Tiểu luận
Thực trạng vận dụng quy luật
giá trị vào nền kinh tế nước ta
thời gian qua và những giải
pháp đề ra nhằm vận dụng quy
luật giá trị vào nền kinh tế Việt
Nam.
LỜI NÓI ĐẦU
Đứng trước xu thế phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới thì nước
Việt Nam ta còn là một trong những nước có nền kinh tế chậm phát triển,
nghèo nàn và lạc hậu. Cơ sở hạ tầng thấp kém, trình độ quản lý lạc hậu, khoa
học kỹ thuật kém phát triển hơn nữa nạn thất nghiệp, tham ô lạm phạt, ô
nhiễm môi trường vẫn luôn là một trong những vấn đề bức xúc chưa hạn
chế được. Tuy vậy ta cũng không thể một sớm một chiều mà có thể khắc phục
được những yếu điểm đó mà ta phải dần dần khắc phục. Song hành với nó ta
phải liên tục vận dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật và kinh tế để
phát triển đất nước.
Đất nước Việt Nam ta đang đứng trước những khó khăn lớn về mọi mặt
quy luật biểu hiện bản chất xã hội cơ bản của một hình tháI xã hội nào ,các
biểu hiện cụ thể của nó phụ thuộc vào quy luật kinh tế cơ bản của phương
thức sản xuất nhất định.
Quy luât giá trị là quy luật của sản xuất và trao đổi hàng hoá.Sản xuất và
trao đổi hàng hoá phảI dựa trên cơ sở lượng giá trị hàng hoá hay thời gian lao
động xã hội cần thiết.
Quy luật giá trị quy định viêc sản xuất và trao đổi hàng hoá phảI tiến
hành trên cơ sở hao phí lao động xã hội tất yếu.Có nghĩa là giá trị hàng hoá do
lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá tạo nên và lượng giá trị của
hàng hoá cá biệt phảI phù hợp với lượng lao động xã hội tất yếu để làm ra
loạI hàng hoá đó.Trao đổi phảI tiến hành trên nguyên tắc ngang giá.Đó là yêu
cầu của quy luât giá trị.
Quy luật giá trị vận động thông qua sự vân động của giá cả hàng hoá,chỉ
có thông qua sư vận động lên xuống của giá cả thị trường mới thấy dược sịư
hoạt động của quy luật giá trị.Giá cả thị trường lên xuống một cách tự phát,
xoay quanh giá trị,là sản phẩm của nền kinh tế tự do cạnh tranh,vô chính phủ
và biểu hiện sự tác động của quy luật giá trị trong đIều kiện sản xuất và trao
đổi hàng hoá tự nhiên.
Sựvận động của quy luật giá trị thông qua sự vân động của giá cả hàng
hoá vì giá trị là cơ sở của giá cả,nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị.
Hàng hoá nào nhiều giá trị thì giá cả của nó sẽ cao và ngược lại.Trên thị
trương ngoàI giá trị,giá cả con phụ thuộc vào các nhân tố như cạnh tranh,cung
cầu,sức mua của đồng tiền.Sự tác động của các nhân tố này làm cho giá cả
hàng hoá trên thị trường tách rời với giá trị và lên xuống xoay quanh trục giá
trị của nó.Sự vận động của giá cả thị trườngcủa hàng hoá xoay quanh trục giá
trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị.Quy luật giá trị phát
huy tác dụng thông qua sự vận động của giá cả thị tường.
