TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ THỰC
TRẠNG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
2.1. Qúa trình hình thành và phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam
Trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế, phù hợp với các điều hiện kinh
tế-chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở
tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình TTCK trên thế giới, Việt Nam
đã quyết định thành lập TTCK với những đặc thù riêng biệt : về chủ trương, thành
lập 2 trung tâm giao dịch chứng khoán ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà nội (hiện
mới chỉ có Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã hoạt
động còn ở Hà Nội sẽ thành lập và vận hành giao dịch bảng II trong tương lai), sau
đó khi thị trường đã phát triển thì chuyển thành Sở Giao dịch chứng khoán.
Sự ra đời và phát triển của TTCK Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào
vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày
20/7/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên ngày 28/7/2000.
Mục tiêu cơ bản cho thời kỳ hoạt động ban đầu của TTCK Việt Nam theo chỉ
đạo của Bộ Chính trị và Chính phủ là xây dựng một TTCK với quy mô nhỏ, phát
triển từ thấp đến cao và không gây mất ổn định kinh tế-xã hội. Sau 4 năm hoạt
động, TTCK Việt Nam đã dần hình thành và từng bước phát triển, song cũng gặp
không ít khó khăn trở ngại. Đánh giá đầy đủ hoạt động của TTCK thời gian qua là
1 sự tổng kết cần thiết nhằm nhìn nhận lại thị trường để có những bước tiếp trong
tương lai.
2.1.1. Kết quả đạt được
+ Về hoạt động của thị trường : với chỉ có 2 công ty niêm yết vào năm 2000,
hiện nay TTCK đã có 24 công ty niêm yết với tổng giá trị vốn điều lệ là 1.240 tỷ
đồng, 147 loại trái phiếu Chính phủ, 2 loại trái phiếu của Ngân hàng Đầu tư phát
triển, 01 trái phiếu đô thị với tổng giá trị niêm yết trên 17.300 tỷ đồng. UNCKNN
đã cấp phép hoạt động cho 13 công ty chứng khoán, 01 công ty quản lý quỹ đầu tư
và 5 ngân hàng lưu ký. Năm 2004, quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên đã tiến hành
huy động vốn và bắt đầu hoạt động. Thị trường đã thu hút được các nhà đầu tư có
tổ chức và nhà đầu tư cá nhân trong và ngoài nước tham gia với 19.000 tài khoản
giao dịch, trong đó có 200 nhà đầu tư nước ngoài. Tinh đến hết tháng 8/2004, có
cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển thành thị trường phi tập trung phù hợp với
quy mô của TTCK. Cùng với việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các
TTGDCK, phát triển các trung gian tài chính, các tổ chức hỗ trợ thị trường như
Trung tâm lưu ký chứng khoán, tổ chức định mức tín nhiệm cũng đang được chuẩn
bị khẩn trương.
+ Về tổ chức bộ máy quản lý : Trước tháng 4/2004, UBCKNN là cơ quan
thuộc Chính phủ, tuy nhiên khuôn khổ pháp luật hiện hành không cho phép cơ
quan thuộc Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật, điều này đã gây
nhiều trở ngại trong công tác ban hành các văn bản pháp luật để quản lý thị trường.
Thực hiện cải cách hành chính nhà nước theo hướng Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh
vưc, Chính phủ đã ban hành Nghị định 66/2004/NĐ-CP ngày 19/2/2004 về việc
chuyển UBCKNN vào Bộ Tài chính và ngày 7/9/2004 Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành Quyết định 161/2004/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của UBCKNN thuộc Bộ Tài chính. Việc chuyển UBCKNN vào
Bộ Tài chính tạo điều kiện thống nhất trong hoạch định và thực hiện chính sách
phát triển thị trường vốn và thị trường chứng khoán, tạo điều kiện gắn kết giữa cổ
phần hóa doanh nghiệp Nhà nước với phát triển thị trường.
2.1.2. Những hạn chế
+ Hạn chế về cung chứng khoán : Số lượng hàng hóa còn ít ỏi và chất lượng
hàng hóa chưa cao. Phần lớn các công ty niêm yết là những doanh nghiệp Nhà
nước cổ phần hóa có quy mô nhỏ, không phải là doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực
kinh doanh hấp dẫn đầu tư. Một số công ty sau khi niêm yết đã bộc lộ những yếu
kém trong quản trị kinh doanh, đầu tư không có hiệu quả gây mất lòng tin của giới
đầu tư. Có thể nhận diện một số nguyên nhân chủ yếu sau :
- Sự bất cập của tiến trình cổ phần hóa : các doanh nghiệp CPH chủ yếu là
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khó khăn gặp phải là vấn đề trong định giá tài sản, xử lý
nợ quá hạn, hạn chế về năng lực và những tồn tại về mặt tư tưởng, nhận thức của
những người quản lý doanh nghiệp. Xét về mặt số lượng các doanh nghiệp cần
CPH thì việc thực hiện CPH mới chỉ đạt 63% kế hoạch đặt ra. Việc CPH cũng diễn
ra thiếu triệt để và xuất hiện hiện tượng Nhà nước hóa các công ty cổ phần, làm
của các công ty chứng khoán là những điểm yếu khiến cho các nhà đầu tư trong
nước cũng như nước ngoài coi việc đầu tư vào TTCK phần nào mang tính chất
mạo hiểm.
