TIỂU LUẬN: Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Xe máy - Xe đạp Thống Nhất doc - Pdf 11



TIỂU LUẬN:

Một số giải pháp nhằm mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty
Xe máy - Xe đạp Thống Nhất
Lời nói đầu Việc chuyển đổi nền kinh tế nước ta từ cơ chế kế hoạch hoá sang cơ chế thị
trường đến nay đã có tác dụng đến hầu hết các đơn vị trực thuộc mọi thành phần
kinh tế. Đã có rất nhiều doanh nghiệp vươn lên tự khẳng định vị trí của mình, nhưng
cũng có rất nhiều doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, sản xuất đình trệ do không
thích nghi được với cơ chế thị trường mới.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, doanh nghiệp phải tự hoạch định cả đầu ra
Chương I: Cơ sở lý luận về thị trường và mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm.
I. Khái niệm và các chức năng của thị trường:
1. Khái niệm về thị trường.

người tiêu dùng.
2. Chức năng của thị trường: Có 4 chức năng cơ bản sau:
2.1. Chức năng thừa nhận: Được thể hiện ở chỗ hàng hoá hay dịch vụ của
doanh nghiệp chế tác ra có bán được hay không, nếu bán được có nghĩa là đã được
thị trường chấp nhận. Khi hàng hoá hay dịch vụ của doanh nghiệp được chấp nhận
thì doanh nghiệp cũng kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh, các chi phí mà
doanh nghiệp bỏ ra được thu hồi cộng với các khoản lãi, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng ở chu kỳ sản xuất tiếp theo.
2.2. Chức năng thực hiện: Qua thị trường các hành vi trao đổi hàng hoá được
thực hiện, đáp ứng cả người cung và người cầu, người bán cần giá trị của hàng hoá,
người mua cần giá trị sử dụng, nhưng theo trình tự thì sự thực hiện này xảy ra khi
thực hiện giá trị sử dụng, vì hàng hoá dù được tạo ra với chi phí thấp nhưng nếu
không phù hợp thì cũng không tiêu thụ được qua chức năng thực hiện của thị
trường, hàng hoá dịch vụ hình thành nên giá trị trao đổi để tạo nên sự phân phối các
nguồn nhân lực.
2.3. Chức năng điều tiết, kích thích: Nó kích thích sự phát triển sản xuất đối
với doanh nghiệp khi có sản phẩm phù hợp với sở thích của người tiêu dùng. Thị
trường chỉ chấp nhận những sản phẩm chất lượng cao, giá thành hạ.
2.4. Chức năng thông tin: Trong tất cả các giai đoạn cả quá trình tái sản xuất
hàng hoá, chỉ có thị trường mới có chức năng thông tin. Các thông tin quan trọng từ
thị trường thường là thông tin về tổng cung, tổng cầu, giá cả, chất lượng …
Cả bốn chức năng trên của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chức
năng thừa nhận là chức năng quan trọng nhất vì chỉ khi nào chức năng thừa nhận
được thực hiện thì các chức năng khác mới phát huy tác dụng.

II. Phân loại và phân đoạn thị trường.
1. Phân loại thị trường: Một trong những điều kiện cơ bản để tổ chức thành
công hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là phải hiểu rõ đặc điểm, tính
chất của thị trường. Phân loại thị trường là việc phân chia các thị trường theo các