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và trao đổi
hàng hoá. Do đó ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự xuất
hiện và hoạt động của quy luật giá trị. Mọi hoạt động của các chủ thẻ kinh tế
và sức lao động giữa các ngành sản xuất thông qua sự biến động của giá cả
hàng hoá. Như đã nói trên, do ảnh hưởng của quan hệ cung cầu giá cả hàng
hoá trên thị trường lên xuống xoay quanh giá trị của nó. Nếu một ngành nào
đó, cung không đáp ứng cầu, giá cả hàng hoá lên cao thì những người sản
xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất. Những người đang sản xuất hàng hoá sẽ
thu hẹp quy mô sản xuất để chuyển sang sản xuất loại hàng hoá này. Như vậy,
tư liệu sản xuất, sức lao động và vốn được chuyển vào ngành này tăng lên,
cung về loại hàng hoá này trên thị trường sẽ tăng cao. Ngược lại khi ngành đó
thu hút quá nhiều lao động xã hội, cung vượt cầu, giá cả hàng hoá hạ xuống,
thì người sản xuất sẽ phải chuyển bớt tư liệu sản xuất và sức lao động ra khỏi
ngành này để đầu tư vào nơi có giá cả hàng hoá cao. Nhờ vậy mà tư liệu sản
xuất và sức lao động được phân phối qua lại một cách tự phát vào các ngành
này để d dầu tư vào nơi có giá cả hàng hoá cao. Nhờ vậy mà tư liệu sản xuất
và sức lao động được phân phối qua lại một cách tư phát vào các ngành sản
xuất khác nhau. Ở đây ta thấy rằng sự biến động của giá cả xung quanh giá trị
không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế mà còn có tác động điều tiết nền
kinh tế.
Ngoài ra ta còn thấy quy luật giá trị cũng điều tiết và lưu thông hàng hoá.
Hàng hoá bao giờ cũng vận động từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao. Quy
luậ giá trị có tác dụng điều tiết sự vận động đó, phân phối các nguồn hàng hoá
một cách hợp lý hơn trong nước.
1.2.2.2.Quy luật giá trị kích thích cải tiến kĩ thuật,hợp lý hoá sản xuất
nhằm tăng năng suất lao động.
Trong nền kinh tế hàng hoá, người sản xuất hàng hoá nào cũng mong có
nhiều lãi. Người có nhiều lãi hơn là người có thời gian lao động cá biệt ít hơn
hoặc bằng thời gian lao động xã hội cần thiết. Còn những người có thời gian
lao động cá biệt lớn hơn thời gian lao động xã hội cần thiết thì sẽ bị lỗ không
thu về được toàn bộ lao động đã hao phí. Muốn đứng vững và thắng trong
cạnh tranh, mỗi người sản xuất đều luôn luôn tìm cách rút xuống đến mức tối
thiểu thời gian lao động cá biệt. Muốn vậy, những người sản xuất phải tìm
triển của lực lượng sản xuất quyết định, trong đó toàn bộ quá trình từ sản
xuất tới trao đổi, phân phối và tiêu dùng đều thực hiện thông qua thị trường.
Đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường là các chủ thể tự do lựa chọn các
hình thức sở hữu, phương thức kinh doanh, ngành nghề mà luật pháp không
cấm. Mọi hoạt động kinh tế đều diễn ra theo quy luật của nó, sản xuất và bán
hàng hoá theo yêu cầu của thị trường, bán cái gì mà thị trường cần chứ không
phải bán cái mình có, tiền tệ hoá các quan hệ kinh tế, các chủ thể được theo
đuổi lợi ích chính đáng của mình.
Mô hình kinh tế của Việt Nam được xác định là nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần,vận động theo cơ chế thi trường có sự quản lý của nhà
nước,định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nói đến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa la nền
kinh tế của chúng ta không phảI là kinh tế quản lý theo kiểu tập trung quan
liêu bao cấp như trước đây nhưng đó cũng không phảI là nền kinh tế thị
trường tự do giống như các nước tư bản.Tức là không phảI thị trường tư bản
chủ nghĩa,cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.Chúng
ta đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,còn có sự đan xen và đấu
tranh gữa cái cũ và cái mới,vừa có,vừa chưa có đầy đủ yếu tố xã hội chủ
nghĩa.
