MỤC LỤC
I- Phần mở đầu
II-Nội dung
Chương 1. Vai trò của hoạt động xuất khẩu dệt may đối với sự phát triển
kinh tế xã hội ở Việt Nam
1. Khái quát và đặc điểm của ngành dệt may Việt Nam
Khái quát chung về ngành dệt may Việt Nam
Đặc điểm ngành dệt may Việt Nam
Chưa chủ động được nguồn nguyên liệu
Gia công là chính
Công nghệ còn lạc hậu
Các nhân tố ảnh hưởng tới kim ngạch xuất khẩu hang dệt may
Việt Nam
Các nhân tố bên trong
Các nhân tố bên ngoài
2. Vai trò của xuất khẩu dệt may đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội Việt Nam
Chương 2. Thực trạng xuất khẩu dệt may của Tập Đoàn Dệt May Việt
Nam
1. Khái quát về Tập Đoàn Dệt May Việt Nam
1.1. Quá trình hình thành và phát triển
1.2.Chuyển đổi mô hình từ Tổng Công Ty Dệt May Việt Nam
sang mô hình Tập Đoàn Dệt May Việt Nam
2. Khái quát về thị trường dệt may Thế Giới và các nước xuất khẩu
chính của VINATEX
3.Thực trạng hàng xuất khẩu dệt may Việt Nam và VINATEX
những năm gần đây
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao khả năng xuất khẩu hang dệt may
của Tập Đoàn Dệt May Việt Nam
1. Định hướng` xuất khẩu đến năm 2020
1.1 Định hướng chung đến năm 2020
tế - xã hội. Thành công đó có được là do ngành dệt may Việt Nam đã biết tận
dụng cơ hội gồm cả nhân tố khách quan và chủ quan đem lại, cùng với sự hỗ trợ
của Nhà nước trong vấn đề xúc tiến thương mại, sự giúp đỡ có hiệu quả của Bộ
Công Nghiệp và nỗ lực, cố gắng vươn lên của các doanh nghiệp dệt may trong
toàn ngành thời gian qua.
Bên cạnh vai trò về tính kinh tế trong thời đại kinh tế thị trường hiện nay,
chúng ta không thể không nói tới yếu tố truyền thống dân tộc của ngành nghề
này. Ngành dệt may Việt Nam đã có lịch sử lâu đời, từ xa xưa cách đây hàng
ngàn năm, cha ông chúng ta đã biết trồng dâu nuôi tằm, trồng bông dệt vải, ươm
tơ dệt lụa,... biết làm ra các sản phẩm dệt may làm đẹp cho đời. Từ những chiếc
khung cửi thủ công thô sơ đến máy may đạp chân, dần dần chúng ta đã có các
thiết bị dệt nhuộm, may mặc cơ khí hiện đại, điện tử, tự động hóa...Bằng chứng
cho sự phát triển này là đến nay vẫn còn tồn tại nhiều làng nghề truyền thống
trên nhiều vùng đất nước như: Lụa Vạn Phúc, Khăn Phùng Xá(Hà Tây); Dệt
Làng Mẹo(Thái Bình); Lành Dệt Liên Tỉnh(Nam Định); Thổ Cẩm Mai
Châu(Hoà Bình)…Tuy vậy, phải đến cuối thế kỷ XIX, ngành dệt may mới manh
nha hình thành và phát triển trong hình hài của một ngành công nghiệp. Đất nước
ta là một nước phương Đông mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc không thể
thiếu những ngành nghề truyền thống như gốm sứ, dệt may, điêu khắc… Hơn
nữa dệt may lại đang là ngành nghề mũi nhọn, dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu
trong những năm gần đây. Chính phủ đã phê duyệt “ Chiến lược tăng tốc phát
triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010”. Mục tiêu là kiên quyết vượt qua
thách thức để đưa dệt may Việt Nam lên tầm cao mới. Nhiệm vụ còn lại là của
các nhà doanh nghiệp dệt may thuộc mọi thành phần kinh tế trên khắp mọi miền
của đất nước.
Việt Nam đã gia nhập WTO, sức ép hội nhập kinh tế không cho phép ngành
dệt may Việt Nam chậm chạp, chính vì thế mà chúng ta phải “tăng tốc”, “tăng
tốc” để theo kịp các nước trong khu vực và trên Thế Giới. Thực tế cho thấy
ngành dệt may Việt Nam hiện còn quá nhỏ bé so với tiềm năng của chính nó và
so với các nước trong khu vực. Tuy nhiên làm thế nào để ngành dệt của chúng ta
do Pháp đầu tư đã được thành lập. Năm 1889, nhà máy dệt đầu tiên tại Việt Nam
được Pháp xây dựng tại Nam Định, tiếp theo là năm 1894 tại Hà Nội và sau đó là
tại Hải Phòng. Năm 1912, ba nhà máy hợp nhất lại thành “Công ty dệt vải Kinh
Đông”. Chính phủ Thực dân Pháp thu được nhiều lợi nhuận từ việc kinh doanh
độc quyền ngành này.