+ Hạn chế về mặt khuôn khổ pháp luật và năng lực hoạch định chính sách:
Trở ngại lớn nhất hiện nay là TTCK chưa có được một Luật chứng khoán toàn
diện và đầy đủ. Lĩnh vực chứng khoán và TTCK còn chịu sự điều chỉnh của các
văn bản pháp luật khác như Luật doanh nghiệp, Luật các Tổ chức tín dụng, Luật
kinh doanh bảo hiểm, Luật phá sản. Do vị thế pháp lý của Nghị định 144/CP thấp
hơn các Luật liên quan và môi trường pháp lý hiện hành còn chưa đầy đủ thì những
bất cập, xung đột giữa các văn bản pháp luật liên quan đến TTCK là điều khó tránh
khỏi. Khuôn khổ pháp lý thiếu đồng bộ, hay thay đổi khiến cho các nhà đầu tư
thiếu sự an tâm khi tham gia đầu tư trên TTCK. Điều này cho thấy sự cần thiết và
tầm quan trọng của việc xây dựng một Luật chứng khoán. Bên cạnh đó, năng lực
hoạch định chính sách và thực thi luật pháp cũng là một vấn đề cần tính đến. Đánh
giá một cách khách quan, UBCKNN và những cơ quan quản lý liên quan khác trên
thị trường vốn chưa có đủ năng lực cần thiết để thực hiện chức năng giám sát, quản
lý và cưỡng chế thực thi các chính sách trên TTCK một cách hiệu quả. Điều này
xuất phát từ thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý thị trường thiếu kinh nghiệm, khả
năng xây dựng và thực thi các chính sách thích hợp nhằm khuyến khích sự phát
triển của thị trường, thu hút và bảo vệ nhà đầu tư.
2.1.3. Nguyên nhân của hạn chế :
Thứ nhất, Đảng và Chính phủ chủ trương phát triển hệ thống thị trường tài
chính, trong đó có thị trường vốn, TTCK. Tuy nhiên trong điều hành thực tiễn thì
hệ thống thị trường bị chia cắt, chưa có một chiến lược phát triển thị trường tài
chính nói chung. Vì vậy, định hướng và giải pháp thực hiện thiếu đồng bộ, chưa coi
việc phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán là khâu đột phá trong chiến
lược phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam còn khó khăn, thu nhập của dân chúng thấp
(bình quân đầu người năm 2003 chỉ có 470 USD) chưa có chính sách phù hợp để
khai thác nguồn lực tài chính trong dân, nguồn vốn bị phân tán để đầu tư vào các
thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam – Ngân hàng của nhà nước dân chủ nhân
dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Tháng 7 năm 1976, đất nước được thống nhất, nước Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam ra đời. Theo đó, Ngân hàng Quốc gia ở Miền Nam được hợp nhầt
vào NHNN Việt Nam, tạo thành hệ thống Ngân hàng Nhà nước duy nhất của cả
nước. Hệ thống tổ chức thống nhất của NHNN bao gồm : Ngân hàng Trung ương
đặt trụ sở chính tại thủ đô Hà Nội, các Chi nhánh Ngân hàng tại các tỉnh, thành phố
và các chi điếm ngân hàng cơ sở tại các huyện, quận trên phạm vi cả nước.
Thời kỳ 1975-1985 : Là giai đoạn 10 năm khôi phục kinh tế sau chiến tranh
giải phóng và thống nhất nước nhà, là thời kỳ xây dựng hệ thống ngân hàng mới
của chính quyền cách mạng; tiến hành thiết lập hệ thống ngân hàng thống nhất
trong cả nước và thanh lý hệ thống ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam. Theo đó,
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của chính quyền Việt Nam cộng hoà (ở miền Nam)
đã được quốc hữu hóa và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
cùng thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước, phát hành các loại tiền
mới của nước CHXHCN Việt Nam, thu hồi các loại tiền cũ ở cả hai miền Nam-Bắc
vào năm 1978. Đến cuối những năm 80, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản
vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh
doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường. Sự thay đổi về chất trong hoạt động của
hệ thống ngân hàng – chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế thị trường chỉ được
bắt đầu khởi xướng từ cuối những năm 80, và kéo dài cho tới ngày nay.
Thời kỳ 1986 đến nay : Từ năm 1986 đến nay đã diễn ra nhiều sự kiện quan
trọng, đánh dấu sự chuyển biến căn bản của hệ thống Ngân hàng Việt Nam.
