Tieu luan thực trạng đầu tư tài chính hiên nay - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư kiếm lợi nhuận luôn là mục tiêu của rất nhiều người. Sự phát triển
của nền kinh tế hiện nay đã mở ra thêm nhiều cơ hồi đầu tư, không chỉ trên
lĩnh vực kinh tế mà còn trên lĩnh vực tài chính. Thị trường tài chính Việt Nam
đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, góp phần vào công cuộc công
nghiệp hóa - hiện đại hóa. Một số kênh đầu tư sinh lợi được nhiều người lựa
chọn phải kể đến như: đầu tư trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoáng… Đầu tư tài
chính không chỉ là sự lựa chọn của các cá nhân mà còn là của các tổ chức
kinh doanh để huy động nguồn vốn, tìm kiếm lợi nhuận. Đây là lĩnh vực dễ
sinh lời nhưng cũng chứa đầy rủi ro, mạo hiểm cho các nhà đầu tư. Sự thu hút
mạnh mẽ nhiều nhà đầu tư cũng như những cơ hội, thách thức, rủi ro trong
đầu tư tài chính đã khiến nhóm chúng em quyết định chọn đề tài “PHÂN
TÍCH ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH” để hiểu hơn về tình hình đầu tư tài chính ở Việt
Nam.
Trong quá trình làm bài tiểu luận môn này, tuy được sự hướng dẫn tận tình
của thày và sự cố gắng của nhómnhưng do kiến thức còn hạn chế nên chúng
em không tránh khỏi một số sai sót. Kính mong thầy xem xét và bổ sung để
chúng em có thể hoàn thiện về đề tài này hơn.
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Chúng em xin chân thành cám ơn!CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Sự hình thành và phát triển của thị trường tài chính
Thị trường tài chính là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, sự
xuất hiện và tồn tại của thị trường này xuất phát từ yêu cầu khách quan của
việc giải quyết mẫu thuận giữa nhu cầu và khả năng cung ứng vốn lớn trong
nền kinh tế phát triển. Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai trạng thái trái ngược
nhau giữa một bên là nhu cầu và một bên là khả năng về vốn. Mâu thuẫn này
ban đầu được giải quyết thông qua hoạt động của ngân hàng với vai trò trung
gian trong quan hệ vay mượn giữa người có vốn và người cần vốn. Khi kinh
tế hàng hóa phát triển cao, nhiều hình thức huy động vốn mới linh hoạt hơn
nảy sinh và phát triển, góp phần tốt hơn vào việc giải quyết cân đối giữa cung
và cầu về các nguồn lực tài chính trong xã hội, làm xuất hiện các công cụ huy

khoáng( cổ phiếu, trái phiếu,…), bất động sản, các đồng tiền,….
Trang 3
Carliss
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
CHƯƠNG II: YẾU TỐ CẦN ĐỂ ĐƯA RA MỘT QUYẾT ĐỊNH ĐẦU
TƯ TÀI CHÍNH
1. Phân tích thị trường chứng khoán
Đối với bất kỳ một quốc gia nào, môi trường xã hội và chính trị luôn có
những tác động nhất định đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp. Các
điều kiện kinh tế vĩ mô sẽ ảnh hưởng đến những quyết định mua bán các loại
hàng hoá “tài chính” trên thị trường đầu tư - thông qua thị trường chứng
khoán. Đó là những rủi ro do những yếu tố nằm ngoài công ty và gây nên
những ảnh hưởng rộng rãi đến thị trường tài chính.
• Lạm phát
Lạm phát là sự mất giá của đồng tiền làm thay đổi hành vi tiêu dùng và
đầu tư của dân cư. Lạm phát thường được đo qua chỉ số giá tiêu dùng.
Kinh nghiệm từ các nước phát triển cho thấy lạm phát và thị truờng chứng
khoán có mối liên hệ nghịch chiều, bởi lẽ xu hướng của lạm phát xác định
tính chất tăng trưởng. Lạm phát tăng cao luôn là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế
đang nóng, báo hiệu sự tăng trưởng kém bền vững, trong khi thị trường chứng
khoán như chiếc nhiệt kế đo sức khỏe nền kinh tế.