Hiện nay,nền kinh tế thị trường của nước ta còn ở tình trạng kém phát
triển,cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu, thấp kém,nền kinh tế ít nhiều còn
mang tính tự cấp tự túc.Tuy nhiên,nước ta không lặp lai hoàn toàn quá trình
phát triển kinh tế của các nước đI trước:kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển lên
kinh tế thị trường tự do,rồi từ kinh tế thị trương tự do chuyển lên kinh tế thị
trường hiện đại.Nước ta xây dựng nền kinh tế thị trương hiện đạI,định hướng
xã hội chủ nghĩa theo kiểu rút ngắn.ĐIều này cí nghĩa là phảI đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đạI hoá để phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất,trong
một thời gian tương đối ngắn xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đạI
để nền kinh tế nước ta bắt kịp với trình độ phát triển chung của thế giới,đồng
thời phảI hình thành đồnh bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
cạnh tranh giữa các thành viên tham gia thị trường mà động lực thúc đẩy họ là
lợi nhuận. Vì vậy thông qua lỗ, lãi mà cơ chế thị trường quyết định các vấn đề
kinh tế cơ bản: sản xuất là gì? sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai?
Như đã trình bày ở trên cơ chế thị trường không những chỉ có những ưu
điểm mà còn có cả những khuyết tật không thể tránh khỏi. Đó là, gây nên sự
phân hoá dẫn đến phá sản của người sản xuất kinh doanh, gây lãng phí kinh
tế, các hiện tưọng buôn gian, bán lận, đầu cơ, làm hàng giả, phá hoại môi
sinh. Vì vậy trong cơ chế thị trường Nhà nước cần quản lý, điều tiết theo định
hướng mục tiêu đã định, hạn chế các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường. Dưới
quyền chỉ đạo của Nhà nước thì nèn kinh tế thị trường sẽ phát triển vững chắc
hơn và việc vận dụng các quy luật vào việc phát triển kinh tế sẽ trở nên thấu
đáo hơn, có hiệu quả hơn trong phát triển kinh tế.
1.3.3.Tính chất của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam,một mặt vừa có những tính chất chung của nền kinh tế thị trường,mặt
khác kinh tế thị trườnh định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dựa trên cơ
sở và đựoc dẫn dắt,chi phối bởi nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã
hội.Do đó,kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa co những đạc trưng
riêng.
Thứ nhất,về mục tiêu phát triển kinh tế thị trường.Muc tiêu hàng đàu của
nước ta làgiảI phóng sức sản xuất,động viên mọi nguồn lực trong nướcvà
ngoàI nước để thưc hiện công nghiệp hoá ,hiên đạI hoá,xây diưng cơ sở vật
chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ,nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội ,cảI thiện
từng bước đời sống nhân dân.
Thứ hai,nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần,trong đó kinh tế
nha nước giữ vai trò chủ đạo.Trong nền kinh tế nước ta tôn tạI ba loạI hình sở
hữu cơ bản là sở hữu toàn dân,sở hữu tập thể,sở hữu tư nhân.Tư ba loạI hình
sở hữu cơ bản đó hình thành nên năm thành phần kinh tế .Đó là kinh tế nhà
nước,kinh tế tập thể,kinh tế cá thể ,tiểu chủ,kinh tế tư bản tư nhân,kinh tế tư
bản nhà nước,kinh tế có vôn đầu tư nước ngoài.Trong đó kinh tế nhà nước giữ
2.1.2Việc vân dụng quy luật giá trị thời gian sau đổi mới.
Không một nền kinh tế nào có thể coi là hoàn thiện, là phát triển tốt tuyệt
đối cho dù đó có là nền kinh tế của một quốc gia phát triển nhất thế giơí đi
nữa. Lúc nào nó cũng chứa những mặt trái, những mặt còn chưa tốt, những
hạn chế cần được tiếp tục khắc phục. Việc áp dụng các quy luật kinh tế vào
việc vận hành và quản lý nền kinh tế của một quốc gia luôn luôn tiềm ẩn
những nguy cơ đổ vỡ nền kinh tế do vận dụng không đúng cách, không đúng
yêu cầu thực tế. Đó vẫn là một trong những vấn đề nan giải của rất nhiều quốc
gia trên thế giới, trong đó có cả nước Việt Nam của chúng ta. Vậy hiện nay,
chúng ta cần phải làm gì và làm như thế nào để phát triển nền kinh tế yếu
kém, lạc hậu đi lên một nền kinh tế mới phát triển hơn, hoàn chỉnh hơn.