Sau đại chiến thế giới thứ hai, ngành dệt may Việt Nam có những bước
tiến đáng kể. Trong thời gian này, vai trò của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước là rất
quan trọng, kế hoạch và việc sản xuất hàng dệt may được thực hiện theo quy
trình: trước tiên, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước giao chỉ tiêu cho các doanh nghiệp
may về kế hoạch sản xuất, số lượng, giá. Các doanh nghiệp dệt may căn cứ vào
đó tính số lượng nguyên liệu đầu vào trình lên Uỷ ban Kế hoạch về các doanh
nghiệp nhuộm có thể đáp ứng yêu cầu. Sau đó, căn cứ vào những điều kiện sau
này, Uỷ ban Kế hoạch lại giao chỉ tiêu sản lượng cho các doanh nghiệp nhuộm,
ấn định về giá và thời gian giao hang. Dựa vào giá cả và ngày giao hang, các
doanh nghiệp nhuộm lại tính lượng sợi cần thiết rồi trình Uỷ ban Kế hoạch Nhà
nước về nhà sản xuất sợi có thể sản xuất loại sợi theo yêu cầu. Cuối cùng, Uỷ
ban Kế hoạch nhà nước giao chỉ thị cho các doanh nghiệp sợi sản xuất lượng sợi
cần thiết như kế hoạch được trình như trên.
Trong nền kinh tế kế hoạch, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt,
nhuộm và may rất mật thiết. Xét trên toàn ngành, mối quan hệ trực tiếp, lâu dài
giữa các doanh nghiệp và sự chia sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp đã được
duy trì khá tốt. Tuy nhiên, mối quan hệ khăng khít cùng việc chia sẻ thông tin
giữa các doanh nghiệp khác ngành đã có sự thay đổi lớn từ sau khi có Hiệp định
thương mại gia công uỷ thác (Hiệp định ngày 19/5) được ký kết giữa Chính phủ
Liên Xô và Chính phủ Việt Nam vào năm 1986. Hiệp định này đã làm giảm hẳn
nhu cầu sản phẩm đối với các doanh nghiệp nhuộm và dệt trong nước và mối
quan hệ mật thiết giữa các doanh nghiệp cũng bị rạn nứt. Từ mối quan hệ mật
thiết trước đây trở thành quan hệ đối thủ cạnh tranh của nhau. Người ta cho rằng
đó là nguyên nhân lịch sử chủ yếukhiến cho sự phân ngành trong ngành dệt -
may Việt Nam chưa phát triển.
3. Sợi 1000 tấn
4. Vải lụa triệu m2
Tỷ lệ nội địa hoá (%)
Nguồn: Hiệp hội Dệt May Việt Nam
Nước ta có một lực lượng lao động lớn về số lượng nhưng đối với ngành
này đã chưa tận dụng hết được thế mạnh này, trong khi đó Trung Quốc - nước
láng giềng và cũng là một cường quốc xuất khẩu hàng dệt may thế giới – hàng
năm sản xuất gần một vạn sản phẩm phụ liệu cho ngành may.
Thứ hai: sử dụng hình thức gia công là chính:
Phần lớn hoạt động xuất khẩu hàng may mặc được thực hiện dưới dạng
sản xuất lưu thông theo hợp đồng gia công uỷ thác (gia công). Do các doanh
nghiệp Việt Nam chỉ thực hiện 3 công đoạn là cắt (cut), may (make), hoàn thiện
(trim) nên hình thức sản xuất lưu thông này được gọi là CMT. Theo hình thức
này toàn bộ nguyên phụ liệu đêù do khách hang nước ngoài cung cấp cho các
doanh nghiệp may Việt Nam.
Sơ đồ tự sản xuất, lưu thông hàng may mặc
Nguồn: Tập Đoàn Dệt May Việt Nam
Hầu hết các doanh nghiệp dệt may Việt Nam thường áp dụng 2 hình thức
xuất khẩu, ngoài CMT là hình thức “xuất khẩu hang hoá theo điều kiện FOB
(Free On Board)”. Hình thức này trái với CMT, theo hình thức này, chúng ta tự
mua nguyên phụ liệu rồi bán sản phẩm cho khách hàng nước ngoài.