Khi lạm phát tăng cao, tiền mất giá, người dân không muốn giữ tiền mặt
hoặc gửi tiền trong ngân hàng mà chuyển sang nắm giữ vàng, bất động sản,
ngoại tệ mạnh khiến một lượng vốn nhàn rỗi đáng kể của xã hội nằm im
dưới dạng tài sản “chết”. Thiếu vốn đầu tư, không tích lũy để mở rộng sản
xuất, sự tăng trưởng của doanh nghiệp (DN) nói riêng và cả nền kinh tế nói
chung sẽ chậm lại.
Lạm phát tăng cao còn ảnh hưởng trực tiếp tới các DN, dù hoạt động kinh
doanh vẫn có lãi, chia cổ tức ở mức cao nhưng tỷ lệ cổ tức khó gọi là hấp dẫn
khi lạm phát cao. Điều này khiến hoạt động đầu tư tài chính không còn là

một sự gia tăng trong cung tiền sẽ làm gia tăng thanh khoản và tín dụng cho
Trang 5
Carliss
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
nhà đầu tư cổ phiếu dẫn đến giá các chứng khoán cao hơn. Jiranyakul (2009),
Mukherjee và Naka (1995), Kwon và Shin (1999) cũng đã nhận thấy rằng có
một mối quan hệ thuận chiều giữa cung tiền và biến động giá chứng khoán,
nghĩa là cung tiền tăng lên sẽ dẫn đến sự tăng trưởng và phát triển ổn định
hơn cho thị trường chứng khoán.
• Tỷ giá hối đoái
Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và thu nhập từ chứng khoán được rất
nhiều nhà nghiên cứu nghiên cứu giải thích, tuy nhiên, kết quả của những
nghiên cứu này vẫn không thống nhất được chiều ảnh hưởng của tỷ giá lên giá
chứng khoán.
Về mặt lý thuyết có 3 cách tiếp cận mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và
giá chứng khoán:
Đầu tiên, theo cách tiếp cận của Dornbusch và Fisher (1980) cho thấy mối
quan hệ cùng chiều giữa giá chứng khoán và tỷ giá. Hai ông lý luận: một khi
đồng tiền trong nước được định giá thấp sẽ làm cho những DN trong nước
tăng tính cạnh tranh hơn, kết quả làm gia tăng trong hoạt động xuất khẩu của
họ. Điều này làm cho giá cổ phiếu của những DN này tăng lên.
Tuy nhiên, kết quả sẽ hoàn toàn ngược lại nếu như những DN này sử dụng
nhiều chi phí nhập khẩu cho đầu vào trong sản phẩm của họ. Sự gia tăng chi
phí trong sản phẩm do đồng tiền trong nước được định giá thấp có thể làm
cho doanh thu và lợi nhuận của họ giảm, điều này sẽ làm cho giá cổ phiếu của
những DN này giảm.
Một cách tiếp cận khác bằng mô hình cân bằng danh mục đầu tư về tỷ giá,
Branson (1983) đã chứng minh rằng: quan hệ giữa tỷ giá và giá cổ phiếu là
ngược chiều. Nguyên nhân tạo ra kết quả này có thể được giải thích từ chiều
tác động của giá cổ phiếu lên tỷ giá. Trong mô hình này, những nhà đầu tư cá

Trang 7
Carliss
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
DN này nhập khẩu nhiều chi phí cho đầu vào ở nước ngoài thì giá cổ phiếu có
thể sẽ không tăng khi đó chi phí cho sản phẩm của doanh nghiệp sẽ tăng làm
cho DN giảm tính cạnh tranh.
Mặt khác, những DN không xuất khẩu những sản phẩm của họ đến quốc
gia khác nhưng lại nhập khẩu nguyên liệu thô có thể giá cổ phiếu của chúng
sẽ giảm khi đồng tiền trong nước được định giá thấp có thể nguyên nhân làm
cho doanh thu hoặc lợi nhuận của họ giảm.