Trước khi xét điều đó ta sẽ đi phân tích nền kinh tế nước ta trong những năm
gần đây để thấy được thực trạng nền kinh tế của đất nước.
Nền kinh tế của một quốc gia luôn luôn biến động cùng với nền kinh tế
thế giới. Để phát triển nền kinh tế thì vấn đề trước hết là ta phải biết bắt đầu
từ đâu, đã có những cái gì và chưa có được những gì, cái gì phải làm trước,
cái gì nên làm sau mới thực hiện. ở phần này chúng ta sẽ được rà soát một
lượt những vấn đề tồn tại trong nền kinh tế Việt Nam để có thể lưu tâm vạch
ra kế hoạch cho sự khắc phục và phát triển những yếu tố đó.
Thứ nhất, để phát triển nền kinh tế thì chúng ta cần phải có vốn, đó là
vấn đề đáng quan tâm hàng đầu của nước ta hiện nay. Vậy mà trên thực tế
những năm gần đây nước ta luôn trong tình trạng thiếu hụt nguồn vốn vì tổng
thu ngân sách luôn nhỏ hơn tổng chi ngân sách.
Thứ hai, là cơ sở vật chất của đất nước. Điều không thể không thừa nhận
là nước ta là cơ sở vật chất kém phát triển, chậm phát triển. Các khu công
nghiệp ít, hệ thống máy nước trang thiết bị lạc hậu. Cơ sở vật chất không đáp
ứng đủ cho việc thu hút vốn đầu tư của nước ngoài. Hệ thống giao thông
không thuộn lợi, kém phát triển, lại thêm sự ảnh hưởng của thiên nhiên và
môi trường càng làm cho hệ thống cơ sở vật chất của nước ta ngày càng bị sa
sút nghiêm trọng. Chính sách đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng còn chưa
nhân tố quan trọng nhất có vai trò quyết định trong phát triển kinh tế của đất
nước. Tuy rằng nước ta có một thể chế chính trị ổn định và tiến bộ nhưng khả
năng định hướng cho sự phát triển kinh tế còn nhiêù khuyết tật, mà lý do
chính là sự điều tiết hướng phát triển của nền kinh tế còn chưa phù hợp, gây ô
nhiễm môi trường, làm phân hoá giầu nghèo, nạn thất nghiệp ngày càng gia
tăng.
Nhận thức và vận dụng quy luạt giá trị thể hiện chủ yếu trong việc hình
thành giá cả. Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị, giá cả phải lấy gái trị
làm cơ sở thì mới có căn cứ kinh tế, mới có tác dụng kích thích tăng năng suất
lao động, cải tiến kỹ thuật, hạ tầng thành sản phẩm. Nhà nước phải chủ động
lợi dụng cơ chế hoạt hoạt động của quy luật giá trị nghĩa là khả năng giá cả
tách rời giá trị, và xu hướng đưa giá cả trở về giá trị. Thông qua chính sách
giá cả, Nhà nước vận dụng quy luật giá trị nhằm;
Thứ nhất là kích thích sản xuất phát triển. Đối với xí nghiệp quốc doanh,
chủ yếu là xây dựng một hệ thống giá bán buôn để đưa chế độ hạch toán kinh
tế đi vào nền nếp và có căn cứ vững chắc.