chấp nhận giá cả. - Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: có trạng thái trung gian giữa hai loại
thị trường trên. Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo có thể chia ra thành thị
trường cạnh tranh độc quyền và thị trường độc quyền tập đoàn.
Ngoài ra người ta còn phân loại thị trường theo nhiều cách khác nhau như theo
sản phẩm, theo ngành hàng …
2. Phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu.
Phân đoạn thị trường và có lựa chọn thị trường mục tiêu thực chất là tập trung
nỗ lực của doanh nghiệp vào đúng những phần thị trường mà doanh nghiệp có nhiều
lợi thế hơn tương đối so với đối thủ cạnh tranh.
- Đoạn thị trường là nhóm người tiêu dùng có phản ứng như nhau cùng với
một tập hợp những kích thích của marketing.
- Phân đoạn thị trường là quá trình phân chia người tiêu dùng thành nhóm trên
cơ sở những khác biệt về nhu cầu, tính cách hay hành vi.
Phân đoạn thị trường nhằm giúp doanh nghiệp xác định những đoạn thị trường
mục tiêu hẹp và đồng nhất hơn thị trường tổng thể và hướng những nỗi lực của
doanh nghiệp nhằm vào một mục tiêu rõ ràng, cụ thể và có hiệu lực hơn. Điều quan
trọng của công việc này là mặt phát hiện được tính không đồng nhất giữa các nhóm
khách hàng, mặt khác số lượng khách hàng trong mỗi đoạn phải đủ lớn, đủ khả
năng bù đắp lại những nỗ lực của doanh nghiệp thì việc phân đoạn đó mới có hiệu
quả. Như vậy, nếu doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu của một nhóm khách hàng
và đồng thời có lãi thì nhóm khách hàng đó chính là đoạn thị trường có hiệu quả của
doanh nghiệp.
Để xác định đoạn thị trường có hiệu quả, thì việc phân đoạn thị trường phải đạt
những yêu cầu sau:
+ Tính đo lường được: quy mô và hiệu quả của đoạn thị trường đó phải đo
lường được.
+ Tính tiếp cận được: tức là doanh nghiệp có thể nhận biết và phục vụ được

III. Sự cần thiết phải mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp.
Trong điều kiện kinh doanh ngày nay, dẫn đầu về thị phần là ước vọng và là
mục tiêu chiến lược của nhiều doanh nghiệp. Bởi vì dẫn đầu về thị phần đồng nghĩa
với lợi nhuận dài hạn tối đa. Một doanh nghiệp muốn tồn tại thì sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra
phải được thị trường chấp nhận, tức là bán được hàng. Nhưng một doanh nghiệp
muốn phát triển sản xuất kinh doanh thì cần phải mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm nhằm tăng vị thế của doanh nghiệp trên thương trường, hơn nữa trong nền
kinh tế thị trường vị thế của doanh nghiệp có thể thay đổi rất nhanh nên việc mở
rộng thị trường giúp doanh nghiệp tránh tình trạng tụt hậu. Việc mở rộng thị trường
có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Điều
đó thể hiện trên các mặt sau:
+ Mở rộng thị trường có nghĩa là thu hút nhiều khách hàng mua sản phẩm của
doanh nghiệp, khối lượng hàng hoá của doanh nghiệp được tiêu thụ nhiều hơn và
làm doanh thu bán hàng của doanh nghiệp tăng lên. Nhưng để mở rộng thị trường,
doanh nghiệp cần phải bỏ ra một khoản chi phí này và làm tăng lợi nhuận của doanh
nghiệp trong tương lai, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tái đầu tư chiều rộng và
chiều sâu nhằm phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
+ Mở rộng thị trường sẽ tăng vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường, làm tăng uy tín, hình ảnh của sản phẩm và doanh nghiệp đối với khách
hàng.
+ Thị phần là một trong những nhân tố cốt yếu làm nên sức mạnh cạnh tranh
củat doanh nghiệp trên thị trường. Việc mở rộng thị trường làm tăng thị phần của
doanh nghiệp, do đó làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Mặt khác, việc mở
rộng thị trường tạo điều kiện để tăng cường một số yếu tố cạnh tranh khác:
- Việc mở rộng thị trường có thể dẫn tới giảm chi phí sản xuất đơn vị sản
phẩm theo đường cong kinh nghiệm.