Tóm lại, mối quan hệ giữa tỷ giá với chỉ số giá chứng khoán là một câu
hỏi thực nghiệm. Những nghiên cứu thực nghiệm ở các thị trường khác nhau
sẽ cho ra những kết quả khác nhau (có mối quan hệ cùng chiều, ngược chiều
hay thậm chí không có mối liên hệ ràng buộc nào giữa TTCK và tỷ giá).
• Giá vàng
Vàng khác với các tài sản khác bởi vì tiềm năng đối với vàng là tính thanh
khoản cao và nó phản ứng với những thay đổi giá (Lawrence, 2003, dẫn từ
Nguyễn Thị Hòa, 2011). Sự biến động của giá vàng ảnh hưởng đến phần lớn
các nền kinh tế trên thế giới trong đó có thị trường tài chứng khoán. Các nhà
đầu tư có thói quen sử dụng chiến lược quản trị rủi ro đơn giản là đa dạng hóa
trong danh mục đầu tư của họ các hàng hóa có cả đầu tư vàng hoặc dầu vì hai
khoản đầu tư này thường có mối quan hệ nghịch đảo với xu huớng của thị
trường chứng khoán.
Nỗi sợ hãi của người Mỹ được đo bằng chỉ số biến động của thị trường
(VIX - Volatility Index). Vàng và chỉ số biến động của thị trường có quan hệ
nhân quả theo chiều giá vàng tăng thì độ hỗn loạn của nền kinh tế tăng. Khi
giá vàng biến động tăng điều này có nghĩa là thị trường đang hoảng loạn và từ
đó làm giảm đi niềm tin của nhà đầu tư. Các nhà đầu tư thường đầu tư vàng,
cả trực tiếp và gián tiếp để phòng ngừa rủi ro.
Trang 8

Trang 9
Carliss
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
- Phân tích cơ bản để biết sức cạnh tranh về tài chính của công ty
xem công ty vững mạnh đến mức nào, liệu có chịu nổi qua một
năm kinh doanh yếu kém hoặc một cuộc suy thoái kinh tế hay
không, công ty có nhiềi nợ nần hay không. Để từ đó đưa ra
những quyết định đầu tư.
b) Phân tích kỹ thuật
Phân tích kỹ thuật là một phương pháp phân tích chứng khoán dự
báo hướng của giá cả thông qua việc nghiên cứu các dữ liệu thị trường
quá khứ, chủ yếu là giá cả và khối lượng.
Phân tích kỹ thuật sử dụng các mô hình và quy tắc trao đổi dựa trên
các biến đổi giá cả và khối lượng, chẳng hạn như chỉ số sức mạnh
tương đối, trung bình động, hồi quy, mối tương quan giá cả liên thị
trường và nội thị trường, chu kỳ kinh doanh, chu kỳ thị trường chứng
khoán hoặc, theo cách cổ điển, thông qua sự công nhận của các mẫu
hình biểu đồ.
Phân tích kỹ thuật là trái ngược với cách tiếp cận phân tích cơ bản
đối với phân tích chứng khoán và cổ phiếu. Phân tích kỹ thuật phân tích
giá cả, khối lượng và thông tin thị trường khác, trong khi phân tích cơ
bản nhìn vào các sự kiện của công ty, thị trường, tiền tệ hoặc hàng hóa.
Hầu hết các nhà môi giới lớn, nhóm hoạt động trao đổi, hoặc tổ chức tài
chính thường sẽ có cả hai đội ngũ phân tích kỹ thuật và phân tích cơ
bản.
Phân tích kỹ thuật được sử dụng rộng rãi trong các thương nhân và
các chuyên gia tài chính và được sử dụng thường xuyên bởi các thương
nhân trong ngày tích cực, các nhà tạo lập thị trường và các thương nhân
trên sàn. Trong những năm 1960 và 1970 nó đã bị các học giả gạt bỏ
rộng khắp. Trong một nghiên cứu gần đây, Irwin và Park[13] báo cáo

TRIỂN
1. Các tổ chức tham gia đầu tư tài chính
a) Các ngân hàng đầu tư
Hoạt động đầu tư ngoài ngành những năm trước, thực chất có dính dáng
đến nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. Hiện nay không chỉ các tập đoàn, tổng công
ty, một số ngân hàng cũng đang rời bỏ mảng đầu tư. Công ty chứng khoán
Ngân hàng Á Châu (ACBS), một công ty con của ACB đã bán gần như toàn
bộ các khoản đầu tư vào các ngân hàng khi kết thúc năm tài chính 2012.
