách hợp pháp. Khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển
một cách bình đẳng trước pháp luật như văn kiện Đại hội X của Đảng khẳng định,
"Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan
trọng của nền KTTT định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển
lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò ch
ủ đạo, là
lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo
môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Kinh tế
nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền
kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động
lực củ
thuận lợi, phát triển, giới chủ thu lợi nhuận nhiều hơn, thì người làm công cũng
đượ
c hưởng mức lương cao hơn. Ngược lại, cả hai phải cùng gánh chịu rủi ro nếu
quá trình kinh doanh không thuận lợi. Như vậy, lợi ích của mỗi bên chỉ có được khi
tuân thủ nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm lợi ích của nhau. Tham gia vào quá trình
cân bằng lợi ích này thì vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng. Do đó, Nhà
nước thông qua những công cụ điều tiết vĩ mô, đặc biệt là hệ thống luật lao động
– 24 –
góp phần đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể trong QHLĐ nhằm thực
hiện mục tiêu chung xây dựng thành công CNXH ở nước ta.
1.3.3. Quan hệ giữa tiền lương – giá cả hàng hóa SLĐ và đình công
1.3.3.1. Tiền lương - giá cả hàng hóa SLĐ
Trong nền KTTT, sức lao động cũng là hàng hóa. Khi SLĐ là hàng hóa nó
cũng có hai thuộc tính như mọi hàng hóa thông thường khác. Giá trị sử dụng của
hàng hóa SLĐ chính là công d
ụng của hàng hóa, hay nói một cách khác giá trị sử
dụng của hàng hóa SLĐ thỏa mãn nhu cầu của người mua. Còn giá trị hàng hóa
SLĐ cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó
quyết định. Sản xuất và tái sản xuất SLĐ được thực hiện thông qua tiêu dùng cá
nhân của NLĐ. Bởi vậy, giá trị của hàng hóa SLĐ là giá trị của toàn bộ các tư liệu
sinh ho
ạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất SLĐ của NLĐ và gia đình của họ. Giá
trị của hàng hóa SLĐ được biểu hiện ra bên ngoài dưới hình thức tiền công (tiền
lương) hay nói cách khác, tiền công (tiền lương) là hình thức biểu hiện bằng tiền
của giá trị sức lao động.
Tiền lương phải dựa trên cơ sở giá trị sức lao động và được hình thành trên
thị tr
ường chủ yếu do tương quan cung – cầu sức lao động quyết định. Sự tương tác
cung – cầu sẽ tiến tới thiết lập một giá cả ở mức cân bằng mà cả hai bên mua và bán