trường chưa cao cho nên sản xuất xe đạp lúc bấy giờ chỉ là một vài cơ sở nhỏ bé,
sản xuất cầm chừng. Ngày 30/06/1960 sau một thời gian dài hoạt động kém hiệu
quả và nhận thức được rằng việc hợp tác làm ăn, mở rộng quy mô sản xuất sẽ mang
lại hiệu quả kinh tế cao, các hãng sản xuất xe đạp ở Hà Nội gồm có 3 tập đoàn:
Bình Định, Sài Gòn, Đồng Tâm và hãng xe đạp Dân Sinh của người Hoa đã liên kết
hợp nhất thành Công ty hợp doanh xe đạp Thống Nhất. Năm 1962 Công ty chuyển
thành nhà máy xe đạp Thống Nhất.
Nhà máy xe đạp Thống Nhất trực thuộc bộ công nghiệp nặng quản lý. Đến
1969, bộ công nghiệp nặng tách thì nhà máy trực thuộc Bộ cơ khí luyện kim. Trong
giai đoạn này, ngoài việc chuyên sản xuất khung xe đạp và một số phụ tùng như vành sắt 650, ghi đông, pô tăng, nan hoa nhà máy còn nhận các bộ phận khác của xe
đạp ở hợp tác xã lân cận để phục vụ cho việc lắp ráp hoàn chỉnh. Năm 1978, xí
nghiệp xe đạp Thống Nhất tách khỏi Bộ cơ khí luyện kim trực thuộc sở công nghiệp
Hà Nội, xí nghiệp xe đạp Thống Nhất cùng với các xí nghiệp xe đáp khác cùng trực
thuộc sở tiến hành hạch toán nội bộ không có tư cách pháp nhận.
Năm 1981, liên hiệp các xí nghiệp xe đáp Hà Nội (Lixeha) ra đời theo quyết
định của UBND thành phố, xí nghiệp xe đạp Thống Nhất đóng vai trò là một thành
viên quan trọng, hạch toán độc lập có đầy đủ tư cách pháp nhân. Thời gian này xí
nghiệp vẫn đi sâu sản xuất các loại sản phẩm truyền thống là khung xe đạp, vành,
ghi đông, pô tăng, nồi, trục xe đạp.
Thời kỳ bao cấp đã kìm hãm sự phát triển của xí nghiệp trong một thời gian
dài, xí nghiệp không chủ động được về vật tư, về thị trường, về kế hoạch sản xuất.
Sản phẩm làm ra được tiêu thụ theo những địa chỉ mà Nhà nước định sẵn, Nhà nước
bao tiêu xe đạp của xí nghiệp sản xuất ra do vậy mà không được cải tiến mẫu mã
không nâng cao được chất lượng và thua kém sản phẩm xe đạp của các nước rất
nhiều.
Cơ chế quản lý mới đã mở rộng quyền tự chủ cho xí nghiệp song cũng đặt lên
vai những người quản lý chất lượng nặng nề hơn. Xí ngiệp phải tự tìm kiếm nguyên

thế đến đầu năm 2000 số vốn của Công ty đã lên đến 10,456 tỷ đồng, trong đó số
vốn cố định chiếm 6,532 tỷ đồng, vốn lưu động chiếm 3,924 tỷ đồng.
Số vốn này chủ yếu do ngân sách cấp, vốn tự có không đáng kể.
Hàng năm, Công ty vừa nhận bổ sung của Nhà nước, vừa trích một phần từ các
quỹ để tăng vốn kinh doanh. Trong thời gian tới, khi dây truyền sản xuất mới đi vào
hoạt động chắc chắn Công ty xẽ còn gặt hái được nhiều thành công. Được như vậy
chính là sự cố gắng nỗ lực của các thành viên trong Công ty. Họ đang làm việc hết
mình vì sự sinh tồn, sự lớn mạnh của toàn Công ty và toàn xã hội.
2. Những đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty.
Từ xưa tới nay đối với người Việt Nam chiếc xe đạp là một phương tiện quý
giá, trong thời chiến nó góp phần vào thành công thắng lợi bởi nó giúp quân đội làm
xe thồ để vận chuyển lương thực đạn dược và cho tới nay ở thời bình thì nó giúp
cho người dân làm phương tiện đi làm, đi học, chủ yếu là các tiểu thương dùng
trong lưu thông buôn bán. Vì thế xe đạp là một thành quả quan trọng giải quyết chủ
lực trong đời sống người dân khi mức sống còn thấp. Do vậy ta thấy chiếc xe đạp là
phương tiện quan trọng trong đời sống người dân Việt Nam giàu tính truyền thống.
Cho dù thời chiến hay thời bình, người xưa hay ngày nay thì những từ "xe đạp
Thống Nhất" đã ăn sâu vào tiềm thức của người tiêu dùng. Trong thời bao cấp có thời kỳ xe đạp Thống Nhất là sản phẩm độc quyền ở thị trường miền Bắc và cho tới
nay tuy rằng đã ra đời nhiều loại xe đạp thuộc nhiều cơ sở sản xuất khác nhau
nhưng xe đạp Thống Nhất vẫn giữ vững trên thị trường bởi Công ty luôn quan tâm
tới nhu cầu của khách hàng, đa dạng hoá mặt hàng, mở rộng chủng loại sản phẩm.
Hiện nay trong danh sách mặt hàng của Công ty có tới hơn 10 mặt hàng với
mẫu mã đẹp, kiểu dáng phù hợp. Trong đó có một số mặt hàng chủ lực như Thống
Nhất nam, Thống Nhất nữ, Mifa, Mini 600, Mini 660 … Đây là những mặt hàng
chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm tiêu thụ của Công ty. Chính vì
vậy để tăng sản lượng tiêu thụ y cần phải chú trọng vào những mặt hàng chủ yếu
như nâng cao chất lượng sản phẩm, hơn nữa cần phải cải tiến mẫu mã đối với

lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Phòng tổ chức lao động tiền lương: Tổ chức cán bộ và nhân sự, công tác lao
động tiền lương, tổ chức các phong trào thi đua khen thưởng, kỷ luật.
- Phòng tài vụ: làm nhiệm vụ kế toán, có chức năng thu thập xử lý và cung cấp
thông tin kinh tế, phục vụ cho công tác quản lý, kiểm tra tình hình sử dụng vật tư
lao động, tiền vốn và mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Ban thiết kế cơ bản: Tham mưu cho giám đốc về công tác thực hiện kế hoạch
xây dựng cơ sở hạ tầng, kế hoạch xây dựng sửa chữa nhỏ.
- Trung tâm dịch vụ: Tham mưu cho giám đốc về việc kinh doanh dịch vụ, cho
thuê tài chính, làm đại lý, giới thiệu sản phẩm cho Công ty.
- Phòng hành chính bảo vệ: Tổ chức công tác hành chính quản trị, tổ chức
huấn luyện, bảo vệ, tự vệ, thực hiện nghĩa vụ quân sự.
3.3. Nhiệm vụ các phân xưởng sản xuất:
Hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất của Công ty giao tổ chức tốt các mặt hàng
quản lý nhằm phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và áp dụng
các thao tác tiên tiến, tăng năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm, nghiên cứu
đề xuất các biện pháp cải thiện điều kiện làm việc.
Xây dựng và thực hiện kế hoạch tác nghiệp của phân xưởng, giữ gìn và sử
dụng máy móc thiết bị, bảo quản tốt các phương tiện dụng cụ sản xuất được trang bị
II. Một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật ảnh hưởng đến việc mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty.
1. Đặc điểm về lao động.
Cùng với những thay đổi quan trọng về tổ chức sản xuất qua các thời kỳ, quy
mô sản xuất cỷa Công ty cũng có nhiều biến đổi cho phù hợp. Số lượng lao động của Công ty lúc lớn nhất là 1500 công nhân viên khi Công ty sát nhập với xí nghiệp
phụ tùng xe đạp Đống Đa. Ngày nay, với cơ chế quản lý mới, hiệu quả sản xuất
được đặt lên hàng đầu đòi hỏi Công ty phải tổ chức sản xuất, bố trí, sắp xếp lao
động sao cho khoa học để mang lại kết quả cao nhất. Đến năm 1999 lao động của