Nguồn tin của phóng viên cho biết những khoản đầu tư vào các doanh nghiệp
còn lại, ACBS sẽ tìm người mua và chuyển nhượng hết mức tối đa có thể
trong năm nay.
Một số ngân hàng khác đang tập trung rút lại những khoản ủy thác đầu tư
hoặc trái phiếu doanh nghiệp không chỉ vì hai nghiệp vụ này phải được tính
vào tăng trưởng tín dụng và trích lập dự phòng rủi ro, mà còn vì nó cũng liên
quan đến mảng ngân hàng đầu tư. Một số trái phiếu doanh nghiệp có tính
chuyển đổi và trong trường hợp doanh nghiệp không trả được gốc và lãi, trái
phiếu được chuyển thành cổ phần cho ngân hàng.
Tuy nhiên sở hữu chéo (ngân hàng nắm giữ cổ phần của nhau), một hình
thức của ngân hàng đầu tư, lại đang được xử lý rất chậm, thậm chí hầu như
ách tắc. Không phải ngân hàng nào cũng quyết liệt bán ra cổ phần các ngân
hàng khác trị giá tới hơn 5.000 tỷ đồng như ACB. ACB chủ trương không chỉ
các khoản đầu tư có lời mới thanh lý, mà họ chuyển nhượng vì thay đổi chiến
lược phát triển ngân hàng.
b) Các quỹ đầu tư, công ty chứng khoán
Trang 12
Carliss
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Trên thế giới, quỹ đầu tư có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát
triển của thị trường chứng khoán. Lực lượng quỹ đầu tư thường chiếm 30-
50% giá trị giao dịch thị trường, với tỷ lệ tương ứng trong việc nắm giữ cổ

tại Việt Nam đang có 32 quỹ đầu tư có tên tuổi và công khai thông tin đang
hoạt động (còn khá nhiều quỹ đầu tư và NĐT tổ chức khác hoạt động ở trên
thị trường song LCF Rothschilds không thể thu thập được số liệu trong báo
cáo). Theo báo cáo này, đa số các quỹ hoạt động ở thị trường Việt Nam đều có
thời gian hoạt động từ 5-10 năm và đầu tư vào nhiều dạng tài sản như: cổ
phiếu, trái phiếu, đầu tư vốn trực tiếp, bất động sản, cơ sở hạ tầng và nguồn
tài nguyên. Tổng giá trị tài sản ròng của các quỹ đầu tư tại thời điểm
16/04/2012 là: 4,1 tỷ USD. Như vậy, so với lúc đỉnh cao (có tổng tài sản lên
tới 6 tỷ USD) thì tại thời điểm này rõ ràng tính trung bình các quỹ ngoại đã
thua lỗ hơn 31%
Theo nhiều chuyên gia, với lĩnh vực quản lý quỹ, nhà đầu tư thường dựa
vào mức chiết khấu để xem xét tương lai của quỹ. Nếu mức chiết khấu âm lớn
cho thấy tương lai không tốt đẹp của quỹ, ngược lại nếu mức chiết khấu lớn
hơn 0 cho thấy tương lai của quỹ đó rất tốt. Số liệu gần đây cho thấy mặc dù
TTCK Việt Nam đã phục hồi khá tốt nhưng giá trị chiết khấu vẫn còn âm rất
lớn. Gần như tất cả các quỹ trên đều có mức chiết khấu âm, đặc biệt là quỹ
DWS Vietnam Fund (do Deutsche Bank quản lý) âm tới mức -40,6%, chỉ duy
nhất FTSE Vietnam Index ETF có mức chiết khấu dương bằng 2,2. Các quỹ
nội địa đa số có mức chiết khấu gần - 30%, trừ VFMVFA (Quỹ đầu tư năng
động của VFM) là có mức chiết khấu thấp nhất -22%.