Thứ hai là điều hoà lưu thông hàng tiêu dùng. Trong chế độ kinh tế thị
trường, tổng khối lượng va cơ cấu hàng tiêu dùng do kế hoạch lưu chuyển
hàng hoá quyết định căn cứ vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,
mức tăng thu nhập quốc dân, và thu nhập bằng tiền của nhân dân, nhu cầu về
hàng tiêu dùng trong điều kiện sức mua khong đổi, nếu giá cả một loại hàng
nào đó giảm xuống thì lượng hàng tiêu thụ sẽ tăng lên và ngược lại. Nhà nước
có thể quy định giá cả cao hay thấp để ảnh hưởng đến khối lượng tiêu thụ một
số loại hàng nào đó nhằm làm cho nhu cầu và mức tăng của sản xuất về một
số hàng tiêu dùng ăn khớp với kế hoạch lưu chuyển hàng hoá của Nhà nước.
Thứ ba là phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân thông qua chính
sách giá cả, việc quy định hợp lý các tỷ giá, Nhà nước phân phối và phân phối
lại thu nhập quốc dân giữa các ngành nhằm phục vụ cho yêu cầu năng cao đồi
sống của nhân dân lao động.
Cuối cùng, nhận thức và vận dụng quy luật giá trị nói rộng ra là biết sử
tiêu dùng giảm từ 67,5%(1991) xuống còn 0,1%(1999)
Về cơ cấu GDP theo ngành đã có chuyển dịch tích cực theo hướng giảm
tỷ trọng của khu vực nông-lâm-ngư nghiệp và tăng tỷ trọng của khu vực công
nghiệp xây dựng và dịch vụ.Tuy nhiên tốc độ chuyển dịch còn chậm.Tốc độ
chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành tăng0,99% và 1,03% đối với ngành
xây dựng.Tình hình năm 2002 cũng phản ánh trạng tháI vận động nhiều năm
qua của nền kinh tế Việt Nam là công nghiệp và dịch vụ chưa tạo được số
việc làm tương ứng với mức tăng trưởng của hai khu vực này,khiến lực lượng
lao động mới vẫn phảI tìm kiếm việc làm chủ yếu trong khu vực nông nghiệp
vốn đã dư thừa quá nhiều lao động.
Đối với năng lực cạnh tranh dịch vụ của nước ta trong những năm gần
đây đã dược nâng cao,song cũng không ít những sản phẩm dịch vụ năng lực
cạnh tranh còn thấp.Nhóm các sản phẩm có khả năng cạnh tranh chủ yếu là
sản phẩm nông nghiệp,khoáng sản chưa qua chế biến ,tỷ lệ gia tăng còn
thấp.Những mặt hàng công nghiệp qua chế biến là những mặt hàng có tỷ lệ
lao động cao,dựa vào lợi thế so sánh về sự khéo léo,chi phí tiền công lao động
thấp.Tuy nhiên các mặt hàng này chưa có thương hiệu,chưa có kiểu dáng
riêng ,chưa tạo được cơ sở nguyên liệu,phụ liệu,cơ sở công nghệ và kỹ thuật
cần thiết,giá thành còn cao.Hàng thủ công mỹ nghệ có khả năng cạnh tranh
tương đối tốt song chất lượng thiếu ổn định,năng lực hạn chế,chưa đáp ứng
được các đơn hàng lớn.
Về vấn đề dân số,tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm nhiều.Tổng số lao
động,việc làm tăng,cơ cấu lao động có nhiều thay đổi.Xoá đói giảm nghèo đạt
thành tích cao.
2.2.Những giải pháp nhằm vận dụng quy luật giá trị vào n ền kinh tế
nước ta trong thời gian tới
2.2.1.Đầu tư vào việc nghiên cứu,ứng dụng và triển khai khoa học
công nghệ.
Trong tình trạng nước ta còn thiếu thốn trầm trọng khoa học kỹ thuật
như hiện nay,nứơc ta cần phảI hỗ trợ nhiều hơn nữa kinh phí cho các niện
Việt Nam.