270
2 Tuổi đời bình quân Tuổi 37,5 35 33,5
3 Bậc thợ bình quân Bậc 5,3 5,5 5,7

Lao động của Công ty qua các năm từ 1998 đến năm 2000 biến động không
nhiều và xu hướng giảm. lao động gián tiếp hầu như không thay đổi, chủ yếu là biến
động của lao động trực tiếp. So với các ngành kinh doanh khác thì lao động của
Công ty có tuổi đời và bậc thợ bình quân tương đối cao, chứng tỏ Công ty có đội
ngũ lao động già, giàu kinh nghiệm trong sản xuất. Nhờ có họ mà sản phẩm của
Công ty tránh được những sai sót về kỹ thuật, chất lượng sản phẩm được đảm bảo,
khắc phục được những điểm yếu, tồn tại của máy móc thiết bị lạc hậu. Hơn nữa, ở họ lại có lòng nhiệt tình yêu nghề, sự tận tuỵ với công việc, hết lòng vì sự nghiệp
chung của Công ty. Chính điều này đã gắn bó và cùng Công ty trải qua những bước
thăng trầm, biến đổi. Mặc dù có những đóng góp to lớn, những công lao nhất định
đối với Công ty song lực lượng lao động có nòng cốt còn lại là những người chậm
chạp trong công việc tiếp thu công nghệ mới, nắm bắt nhu cầu của thị trường.
Để khắc phục những khó khăn trên, Công ty đã quyết định đầu tư kinh phí cho
việc đào tạo cán bộ, kỹ sư về quản lý và kỹ thuật, nâng cao chất lượng lao động
giúp họ có những hiểu biết đầy đủ và mới nhất về trình độ quản lý và chuyên môn
nghiệp vụ …
Hàng năm, Công ty còn tổ chức thi nâng bậc thợ vừa để soát lại chất lượng lao
động, vừa khuyến khích công nhân làm việc vươn lên khẳng định mình.
Tình hình lao động của Công ty năm 2000 như sau:
Tổng số lao động 326 người
Trong đó: Lao động công nghệ: 174 người chiếm 53,4% tổng lao động
Lao động phục vụ: 96 người chiếm 29,4% tổng lao động
Lao động quản lý: 56 người chiếm 17,2% tổng lao động
Chất lượng lao động:

đưa vào sản xuất dây chuyền vành hợp kim nhôm.
Với mức đầu tư trên, hiện nay Công ty đang đứng đầu về đầu tư cải tiến và áp
dụng kỹ thuật mới vào sản xuất hàng xe đạp so với toàn ngành sản xuất xe đạp ở
phía bắc. Chính vì điều này mà số lượng xe đạp của xy dẫn đầu (khu vực phía bắc)
thị trường ngày càng mở rộng.
Số lượng sản phẩm tiêu thụ qua các năm:
1996: 22.577 xe
1997: 33.163 xe
1998: 48,237 xe
1999: 51.787 xe
2000: 54.064 xe
Như vậy trung bình mỗi năm Công ty đã tăng sản lượng tiêu thụ lên tới hơn 10
nghìn xe, nhưng trong năm 2000 sản phẩm tiêu thụ của Công ty có tăng nhưng chỉ
tăng hơn 3000 chiếc so với năm 1998, như vậy tốc độ tăng là giảm so với các năm
trước. Điều này là do cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt không những với
sản phẩm cùng loại mà còn với các sản phẩm thay thế như các loại xe gắn máy trên
thị trường giá rất rẻ, hơn nữa thu nhập của người dân (đặc biệt ở thị trường Hà Nội) cho nên họ chuyển sang đi xe máy. Tuy vậy doanh nghiệp vẫn tiêu thụ được một số
lượng không phải là nhỏ, nó thể hiện được nỗ lực của toàn bộ cán bộ công nhân
viên trong Công ty. Thị trường của Công ty ngày càng được mở rộng, không chỉ ở
các tỉnh phía bắc mà sang cả khu vực miền trung.
2.2. Dây chuyền công nghệ.
Đứng trước thực trạng máy móc thiết bị lạc hậu không đủ sức để đưa ra thị
trường những sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao, Công ty Xe máy - Xe đạp
Thống Nhất đã quyết định đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất. Song do chỉ là một
Công ty có quy mô sản xuất trung bình, nguồn vốn ngân sách hạn hẹp, vốn đầu tư
cho công nghệ mỗi năm chỉ khoảng 30 đến 40 triệu đồng.
Với nỗ lực để giảm giá thành, nâng cao thu nhập cho người lao động, tạo khả

3. Đặc điểm về vốn:
Vốn là một điều kiện quan trọng hàng đầu và là một nhu cầu không thể thiếu
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khă năng về vốn càng cao thì hoạt động sản
xuất kinh doanh càng thuận lợi. Nhiệm vụ của Công ty là nhận vốn, tài sản do Nhà
nước giao, bào toàn phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn. Ngoài ra,
Công ty còn huy động vốn, gọi vốn bằng nhiều hình thức như vay của cán bộ công
nhân viên trong Công ty, vay của các tổ chức kinh tế khác.