Trong một báo cáo mới hơn cũng của Công ty này (ngày 5/6) về cập nhật
kết quả hoạt động của hơn 100 quỹ đầu tư toàn cầu, LCF Rothschild cũng tái
khẳng định, NAV của hầu hết các quỹ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đều
tăng trưởng âm, nhất là các quỹ đầu tư tư nhân. Đơn cử, tính đến ngày
Trang 14
Carliss
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
5/6/2012 quỹ PCA Vietnam Segregated Portfolio có mức chiết khấu so với
NAV là -21,2% trong khi Vietnam Resource Investment là -27,5%
2. Tình hình đầu tư tài chính ở Việt Nam hiện nay

hàng với công ty bảo hiểm, chứng khoán, giữa các ngân hàng với nhau…
Đến nay, hệ thống ngân hàng vẫn đóng vai trò chi phối trên thị trường
vốn. Thị trường cổ phiếu tuy đã được chú ý phát triển song song với tiến trình
cổ phần hóa DN nhà nước (DNNN), nhưng quy mô thị trường cổ phiếu vẫn
nhỏ. Mức độ vốn hóa trên thị trường (của các công ty niêm yết) so với GDP
đã được cải thiện và đạt 39%/GDP vào năm 2010 nhưng lại giảm mạnh xuống
còn 26% vào năm 2012 (cho dù TTCK Việt Nam vẫn được đánh giá là một
trong số các nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới). Vì thế, khi tín
dụng cho nền kinh tế giảm, hệ số giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng
kinh tế giảm (năm 2010 là 4,8 lần, năm 2012 giảm còn 1,76 lần, 9 tháng năm
2013 chỉ còn 1,2 lần), điều này đã ảnh hưởng lớn đến công việc làm của
người lao động.
Mặc dù là thị trường cung cấp vốn chủ yếu cho DN nhưng do khó khăn từ
nền kinh tế, khó khăn từ nội tại các DN và ngân hàng, những điểm nghẽn của
nền kinh tế (nợ xấu, hàng tồn kho) không được giải quyết rốt ráo, trong khi
giá vốn rất cao (lãi suất cho vay bình quân năm 2012 ở mức 13-15%/năm,
năm 2013 ở mức 10 -12%/năm), quá sức chịu đựng của DN. Tình trạng nhiều
DN không tiếp cận được vốn, trong khi hàng tồn kho tăng cao (năm 2012
bình quân khoảng 28-30%; 9 tháng năm 2013 tăng bình quân 9,3%), năng lực
cạnh tranh thấp, kinh doanh thua lỗ (tính đến 30/9/2013, số DN kê khai lỗ
chiếm gần 66%)… dẫn đến nhiều DN phá sản, ngừng hoạt động, giải thể, kéo
theo cầu về vốn giảm mạnh, khiến tăng trưởng tín dụng năm 2012 chỉ dừng
lại ở con số 8,91% so với mục tiêu được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đưa
Trang 16
Carliss
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
ra là 15-17%, 9 tháng đầu năm 2013 tăng 6,14% so với chỉ tiêu 12%/năm. Nợ
xấu và tốc độ tăng nợ xấu. Điều này không có nghĩa là chất lượng nợ tốt lên
mà do hệ thống ngân hàng đã cơ cấu lại nợ, chiếm khoảng 10% tổng dư nợ,
sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý khoảng 3%, bán nợ xấu qua Công ty Quản

trưởng 193,9%, thị trường TPDN tăng trưởng 127% và TTTP chính quyền địa
phương tăng trưởng 92,4%.
Có được sự tăng trưởng trên, một phần quan trọng là trong thời gian qua,
Bộ Tài chính đã thực hiện điều hành lãi suất phát hành phù hợp với lãi suất
của thị trường. Đặc biệt, từ năm 2012 đến nay, lãi suất phát hành TPCP và trái
phiếu được Chính phủ bảo lãnh đã giảm hoàn toàn tương ứng với điều hành
giảm lãi suất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).Cụ thể, lãi suất phát hành
TPCP đã giảm từ 3,10% đến 6,0% đối với các kỳ hạn dưới 10 năm, giảm
2,20% đối với kỳ hạn 10 năm. Phương thức phát hành TPCP đã chuyển dịch
dần từ bảo lãnh sang đấu thầu. Trước năm 2010, TPCP được phát hành chủ
yếu qua phương thức bảo lãnh (chiếm trên 80% khối lượng phát hành). Từ
năm 2011 đến nay, TPCP được phát hành chủ yếu bằng phương thức đấu thầu
(chiếm đến 95% khối lượng phát hành).