Thứ ba: Công nghệ còn lạc hậu:
Trong nhiều lý do dẫn đến yếu kém về năng lực sản xuất của ngành may
Việt Nam, công nghệ là tác nhân chủ yếu. Khả năng tự động hoá trong quá trình
sản xuất trong các doanh nghiệp may chỉ đạt mức độ trung bình, công nghệ cắt
và may còn lạc hậu. Công nghệ phục vụ các công đoạn phụ trợ, khâu giặt còn bất
Lựu
chọn
nhà
cung
Giá cả các yếu tố đầu vào: Để tiến hành sản xuất , ngành dệt may
cần các yếu tố đầu vào. Giá cả các yếu tố đầu vào là nguyên nhân
trực tiếp ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm. Muốn hạ sía thành sản
phẩm thì trước tiên phải tìm được các nguồn đầu vào với giá rẻ:
- Nguyên phụ liệu: Như đã nói ở trên, nguyên phụ liệu ngành đến
90% là phải nhập khẩu. Phần nguyên phụ liệu mà Việt Nam có thể
tự cung cấp cho ngành dệt may là rất thấp và chất lượng kém. Phần
nguyên phụ liệu phải nhập khẩu với giá cao này là nguyên làm giá
cả của hàng hoá dệt may Việt Nam cao hơn so với các sản phẩm
cùng loại của các nước khác.
- Lao động: Có thể nói một trong những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho ngành dệt may Việt Nam là chi phí lao động rẻ. Một đất
nước với hơn 80 triệu dân là nguồn cung cấp lao động dồi dào cho
ngành này. Ngoài những cán bộ có trình độ kỹ thuật thì một số
lượng lớn lao động phổ thông vẫn được ngành dệt may Việt Nam
hiện nay sử dụng. Ngành dệt may Việt Nam đang tận dụng đặc điểm
này để hạ giá thành sản phẩm.
Giá cả sản phẩm: Dù xét về phía cung hay cầu thì giá cả bao giờ
cũng là yếu tố ảnh hưởng có tính chất quyết định nhất tới sản lượng
hàng dệt may bán ở trong nước hay nước ngoài. Xem xét với hàng
dệt may Việt Nam xuất khẩu: giá cả hàng dệt may Việt Nam vẫn
thuộc vào loại cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới
như: Trung Quốc, Ấn Độ… Nguyên nhân chính của tình trạng này
là do hàng dệt may của Việt Nam chưa tự túc được nguồn nguyên
phụ liệu và sản xuất với các trang thiết bị còn yếu kém. Trong kinh
doanh xuất nhập khẩu, hai yếu tố hạ giá thành và nâng cao chất
lượng sản phẩm vẫn là điều kiện tiền đề cho hàng dệt may của Việt
Nam có chỗ đứng trên thế giới.
Công nghệ: Trong kinh doanh hiện đại, công nghệ là cách thức để
cắt giảm chi phí doanh nghiệp. Mặc dù đã có nhiều cố gắng và nỗ
hàng co mức thu nhập trung bình khá.
Thị hiếu và phong tục tập quán của quốc gia nhập khẩu: Yếu tố rõ
ràng nhất quyết định tới nhu cầu khách hàng là thị hiếu. Qua thực
tế, chúng ta có thể nói rằng: hàng dệt may Việt Nam có thể đáp ứng
được những khách hàng khó tính nhập khẩu. Một phương trâm xuất
khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là “ việc kinh doanh
có tính địa phương”. Có nghĩa là khi xuất khẩu bất kỳ một sản phẩm
dệt may nào thì các doanh nghiệp cũng đều quan tâm tới sở thích
của khách hàng và phong tục tập quán ở các thị trường khác nhau.
Ví dụ như: ở thị trường EU, các sản phẩm của chúng ta luôn cố
gắng hoàn thiện ở các khâu chất lượng, mẫu mã, thiết kế để đáp ứng
tốt nhu cầu của những khách hàng khó tính này.
2. Vai trò của xuất khẩu dệt may đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt
Nam:
Việt Nam đang là nước ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Đặc biệt với đường lối chính sách kinh tế mở, ưu tiên chú trọng tới
phát triển xuất khẩu của nhà nước ta đã tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi
cho sự phát triển của ngành dệt may. Ngành dệt may đã từng bước khẳng định
được vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân cũng như trong tiến trình hội
nhập kinh tế, nhất là về xuất khẩu.
Hiện nay, đối với Việt Nam, ngành dệt may có vị trí quan trọng trong quá
trình công nghiệp hoá đất nước. Hiện nay ngành này đang thu hút trên 3 triệu lao
động, trong đó 80% là nữ, lao động trong công nghiệp dệt may chiếm khoảng
15% lao động công nghiệp cả nước. Như vậy việc thu hút nhiều lao động trong
dệt may có ý nghĩa to lớn đối với bối cảnh nước ta hiện nay. Từ khi chuyển đổi
sang cơ chế thị trường thì lực lượng lao động thất nghiệp ở nước ta rất lớn, đời
sống nhân dân nhiều nơi còn rất khó khăn. Việc thu hút lao động cho ngành dệt
may đã góp phần nâng cao đời sống dân cư, góp phần tạo sự ổn định tình hình
kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, vùng và lãnh thổ theo hướng
tích cực.