Bảng 2: Tình hình cơ cấu vốn kinh tế của Công ty
Chỉ tiêu 1997 1998 1999
A. Nợ phải trả 2.166 2.597 3.060
I. Nợ ngắn hạn 1.862 2.143 2.386
II. Nợ dài hạn 0 0 0
III. Nợ khác 304 454 674
B. Nguồn vốn CSH 6.379 7.874 8.129
I. Nguồn vốn kinh doanh 5.900 6.990 7.161
II. Nguồn quỹ và kinh phí 497 884 968
Tổng số 8.545 10.471 11.189

Qua bảng trên ta thấy Công ty đã huy động được nguồn vốn phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh năm sau tăng hơn so với năm trước. Nợ ngắn hạn tăng
nhưng nợ phải trả dài hạn là không có, điều đó chứng tỏ Công ty đã luôn mở rộng
và tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh và từ đó có điều kiện để bổ sung cho
nguồn vốn CSH, xây dựng các nguồn quỹ kinh phí tạo điều kiện cho công cuộc đổi
mới công nghệ, mở rộng thị trường.
Vốn sản xuất của Công ty tăng đều hàng năm, do Công ty thường xuyên cải
tiến chất lượng sản phẩm đưa vào sản xuất những sản phẩm mới.
Vốn đầu tư của Công ty trong 3 năm gần đây tăng lên đáng kể. Năm 1999 giá
trị đầu tư là 3.405 triệu, năm 2000 là 7.933 triệu. Số vốn này chủ yếu hình thành từ
vốn vay ưu đãi và đầu tư cho việc nâng cấp các công nghệ, kỹ thuật, xây dựng mới,

Các chỉ tiêu 1998 1999
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Chênh
lệch
Tốc độ
phát triển

Tổng doanh thu 34944 100 34032 100 -912 -2,6
1. Khu vực Hà Nội 8736 25 7607 22,4 -1129 -12,9
2. Các tỉnh miền bắc 23413 67 23552 69,2 139 0,6 3. Các tỉnh miền trung 2795 8 2873 8,4 78 2,8

Qua bảng trên ta thấy tình hình doanh thu của doanh nghiệp là giảm đi, năm
1999 giảm 912 triệu so với năm 1998 ứng với tốc độ giảm là 2,6%. Tuy rằng thị
trường các tỉnh miền bắc và miền trung có tăng nhưng với tốc độ chậm, ngược lại ở
thị trường Hà Nội lại giảm. Điều này là do thị trường Hà Nội thu nhập của người
dân tăng cho nên họ chuyển sang dùng các loại xe gắn máy nhiều hơn. Còn học
sinh, sinh viên và công nhân viên chức thì có sở thích dùng xe đạp Nhật chất lượng
cao, xe Trung Quốc mẫu mã đẹp, giá lại rẻ. Đối với từng thị trường thì các tỉnh
miền bắc là thị trường lớn nhất của Công ty do vậy Công ty cần phải chú ý hơn tới
thị trường này, bởi xu hướng biến động của thị trường này có tăng nhưng với tốc độ
tăng còn chậm. Còn với thị trường Hà Nội thì đây là một thị trường có thu nhập rất
cao, để đẩy mạnh tiêu thụ ở khu vực này thì Công ty cần phải nâng cao chất lượng
sản phẩm, cải tiến mẫu mã màu sắc cho phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đặc
biệt là ở lứa tuổi thanh niên, học sinh, sinh viên.
2. Tình hình tiêu thụ một số mặt hàng chủ yếu của Công ty.
Từ khi nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường và nhờ vào những chính
sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước từ đó kinh tế nước ta mới phát triển mạnh và
thu nhập của người dân cao dần, đời sống được cải thiện nhu cầu tăng lên. Do vậy