Cơ cấu nhà đầu tư TPCP và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh chưa có
chuyển biến, vẫn tập trung chủ yếu vào các ngân hàng thương mại (chiếm đến
86,7% khối lượng trái phiếu đang niêm yết). TTTP trong nước vẫn chưa thực
sự thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài (chiếm 13,33% khối lượng trái
phiếu đang niêm yết).
Đối với trái phiếu chính quyền địa phương, giai đoạn 2003 - 2011, trên
quy mô toàn quốc, có 3 tỉnh/ thành phố là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đồng
Nai phát hành đạt 15.697 tỷ đồng. Năm 2012, có 2 tỉnh/ thành phố phát hành
trái phiếu là TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, với tổng khối lượng phát hành là
Trang 18
Carliss
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
4.810 tỷ đồng. Trong 9 tháng đầu năm 2013, có 3 tỉnh/thành phố phát hành
trái phiếu là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Quảng Ninh phát hành đạt
3.820 tỷ đồng. Tính đến 31/12/2012, dư nợ trái phiếu chính quyền địa phương
đạt 9.125 tỷ đồng, tương đương khoảng 0,31% GDP 2012. Tính đến
30/9/2013, dư nợ trái phiếu chính quyền địa phương đạt 12.389 tỷ đồng.

đang được thực hiện, tổng lượng TPDN phát hành trong năm 2013 có thể lên
tới 34.000 tỷ đồng (gấp đôi năm 2012). Một trong những doanh nghiệp thành
công nhất trong việc phát hành TPDN là Tập đoàn Công nghiệp Than -
Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin).
Trang 20
Carliss
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Cụ thể, cuối tháng 8 vừa qua, Vinacomin đã phát hành thành công 5.000 tỷ
đồng trái phiếu, gấp 1,7 lần khối lượng dự kiến là 3.000 tỷ đồng khi tập đoàn
này bắt đầu thăm dò thị trường.
Tương tự, Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Đầu tư và Phát triển Việt
Nam (BIDV) phát hành thành công trái phiếu 10 năm, với kết quả vượt 5% so
với mục tiêu 3.000 tỷ đồng ban đầu và vượt gần 60% so với con số 2.000 tỷ
đồng khi ngân hàng này thăm dò nhu cầu thị trường hồi quý II/2013.
Trước đó không lâu, Công ty cổ phần (CTCP) Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai
(HAG) thu được 950 tỷ đồng từ trái phiếu bằng việc phát hàng 950 trái phiếu,
mệnh giá 1 tỷ đồng/trái phiếu. Số trái phiếu được HAG phát hành lần này có
kỳ hạn 3 năm và lãi suất kỳ tính lãi đầu tiên 14%/năm.
Trong tháng 7, CTCP Đại lý vận tải SAFI (SFI) cũng thông báo đã phát
hành hết 20 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi. Số trái phiếu này được SFI phát
hành với mệnh giá 100.000 đồng/trái phiếu, lãi suất 9%/năm. Theo kế hoạch
trái phiếu sẽ đáo hạn vào ngày 4/7/2014.
Trong một thông báo mới đây, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng
(VPBank) cho biết sẽ phát hành 2.500 tỷ đồng trái phiếu với kỳ hạn 10 năm 1
ngày. trái phiếu có mệnh giá 1 tỷ đồng, tiền lãi trái phiếu được trả sau định kỳ
hàng năm với lãi suất 5 năm đầu tối đa 10,6%/năm. Sau thời gian này nếu
VPBank không thực hiện cam kết mua lại lãi suất áp dụng tối đa 11%/năm.