Từ năm 1986 đến năm 1990: Thực hiện tách dần chức năng quản lý Nhà nước
ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động ngân hàng sang
hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Cơ chế mới về hoạt động ngân hàng đã
được hình thành và hoàn thiện dần. Tháng 5/1990, hai pháp lệnh ngân hàng ra đời
(Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín
dụng và công ty tài chính) đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống
Ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp, trong đó lần đầu tiên đối tượng nhiệm vụ
hàng 1 cấp thành hệ thống ngân hàng 2 cấp (Ngân hàng Nhà nước và các ngân
hàng thưong mại), trong bối cảnh kinh tế nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Không phải đến hôm nay ngành ngân hàng mới đề cập đến 2 chữ “cổ phần”
mà nó đã có từ lâu, chính xác hơn là cách đây 14 năm kể từ khi Pháp lệnh Ngân
hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính ra đời năm 1990 (nay là Luật các tổ
chức tín dụng). Ngân hàng Nhà nước Việt nam đã tiến hành cấp phép cho loại hình
NHTMCP hoạt động từ thời điểm đó, với mô hình : “NHTMCP là NHTM được
thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó một cá nhân hoặc một tổ chức
không được sở hữu số cổ phần của ngân hàng quá tỷ lệ do NHNN quy định”.
Tháng 12 năm 1997 Luật các Tổ chức tín dụng ra đời, NHTMCP được quy
định là Ngân hàng cổ phần của Nhà nước và nhân dân. Có 2 loại hình NHTMCP
được thành lập theo các Pháp lệnh về Ngân hàng (bằng cách điều chỉnh từ tổ chức
tín dụng cũ hoặc thành lập mới) là NHTMCP đô thị (có trụ sở chính tại các đô thị
lớn) và NHTMCP nông thôn (có trụ sở đặt tại các thị trấn, thị tứ).
Ngay từ thời gian đầu năm 1990, ở nước ta đã có 15 NHTMCP. Trong vòng 5
năm sau, số NHTMCP ở nước ta đã lên tới 54 ngân hàng, trong đó có 33 NHTMCP
đô thị và 21 NHTMCP nông thôn.... Đó là một tốc độ mà không có bất kỳ một
nước nào trên thế giới có thể đạt được và một hệ thống NHTMCP được coi là trẻ
nhất trên thế giới, trong khi đó, số lượng NHTM quốc doanh lúc đó chỉ có 4 và vẫn
được giữ nguyên.
Theo quy định, bên cạnh chủ sở hữu là tổ chức Nhà nước (sở hữu phần vốn
của Nhà nước góp vào NHCP) thì NHTMCP còn có thể có nhiều chủ sở hữu khác
như các cá nhân người Việt Nam, người nước ngoài, các tổ chức ngoài quốc doanh,
các tổ chức nước ngoài. Nghĩa là, NHTMCP Việt Nam thuộc sở hữu cổ đông, trong
đó phải có cổ đông là tổ chức Nhà nước.
Trong thời gian đầu, cổ đông trong các NTHMCP chủ yếu là doanh nghiệp
nhà nước. Thời gian sau này các công ty tư nhân, công ty TNHH, hộ kinh doanh và
cá nhân chiếm tỷ trọng lớn hơn. Đây là lĩnh vực thể hiện rõ nhất chủ trương phát
các NHTMCP Việt nam đã được cải thiện trong mắt công chúng và cả trong hệ
thống ngân hàng. Đến cuối năm 2003, số lượng các NHTMCP sau cải tổ, cơ cấu lại
là 34 ngân hàng, trong đó có 22 NHTMCP đô thị và 12 NHTMCP nông thôn. Kết
quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP ngày càng có chiều hướng tích cực,
đặc biệt là tốc độ tăng vốn và lãi suất của cổ đông. Trong 2 năm trở lại đây, các
ngân hàng đều trong quá trình “thắt lưng buộc bụng” để tăng vốn điều lệ. Một số
đơn vị đã thành công với chiến lược tăng vốn của mình và trở thành những
NHTMCP hàng đầu như : Sacombank hiện có 505 tỷ đồng; ACB với 481 tỷ đồng.
Kế đến là NHCP xuất nhập khẩu Eximbank với 300 tỷ đồng, NHTMCP Quân dội
280 tỷ đồng, VIB 180 tỷ đồng.
Tính đến hết năm 2003 đã thực hiện được mục tiêu chính là xây dựng hệ
thống NHTMCP lành mạnh, có quy mô phù hợp hơn và có nhiều khả năng cạnh
tranh. Có thể nói, đến thời điểm này, các ngân hàng đã chuẩn bị sẵn sàng cho thời
kỳ hội nhập với các tổ chức thương mại quốc tế và thực hiện cam kết Hiệp định
thương mại Việt-Mỹ; theo đó, ngân hàng sẽ phải đối đầu với những cạnh tranh gay
gắt.
Sự ra đời của các NHTMCP mới là bước tiến lớn của hệ thống NHTM Việt
Nam. Lần đầu tiên các ngân hàng đã có sự cạnh tranh và nỗ lực để đạt hiệu quả
kinh tế tốt hơn. Sau gần 14 năm hoạt động, hệ thống NHTMCP đã trải qua những
thăng trầm để tồn tại, ngày càng được hoàn thiện và không ngừng phát triển, đồng
thời khẳng định vai trò, vị trí của mình trong hệ thống Ngân hàng, góp phần tích
cực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.