Qua những cố gắng trên mà Công ty luôn dẫn đầu về sản lượng tiêu thụ trong
toàn liên hiệp xe đạp và nó chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường miền bắc cũng
như thị trường miền trung và thị trường Hà Nội.
Bảng 5: Tình hình tiêu thụ xe đạp của Công ty so với toàn liên hiệp
Năm Công ty Thống Nhất LIXEHA % xe đạp TN/LIXEHA
1997 33163 67502 49,09
1998 48018 96030 50
1999 51787 102387 50,6 Bảng 6: Tỷ lệ thị phần của Công ty ở thị trường miền bắc trong toàn liên hiệp
LIXEHA (1999)
STT Tên Công ty Số lượng tiêu thụ Thị phần (%)
1 Công ty Thống Nhất 51.787 50,6 2 Công ty VIHA 30.465 29,8
3 Công ty LIXEHA 12.013 11,8
4 Công ty Xuân Hoà 8.122 7,9
5 Liên hiệp LIXEHA 102.387 100%

Qua số liệu trên ta thấy thị phần của Công ty là tương đối lớn so với toàn liên
hiệp (chiếm 51,7%). Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay Công ty luôn
đổi mới cải tiến kỹ thuật, bồi dưỡng và đào tạo công nhân viên để tạo ra những sản
phẩm có chất lượng cao phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Bằng mọi biện pháp
Công ty cố gắng giữ ổn định thị trường và hướng mở rộng thị trường là việc Công
ty bán và giới thiệu sản phẩm của mình vởi các tỉnh xa và những khu vực mà sản
phẩm của Công ty chưa xâm nhập vào được.
3. Mở rộng kênh phân phối, tạo thuận lợi cho khách hàng.
Tiêu thụ sản phẩm là mục đích cuối cùng trong sản xuất kinh doanh của doanh

số lượng hàng mua tối đa đã được ghi rõ trong hợp đồng. Nếu nợ quá số nợ trên
Công ty sẽ yêu cầu khách hàng thanh toán tiếp rồi mới tiếp tục giao hàng.
Đối với khách hàng mua xe với số lượng từ 50 xe trở lên sẽ được hưởng chiết
khấu mua hàng như sau:
Trả tiền ngay được hưởng chiết khâu 6%
Trả tiền trong vòng 1 tháng hưởng chiết khấu 4,5%
Trả tiền trong vòng 2 tháng hưởng chiết khấu 3%
Trả tiền trong vòng 3 tháng hưởng chiết khấu 2%
Qua hình thức này Công ty đã kích thích được các nhà trung gian mua với khối
lượng lớn, thanh toán nhanh làm cho Công ty quay vòng vốn nhanh tăng sản lượng
tiêu thụ và mở rộng thị trường ra các tỉnh Lạng Sơn, Hải Phòng.
b, Hỗ trợ cước phí vận chuyển:
Để tạo mối quan hệ làm ăn lâu dài với khách hàng, Công ty còn thực hiện
chính sách hỗ trợ cước phí vận chuyển cho khách ở tỉnh xa. Hình thức này chỉ áp
dụng đối với khách hàng lớn, có quan hệ thường xuyên với Công ty và hỗ trợ theo
các mức khác nhau, tuỳ thuộc vào khách hàng xa hay gần.
- Khách hàng mua từ 50 đến 100 xe sẽ được miễn phí vận chuyển trong vòng
bán kính 100 km (tính từ Hà Nội).
- Khách hàng mua trên 100 xe thì phải chịu 1/2 cước phí vận chuyển trong
vòng bán kính 100 km (tính từ Hà Nội). - Đối với khách hàng xa trong vòng bán kính lớn hơn 100 km (từ Hà Nội) tuỳ
theo khối lượng xe và khối lượng sản phẩm tồn kho mà Công ty có mức hỗ trợ cước
phí vận chuyển.
c, Bảo hành sản phẩm:
Bản thân xe đạp của Công ty đã được công nhân là hàng có chất lượng cao, chi
phí làm ra bao giờ cũng được kiểm tra chất lượng rất kỹ từ khâu nguyên vật liệu đến
khâu thành phẩm. Tuy nhiên để đảm bảo uy tín của mình Công ty vẫn thực hiện chế
độ bảo hành: Bảo hành xe 6 tháng, bảo hành khung 1 năm, bảo hành phụ tùng 3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status