Số tiền thu được từ đợt phát hành VPBank sẽ dùng để gia tăng nguồn vốn
trung, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, cho vay các dự án trong dài
hạn của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác. Theo dự báo của giới

Carliss
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
trong 10 tháng năm nay kể cả vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm đạt
10,48 tỷ USD, bằng 75,3% so với cùng kỳ năm 2011. Tuy lượng vốn đăng ký
giảm sâu, nhưng vốn đầu tư thực hiện đạt tương đương với cùng kỳ năm trước
(bằng 98,9%). Đây là tín hiệu khả quan để cả năm có thể đạt xấp xỉ 11 tỷ
USD, tương đương với 4 năm trước và cũng là một kết quả tích cực góp phần
làm cho cán cân vốn tài chính có số dư và góp phần cải thiện cán cân thanh
toán tổng hợp, làm tăng dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá. Mục tiêu là tiếp tục
thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đã cam kết; thu hút đầu
tư vào các vùng, các lĩnh vực ưu tiên với trọng tâm là các dự án sử dụng công
nghệ cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh.
Nhận định về sự phát triển của thị trường, Chủ tịch Tập đoàn VinaCapital
Horst F.Geicke cho biết, Chính phủ Việt Nam đã ứng phó rất tốt với khủng
hoảng toàn cầu, việc suy giảm tạm thời của dòng vốn đầu tư nước ngoài mới
sẽ không ảnh hưởng đến hoạt động và kế hoạch của VinaCapital. VinaCapital
sẽ chủ động trong các giao dịch và hoạt động đầu tư do còn lượng tiền mặt
trong các quỹ đạt trên 300 triệu USD và kêu gọi vốn thành lập quỹ mới để đẩy
Trang 23
Carliss
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
mạnh đầu tư và tiếp tục quảng bá Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài
trên khắp thế giới.
Vừa qua, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã cam kết cấp tối đa cho
Việt Nam khoản vay trị giá gần 4 tỷ USD, bên cạnh khoản hỗ trợ kỹ thuật
không hoàn lại gần 25 triệu USD từ năm 2013-2015 cho thấy sự tin tưởng của
hệ thống ngân hàng thế giới vào hoạt động tài chính, tín dụng của Việt Nam.
Tính đến cuối tháng 3 năm nay, danh mục của Ngân hàng Phát triển châu Á
dành cho Việt Nam gồm 59 khoản vay và 48 dự án hỗ trợ kỹ thuật đạt giá trị

Bị mờ mắt bởi khoản lợi nhuận có thể xảy ra của một khoản đầu tư
có thể khiến bạn lạc lối, bởi lợi nhuận cũng đi kèm rủi ro. Khi nghe
người ta nói về vụ đầu tư với cổ tức đáng kinh ngạc, hoàn trái khổng lồ
hay lợi nhuận tuyệt vời ta có thể lao ngay vào đầu tư mà không xem xét
các rủi ro kèm theo. Lời khuyên là bạn nên thường xuyên dừng lại một
chút và cân nhắc xem tại sao lợi tức của khoản đầu tư lại cao như vậy,
rồi mới quyết định có đáng hay không khi chấp nhận rủi ro như thế chỉ
để đổi lấy một phần thưởng phù du.
Thiếu kiên nhẫn
Thiếu kiên nhẫn chính là điều đã giết chết nhiều nhà đầu tư khôn
ngoan. Không đợi giai đoạn suy thoái qua đi hoặc giả định cổ phiếu
đang trong giai đoạn đáng giá nhất và bán nó quá sớm, dù đó là khoản
đầu tư ổn định, có thể khiến bạn thấy hối tiếc.
Ví dụ, một nhà đầu tư từng đầu tư vào cổ phiếu của Tập đoàn khách
sạn Hilton. Nhà đầu tư này đã mua cổ phiếu với giá 10 USD. Khi cổ
phiếu chạm mốc 14 USD và duy trì mức giá này trong vài tháng, ông đã
mất niềm tin dù vẫn biết rằng cổ phiếu này là một sự đầu tư vững chắc.
Lúc đó ông không cần tiền nhưng lại trở nên mất kiên nhẫn và bán tháo
cổ phiếu, thu về lợi nhuận. Vài năm sau, cổ phiếu Hilton được mua lại
với giá 40 USD một cổ phiếu. Sự thiếu kiên nhẫn thắng thế, nhà đầu tư
mất một khoản lớn.
Trang 25
Carliss


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status