Một trong những yếu tố then chốt để nâng cao khả năng cạnh tranh của
hàng hoá Việt Nam là cơ câu lạI và tăng cường năng lực cạnh tranh của khu
vưc doanh nghiệp,trong đó có vai trò quan trọng của khu vực nhà nước vì khu
vưc này nắm giữ phần lớn tàI sản quốc gia,nguồn lao động kỹ thuật,tàI
nguyên và giữ vai trò chủ đạo trong các thành phần kinh tế.Khu cực doanh
nghiệp cần xây dựng được chương trình cắt giảm chi phí sản xuất trong từng
công đoạn sản xuất với từng sản phẩm.Nhà nước thực hiện chính sách khuyến
khích nghiên cứu áp dụng đổi mới công nghệ,đầu tư đổi mới thiết bị sản
xuất.Tạo môI trường kinh doanh lành mạnh,xây dựng khuôn khổ chính sách
tạo đIều kiện cho doanh nghiệp tiến hành cơ cấu lạI sản xuất có hiệu quả,tăng
khả năng cạnh tranh.Hướng dẫn thực hiện pháp lệnh giá nhằm thực hiện kiểm
soát chi phí,kiểm soát độc quyền.Hạn chế độc quỳên của các doanh nghiệp
,nhà nước chỉ thực hiện trợ giá những mặt hàng thiết yếu quan trọng và một
số mặt hàng nông sản xuất khẩu.
Thực hiện chính sách hỗ trợ có đIều kiện trong một khoảng thời gian
nhất định để dần dần tăng năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm,mở rộng
thị trường trong nước và xuất khẩu.Bằng cách mở rộng quan hệ với các quốc
gia,các nứơc,hỗ trợ xúc tiến thương mạI ở các thị trường giàu tiềm năng.Tăng
cưòng đàu tư vào hoạt động nghiên cứu thị trường,hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư
ra nước ngoài.
Hoàn thiện và nâng cao hiệu lực của chính sách khuyến khích đầu tư sản
xuất,đạc biêt là hàng xuất khẩu,các vùng khó khăn.Chính sách phát triển các
vùng nguyên liệu để giảm chi phí sản xuất.
GiảI pháp phát triển nguồn nhân lực phảI được đặc biệt coi trọng.Trong
thời gian tới cần đầu tư cho đào tạo và đào tạo lạI, nâng cao tỷ lệ lao động qua
đào tạo lên trên 30% số lao động hiện có,trong đó chú trọng đào tạo nghề
công nghệ cao.
KẾT LUẬN
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và lưu
1
Chương 1: Quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trị trong
nền kinh tế hàng hoá mà đỉnh cao là kinh tế thị trường
2
1.1. Quy luật giá trị. 2
1.1.1. Nội dung của quy luật giá trị 2
1.1.2. Các hình thức chuyển hoá của quy luật giá trị 3
1.2. Vai trò của quy luật giá trị trong việc phát triển sản xuất hàng hoá 4
1.2. 1.Sản xuất hàng hoá 4
1.2.2.Vai trò của quy luật giá trị 4
1.2.2.1.Quy luật giá trị đIều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá
4
1.2.2.2.Quy luật giá trị kích thích cải tiếnkinh tế, hợp lý hoá sản xuất
nhằm tăng năng suất lao động
5
1.2.2.3.Quy luật giá trị phân hoá những người sản xuất hàng hoá
thành kẻ giàu người nghèo,làm phát sinh và phát triển quan hệ kinh tế
TBCN
6
1.3.Kinh tế thi trường. 6
1.3.1.Kinh tế thị trường là gì?Bản chất của nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam
6
1.3.2.Cơ chế thị trưòng
8
1.3.3.TÍNH CHẤT CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
9
Chương 2:Thưc trạng vận dụng quy luật giá trị vào nền kinh tế
nước ta thời gian qua và những giải pháp đề ra nhằm vận dụng
quy luật giá trị vào nền kinh tế Viêt Nam